Thứ sáu 23/01/2026 11:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về các tình tiết giảm nhẹ trong pháp luật hình sự Việt Nam

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi và khả năng cải tạo giáo dục của bị cáo, là một trong những căn cứ quan trọng để cơ quan, người tiến hành tố tụng có cái nhìn toàn diện khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nó không có ý nghĩa trong việc định tội và định khung hình phạt, mà chỉ có ý nghĩa trong việc lượng hình.

Việc ghi nhận quy định này trong Bộ luật Hình sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Bởi vì, nó không những chỉ thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự mà còn đáp ứng được các yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong áp dụng pháp luật đối với người phạm tội. Thông qua bài viết, tác giả làm rõ những bất cập, vướng mắc trong việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật. Trong đó, đề xuất một vụ án có áp dụng “chính sách hình sự đặc biệt” để phát triển thành án lệ.

1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) là thuật ngữ khá phổ biến trong pháp luật hình sự và có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn trong quyết định hình phạt. Việc quy định và áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS là thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là đối với những người có nhiều thành tích trong chiến đấu, học tập và công tác; những người có công với cách mạng và thân nhân của họ; thể hiện tính khách quan, mềm dẻo, linh hoạt trong quá trình giải quyết vụ án; khuyến khích người phạm tội thành khẩn khai báo, thành khẩn hối lỗi trước hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, các Bộ luật Hình sự cũng như các văn bản pháp luật hình sự khác từ trước đến nay chưa có khái niệm cụ thể về tình tiết giảm nhẹ TNHS. Trong khoa học pháp lý cũng tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn đề này và chưa có sự thống nhất, đồng bộ để đưa ra một khái niệm được áp dụng chung. Thực tiễn cho thấy, tình tiết giảm nhẹ TNHS có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, những tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được quy định với tính cách là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt của một số tội phạm cụ thể, thì trong quá trình xét xử, Tòa án không được xem xét nó như là tình tiết giảm nhẹ chung được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nghĩa là, một tình tiết giảm nhẹ cho dù biểu hiện dưới hình thức nào, cũng không thể áp dụng hai lần cho một trường hợp phạm tội cụ thể.
Hai là, tình tiết giảm nhẹ TNHS chỉ là căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem xét việc áp dụng hình phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tội.
Ba là, pháp luật hiện nay không quy định cụ thể sự hiện diện của tình tiết giảm nhẹ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc quyết định hình phạt, sự hiện hữu của tình tiết nào thì được giảm trách nhiệm hình đến đâu, điều đó phụ thuộc vào sự xem xét và cân nhắc của Tòa án.
Bốn là, các tình tiết giảm nhẹ TNHS không cụ thể, rõ ràng, mà nó chỉ là sự việc nhỏ xuất hiện trong quá trình xét xử, điều tra, truy tố, cho nên, ngoài khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và các tình tiết được quy định tại điểm c, mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Tòa án nhân dân tối cao, thì trong quá trình xét xử từng vụ án cụ thể, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ.
Năm là, mức độ ảnh hưởng của mỗi tình tiết giảm nhẹ TNHS đến việc quyết định hình phạt của Tòa án là không giống nhau, không phải lúc nào cũng như án lệ, tình tiết đó, sự kiện giống vậy là khung hình phạt giống nhau. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa pháp lý, xã hội, chính trị không đồng đều nhau, có tình tiết ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt và đối với mọi trường hợp phạm tội, nhưng có tình tiết lại ảnh hưởng ít hơn. Không những thế, cùng một tình tiết giảm nhẹ TNHS, nhưng có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với những tội khác nhau.
2. Một số bất cập khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Nghiên cứu, áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện nay cho thấy, các quy định về tình tiết giảm nhẹ chưa cụ thể, nên có cách hiểu không thống nhất.
Thứ nhất, về tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51.Trường hợp bị cáo đã khai hết toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội nhưng họ cho rằng, hành vi của họ không phạm tội, thì có thẩm phán không áp dụng tình tiết “thành khẩn khai báo” là không chính xác, bởi lẽ, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ sự việc, nhưng do nhận thức về pháp luật nên bị cáo không hiểu hành vi của mình là phạm tội. Thành khẩn khai báo phải được hiểu là không khai gian dối điều gì có liên quan đến hành vi phạm tội. Có trường hợp tại phiên tòa, bị cáo không khai báo trung thực mà phải đấu tranh, dùng mọi biện pháp, nghiệp vụ đến lúc bị cáo thấy không thể chối cãi được mới nhận tội nhưng vẫn áp dụng tình tiết “thành khẩn khai báo” có phù hợp không. Hay người phạm tội bị bắt quả tang, chứng cứ rõ ràng, bị cáo không thể chối tội mà phải khai ra, thì có áp dụng tình tiết này không. Quan điểm của hầu hết thẩm phán là vẫn áp dụng có lợi cho bị cáo và căn cứ vào mức độ thành khẩn đến đâu, thời điểm nào để áp dụng hình phạt cho tương xứng.
Thứ hai, về tình tiết “phạm tội do lạc hậu” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 51. Việc xác định nguyên nhân của nhận thức lạc hậu còn chưa có quy định rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng chưa chặt chẽ và thiếu tính thuyết phục. Chưa có sự phân biệt rạch ròi trong mối quan hệ giữa nhận thức lạc hậu và hành vi phạm tội. Ví dụ: Trong vụ án giết người, A cũng là người đồng bào dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp, sinh sống ở vùng có điều kiện khó khăn. Qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện được thủ đoạn giết người của A rất tinh vi. Đối với trường hợp này, Tòa án áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội do lạc hậu” là không chính xác, bởi vì, xét trong mối quan hệ giữa nhận thức lạc hậu và hành vi phạm tội có sự không đồng nhất. Nếu A thật sự có nhận thức lạc hậu thì rõ ràng nhận thức đó không thể điều khiển A thực hiện hành vi phạm tội một cách tinh vi như vậy. Nên xác định lý do vì trình độ học vấn thấp, dẫn đến nhận thức lạc hậu là không chính xác.
Thứ ba, về tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51. Do điều luật không quy định mức độ bồi thường nên có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, bồi thường một phần dù nhỏ vẫn áp dụng tình tiết này; có quan điểm lại cho rằng, phải bồi thường đáng kể mới áp dụng tình tiết này; lại có quan điểm cho rằng, nếu bị cáo đã bán hết tài sản nhưng cũng chỉ bồi thường được một phần rất nhỏ so với hậu quả xảy ra thì cũng phải áp dụng. Trên thực tế hiện nay, nhiều vụ án gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng, như vậy, nếu bị cáo bồi thường vài triệu mà được áp dụng điểm b thì không thỏa đáng. Vấn đề này còn phải tùy thuộc vào mức thiệt hại, khả năng kinh tế của bị cáo, nếu bị cáo đã bán hết tài sản để bồi thường được một phần rất nhỏ thì nên xem xét áp dụng tình tiết “ăn năn, hối cải” mà không áp dụng tình tiết bồi thường thì hợp lý hơn không. Có trường hợp tài sản trộm cắp đã được bị cáo trả lại sau khi chiếm đoạt, có quan điểm cho rằng, đây không phải là tiền bồi thường, nên không áp dụng tình tiết “tự nguyện bồi thường” là đúng, nên chăng áp dụng tình tiết “khắc phục hậu quả” cho bị cáo.
Thứ tư, về tình tiết “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51.Có ý kiến đặt ra rằng, trong tội giết người mà người bị giết không chết, hiếp dâm nhưng chưa giao cấu được, thì có được áp dụng tình tiết “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” không? Trên thực tế, hậu quả trên dù chưa xảy ra hoặc hậu quả không lớn thì vẫn được áp dụng tội danh tương ứng. Tuy nhiên, những tội cấu thành hình thức như tội “cướp”, “hiếp” còn phải xem xét đến hậu quả về tinh thần, tính mạng, sức khỏe và hậu quả cho xã hội như thế nào để xem xét áp dụng.
Thứ năm, về tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51. Vấn đề đặt ra là bị cáo chưa phạm tội lần nào, có nhân thân tốt, tuy nhiên, lần này bị cáo phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, nhưng bị cáo phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm, thì có được áp dụng tình tiết này không. Qua thực tiễn xét xử, rất ít thẩm phán áp dụng tình tiết này trong trường hợp cụ thể nói trên. Vì vậy, cũng cần nêu ra để đánh giá thống nhất hơn thế nào là “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”.
Thứ sáu, theo khoản 2 Điều 51, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi “đầu thú” là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Như vậy, sau khi người phạm tội biết rằng việc mình phạm tội không thể che giấu và trốn tránh nên đến cơ quan công an để khai báo sự việc, lúc này, Công an sẽ tiến hành lập biên bản về việc người phạm tội đầu thú. Người phạm tội sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51. Đây là chính sách nhân đạo của Nhà nước trong việc áp dụng pháp luật hình sự đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho họ được hưởng những tình tiết có lợi nhất. Nhưng thực tiễn xét xử cũng gặp bất cập trong việc áp dụng khi trong cùng một vụ án, có bị cáo được áp dụng, có bị cáo không được áp dụng.
Ví dụ: A và B cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản. A dùng xe máy chở B đi để tìm kiếm nhà nào sơ hở thì trộm cắp. Khi đến nhà ông C, A vào nhà để trộm cắp, còn B đứng ngoài cảnh giới. Khi bị phát hiện, A bị bắt giữ còn B trốn thoát. Vụ án được khởi tố, điều tra theo đúng trình tự. Vì B là đồng phạm trong vụ án nhưng B bỏ trốn, nên cơ quan điều tra đã mất nhiều thời gian và xác minh nhiều lần. Hai tháng sau, vì biết không thể trốn tránh, nên B đến đầu thú tại cơ quan điều tra. Khi xét xử, ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà A và B được hưởng theo nội dung vụ án, thì B còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ là đầu thú theo khoản 2 Điều 51. Như vậy, trong trường hợp bị cáo A có những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 giống với B và có tình tiết khác quy định tại khoản 2 Điều 51 thì hội đồng xét xử xem xét cân nhắc hình phạt theo vai trò của từng bị cáo. Nhưng trong trường hợp A không có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 mà B lại được hưởng tình tiết đầu thú theo khoản 2 Điều 51 trong khi B bỏ trốn và cơ quan tố tụng mất nhiều thời gian để xác minh, truy nã (nếu có). Như vậy khi áp dụng để cân nhắc hình phạt thì B lại có lợi hơn A.
3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Thứ nhất, cần sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng bổ sung quy định giải thích thuật ngữ và hướng dẫn tiêu chí xác định cụ thể đối với các tình tiết giảm nhẹ chưa được quy định rõ ràng nhằm tạo khung pháp lý vững chắc cho việc áp dụng các tình tiết này, tránh tình trạng áp dụng pháp luật tùy tiện trong thực tiễn. Cụ thể:
(i) Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành cần có quy định rõ ràng về nguyên nhân và điều kiện để xác định một người là có nhận thức lạc hậu, trong đó, nguyên nhân của nhận thức lạc hậu phải là khách quan, như không được học tập, không có những điều kiện thực tế để nhận biết được giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu. Thực tế, có rất nhiều đối tượng mặc dù có điều kiện để học tập nhưng không học, có điều kiện để tiếp thu những tiến bộ xã hội nhưng bảo thủ không tiếp thu… những đối tượng này cần thiết phải nghiêm trị theo đúng quy định của pháp luật.
(ii) Điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành cần có hướng dẫn về việc xác định thiệt hại không lớn cần dựa vào mức độ thiệt hại xảy ra trên thực tế cho người bị thiệt hại và cho xã hội (cả thiệt hại vật chất, thể chất, tinh thần), các quy định cụ thể của từng loại tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm trong từng trường hợp cụ thể. Riêng thiệt hại về tinh thần thì nên hạn chế áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm h khoản 1 Điều 51 và chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này khi thiệt hại đó không ảnh hưởng đến hoạt động, sinh hoạt bình thường của người bị thiệt hại. Việc xác định thiệt xảy ra không lớn không phụ thuộc vào loại tội mà người phạm tội vi phạm, không phụ thuộc đó là tội phạm cấu thành vật chất hay cấu thành hình thức, mà có thể chỉ ít nhiều phụ thuộc vào tính chất của tội phạm là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng mà thôi.
(iii) Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể, thống nhất cách hiểu hai trường hợp này để làm rõ: Như thế nào là “bị phát hiện” (ai là người phát hiện - có loại trừ đồng phạm, bị can khác trong vụ án hoặc người thân thích không? Mức độ “phát hiện” có phải là biết rõ hoặc có thông tin tương đối cụ thể, xác thực về căn cước, lai lịch người phạm tội không? Nếu đã biết rõ danh tính và hành vi cụ thể mà cố tình trốn tránh rồi mới ra trình diện thì áp dụng như thế nào so với người trình diện ngay sau khi bị phát hiện nhằm tạo sự công bằng hơn trong việc áp dụng hình phạt đối với trường hợp có đồng phạm...
Thứ hai, cần xây dựng án lệ về các trường hợp áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Án lệ đã bổ sung giúp cho luật thành văn trở nên gắn liền với thực tiễn hơn bao giờ hết. Khi xảy ra tranh chấp, các Tòa án có cơ sở để xét xử dựa trên một khuôn khổ đã có, những khuôn khổ này nếu không được sử dụng trong phán quyết thì cũng là một nguồn tài liệu tham khảo rất có ích. Việc áp dụng án lệ ngoài ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể còn thiết lập ra một tiền lệ để giải quyết những vụ án tương tự sau này, do đó, sẽ tạo bình đẳng trong việc xét xử các vụ án giống nhau, giúp tiên lượng được kết quả của các vụ tranh chấp, tiết kiệm công sức của các thẩm phán, người tham gia tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, tạo ra sự công bằng trong xã hội.

TS. Nguyễn Trọng Tuấn
Phạm Thị Mai
Khoa Luật, Đại học Nguyễn Tất Thành

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.
Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự trong giai đoạn mới

Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội, hoạt động TTTP về dân sự đòi hỏi có những bước phát triển mới phù hợp với bối cảnh, điều kiện và tình hình mới trong nước và quốc tế.
Điểm mới tại dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự kỳ vọng giải quyết nhiều vướng mắc, bất cập hiện nay

Điểm mới tại dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự kỳ vọng giải quyết nhiều vướng mắc, bất cập hiện nay

Sáng ngày 27/10/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của 04 dự thảo: Luật Dẫn độ; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Tương trợ tư pháp về dân sự. Trong đó có nhiều điểm mới quan trọng góp phần giải quyết những vướng mắc, bất cập trong hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự.
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, hệ thống pháp luật Việt Nam cần phải đáp ứng các yêu cầu cốt lõi, mang tính chiến lược nhằm phát huy tối đa vai trò của pháp luật trong sự phát triển của đất nước.
Hoàn thiện pháp luật về hình sự, hành chính, tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về hình sự, hành chính, tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra những yêu cầu mới, mang tính nền tảng và chiến lược đối với công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để tạo động lực cho sự phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước, làm tiền đề vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển bứt phá, giàu mạnh, hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng thì hoàn thiện pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật hình sự, hành chính và tổ chức bộ máy nói riêng là yêu cầu tất yếu.
Phát huy truyền thống - Bộ, ngành Tư pháp tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy truyền thống - Bộ, ngành Tư pháp tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Từ những ngày đầu kiến tạo nền Tư pháp dân chủ Nhân dân cho đến nay, chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp có những thay đổi và bước phát triển thăng trầm khác nhau nhưng về cơ bản, với hệ thống tổ chức đồng bộ từ trung ương đến địa phương, vị thế, vai trò của Bộ, ngành Tư pháp ngày càng được khẳng định, xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển nền Tư pháp Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, bảo vệ biên giới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.
Sửa đổi Luật Viên chức hướng tới xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, phục vụ Nhân dân

Sửa đổi Luật Viên chức hướng tới xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, phục vụ Nhân dân

Dự thảo Luật Viên chức (sửa đổi) được Bộ Nội vụ xây dựng có nhiều điểm mới quan trọng hướng tới mô hình quản trị chuyên nghiệp, hiện đại trong đơn vị sự nghiệp; xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, có trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, năng động, phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài viết "Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới" trong ấn phẩm 200 trang "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong giai đoạn mới" xuất bản tháng 7/2025.

Theo dõi chúng tôi trên: