Thứ bảy 14/03/2026 09:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về thu hồi đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Thu hồi đất là một hoạt động quan trọng trong công tác quản lý đất đai. Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã tạo khung pháp lý vững chắc để điều chỉnh vấn đề trên. Tuy nhiên, một số quy định hiện hành vẫn còn có hạn chế khiến cho hoạt động thu hồi đất chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thu hồi đất là vấn đề cấp thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả tập trung phân tích làm rõ một số vấn đề còn hạn chế, bất cập trong quy định và thực thi pháp luật về thu hồi đất, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện vấn đề này trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Abstract: Within the scope of the article, the authors focus on analyzing and clarifying a number of shortcomings and inadequacies in regulations and law enforcement on land recovery, thereby making some recommendations to improve this problem in the Draft Land Law (amended).

Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014 cùng các văn bản hướng dẫn đã tạo nên khung pháp lý vững chắc, tác động tích cực đến mọi mặt đời sống, xã hội, trong đó có vấn đề về thu hồi đất. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2013 đã góp phần định hướng giải quyết những khía cạnh pháp lý về thu hồi đất. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, Luật Đất đai năm 2013 đã bộc lộ một số bất cập nhất định. Do đó, vấn đề hoàn thiện chính sách, pháp luật về thu hồi đất là một yêu cầu tất yếu.

1. Thực trạng pháp luật về thu hồi đất

Về khái niệm, theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong ba trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Đất đai năm 2013: (i) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; (ii) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; (iii) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 cũng dành những điều luật riêng để quy định về từng trường hợp thu hồi đất: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61); Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 62); Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (Điều 64); Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe doạ tính mạng con người (Điều 65).

Luật Đất đai năm 2013 đã có những tác động tích cực trong việc hoàn thiện khung pháp lý về đất đai ở nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, các quy định hiện hành còn tồn tại một số hạn chế nhất định, thể hiện ở những khía cạnh sau:

Một là, quy định về quy trình xác định giá đất cụ thể còn bất cập. Theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013, “nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”. Đây là một điểm tiến bộ của Luật Đất đai năm 2013 so với Luật Đất đai năm 2003. Giá đất cụ thể mang tính chất áp dụng một lần, cho từng đối tượng và trong từng trường hợp cụ thể giúp cho giá đất bồi thường cho người sử dụng đất phù hợp hơn, sát với giá thị trường tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất[1]. Tuy nhiên, khi thực thi, quy định này đã bộc lộ bất cập. Theo khoản 3 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013, trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh “được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể”. Tổ chức có chức năng tư vấn là những tổ chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, giúp cho việc xác định giá đất cụ thể chính xác và có cơ sở. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, pháp luật không ràng buộc trách nhiệm của cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trong việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện quy định trên. Quy định trên không mang tính bắt buộc mà trao cho cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh việc lựa chọn. Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc quy định theo hướng bắt buộc trong trường hợp này là cần thiết và bảo đảm lợi ích của các bên. Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Chủ tịch Hội đồng thẩm định giá đất, đồng thời ký quyết định phê duyệt giá đất. Quy định này dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, thiếu sự tách bạch và không bảo đảm khách quan trong hoạt động quản lý nhà nước.

Hai là, quy định về căn cứ xác định giá đất cụ thể chưa thực sự hợp lý. Theo quy định tại khoản 3 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013, “việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp”. Quy định này chưa thực sự giải quyết được vấn đề lợi ích giữa các chủ thể. Cụ thể, trường hợp loại đất lúc thu hồi là đất nông nghiệp nhưng sau khi thu hồi, trao cho chủ đầu tư chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp thì khi đó sẽ có sự chênh lệch lớn giữa giá đất nông nghiệp với giá đất phi nông nghiệp.

Ba là, việc hỗ trợ, tái định cư có nơi chưa bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi và chủ đầu tư. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm các khoản theo quy định tại khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện những chính sách này chưa thực sự hiệu quả. Chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm rất khó thực hiện vì những lý do như khả năng giải quyết việc làm cho những người bị thu hồi đất của mỗi địa phương là khác nhau, có những địa phương không thể bảo đảm giải quyết được cho tất cả các đối tượng. Mặt khác, những ngành nghề mà địa phương đào tạo có thể không phù hợp với tất cả mọi người, dẫn đến tình trạng nhiều người sử dụng đất sau khi bị thu hồi không có việc làm, không có thu nhập để sinh sống. Ngoài ra, chính sách tái định cư trong một số trường hợp còn thực hiện chậm, chưa được quan tâm đúng mức, nhiều khu tái định cư cho người bị thu hồi đất còn kém chất lượng, xuống cấp trong thời gian ngắn[2].

2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thu hồi đất

Các quy định pháp luật hiện hành đã có những tác động tích cực đến công tác thu hồi đất. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, yêu cầu về việc hoàn thiện quy định về thu hồi đất được đặt ra, cụ thể:

Thứ nhất, bổ sung quy định theo hướng bắt buộc cơ quan quản lý đất đai thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất trong quá trình xác định giá đất cụ thể cũng như chế tài đặt ra khi không thực hiện thủ tục này. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền cũng cần xem xét sửa đổi quy định theo hướng thay thế vai trò của Chủ tịch Hội đồng thẩm định giá bằng một chủ thể khác thay vì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định hiện hành nhằm bảo đảm tính khách quan và minh bạch trong hoạt động thu hồi đất.

Hiện tại, tại khoản 2 và khoản 3 Điều 156 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định Chủ tịch Hội đồng thẩm định giá đối với giá đất cụ thể cấp tỉnh là Giám đốc Sở Tài chính, ở cấp huyện là lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện. Quy định này đã phần nào khắc phục được bất cập nêu trên. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 154 và điểm c khoản 2 Điều 155 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), vấn đề thuê tổ chức có chức năng tư vấn vẫn chưa được quy định theo hướng ràng buộc trách nhiệm đối với cơ quan quản lý đất đai. Theo quan điểm của nhóm tác giả, cơ quan lập pháp cần điều chỉnh quy định trên theo hướng bắt buộc.

Thứ hai, bổ sung căn cứ để xác định giá đất, cụ thể là lấy ý kiến từ phía những người sử dụng đất trực tiếp bị ảnh hưởng. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền cũng cần quy định rõ về trình tự, thủ tục lấy ý kiến. Điều này giúp bảo đảm được lợi ích của người sử dụng đất, hạn chế việc người sử dụng đất không đồng ý với mức giá đất để tính tiền bồi thường, thể hiện rõ nguyên tắc “dân là chủ và dân làm chủ”. Hiện tại, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn chưa thể hiện rõ điều này, vì vậy, cần thiết nghiên cứu, xem xét để bổ sung.

Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức bồi thường phù hợp với nhu cầu của người có đất thu hồi và điều kiện cụ thể của từng địa phương như bồi thường bằng tiền, bồi thường bằng đất khác mục đích thu hồi, bồi thường bằng nhà[3]…

Thứ tư, pháp luật cần quy định rõ, nếu đất mà người nông dân vẫn đang sử dụng và không có phương án cụ thể về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề thì không được phép thu hồi. Mặt khác, cũng cần quy định rõ ràng về thời hạn mà các chủ dự án phải hoàn thành việc triển khai giải phóng mặt bằng.

Nhận thấy những bất cập trên, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã bổ sung một số quy định có phần tiến bộ hơn. Cụ thể, khoản 2 Điều 89 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định: “Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm người có đất bị thu hồi có chỗ ở, đảm bảo cuộc sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” và “việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải thực hiện trước khi có quyết định thu hồi đất”.

Thứ năm, bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý, vấn đề nâng cao hiệu quả thực thi cũng cần được chú trọng, cụ thể:

- Chú trọng, tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật về hoạt động thu hồi đất cho người dân. Đa dạng hình thức tuyên truyền như đăng tải trên các website, đài phát thanh - truyền hình của trung ương và địa phương, các băng rôn, khẩu hiệu… Đồng thời, cần thu thập, lấy ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của người dân trong các trường hợp cần thiết.

- Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức tại cơ quan quản lý đất đai các cấp thông qua hoạt động tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ. Đồng thời, tổ chức các hội thảo để tham khảo ý kiến từ chuyên gia đầu ngành nhằm hoạch định những chính sách cần thiết.

- Các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nghiêm chỉnh và thường xuyên hoạt động kiểm tra, thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về thu hồi đất. Nội dung chủ yếu của hoạt động thanh tra là: Hoạt động thu hồi đất có đúng thẩm quyền, mục đích hay không; hoạt động bồi thường, hỗ trợ có đúng quy định của pháp luật và thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của người sử dụng đất hay không; hoạt động tái định cư có bảo đảm chất lượng hay không, đặc biệt là chất lượng về nhà tái định cư… Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương, địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động kiểm tra, thanh tra nhằm xử lý kịp thời vụ việc vi phạm xảy ra trên địa bàn thuộc thẩm quyền quản lý.

Tóm lại, thu hồi đất là một hoạt động quan trọng trong công tác quản lý đất đai. Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã tạo khung pháp lý vững chắc để điều chỉnh vấn đề trên. Tuy nhiên, một số quy định hiện hành vẫn còn có hạn chế khiến cho hoạt động thu hồi đất chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thu hồi đất là vấn đề cấp thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên.

ThS. Trịnh Tường Khiêm

Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật Hồ Chí Minh

[1]. Bùi Thị Hồng Nhung, “Hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”, http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211060/Hoan-thien-quy-dinh-ve-boi-thuong—ho-tro—tai-dinh-cu-khi-nha-nuoc-thu-hoi-dat.html, truy cập ngày 02/3/2023.

[2]. Nguyễn Thị Bình, Doãn Hồng Nhung, “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”, https://giaoducvaxahoi.vn/giao-duc-dao-tao/m-t-s-y-ki-n-hoan-thi-n-phap-lu-t-v-b-i-thu-ng-h-tr-tai-d-nh-cu-khi-nha-nu-c-thu-h-i-d-t.html, truy cập ngày 02/3/2023.

[3]. Tổng Cục quản lý đất đai, “Định hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả về quản lý, sử dụng đất đai...”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2609, truy cập ngày 02/3/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 379), tháng 4/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: