Thứ hai 20/07/2026 16:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về các tình tiết giảm nhẹ trong pháp luật hình sự Việt Nam

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi và khả năng cải tạo giáo dục của bị cáo, là một trong những căn cứ quan trọng để cơ quan, người tiến hành tố tụng có cái nhìn toàn diện khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nó không có ý nghĩa trong việc định tội và định khung hình phạt, mà chỉ có ý nghĩa trong việc lượng hình.

Việc ghi nhận quy định này trong Bộ luật Hình sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Bởi vì, nó không những chỉ thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự mà còn đáp ứng được các yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong áp dụng pháp luật đối với người phạm tội. Thông qua bài viết, tác giả làm rõ những bất cập, vướng mắc trong việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật. Trong đó, đề xuất một vụ án có áp dụng “chính sách hình sự đặc biệt” để phát triển thành án lệ.

1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) là thuật ngữ khá phổ biến trong pháp luật hình sự và có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn trong quyết định hình phạt. Việc quy định và áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS là thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là đối với những người có nhiều thành tích trong chiến đấu, học tập và công tác; những người có công với cách mạng và thân nhân của họ; thể hiện tính khách quan, mềm dẻo, linh hoạt trong quá trình giải quyết vụ án; khuyến khích người phạm tội thành khẩn khai báo, thành khẩn hối lỗi trước hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, các Bộ luật Hình sự cũng như các văn bản pháp luật hình sự khác từ trước đến nay chưa có khái niệm cụ thể về tình tiết giảm nhẹ TNHS. Trong khoa học pháp lý cũng tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn đề này và chưa có sự thống nhất, đồng bộ để đưa ra một khái niệm được áp dụng chung. Thực tiễn cho thấy, tình tiết giảm nhẹ TNHS có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, những tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được quy định với tính cách là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt của một số tội phạm cụ thể, thì trong quá trình xét xử, Tòa án không được xem xét nó như là tình tiết giảm nhẹ chung được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nghĩa là, một tình tiết giảm nhẹ cho dù biểu hiện dưới hình thức nào, cũng không thể áp dụng hai lần cho một trường hợp phạm tội cụ thể.
Hai là, tình tiết giảm nhẹ TNHS chỉ là căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem xét việc áp dụng hình phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tội.
Ba là, pháp luật hiện nay không quy định cụ thể sự hiện diện của tình tiết giảm nhẹ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc quyết định hình phạt, sự hiện hữu của tình tiết nào thì được giảm trách nhiệm hình đến đâu, điều đó phụ thuộc vào sự xem xét và cân nhắc của Tòa án.
Bốn là, các tình tiết giảm nhẹ TNHS không cụ thể, rõ ràng, mà nó chỉ là sự việc nhỏ xuất hiện trong quá trình xét xử, điều tra, truy tố, cho nên, ngoài khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và các tình tiết được quy định tại điểm c, mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Tòa án nhân dân tối cao, thì trong quá trình xét xử từng vụ án cụ thể, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ.
Năm là, mức độ ảnh hưởng của mỗi tình tiết giảm nhẹ TNHS đến việc quyết định hình phạt của Tòa án là không giống nhau, không phải lúc nào cũng như án lệ, tình tiết đó, sự kiện giống vậy là khung hình phạt giống nhau. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa pháp lý, xã hội, chính trị không đồng đều nhau, có tình tiết ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt và đối với mọi trường hợp phạm tội, nhưng có tình tiết lại ảnh hưởng ít hơn. Không những thế, cùng một tình tiết giảm nhẹ TNHS, nhưng có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với những tội khác nhau.
2. Một số bất cập khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Nghiên cứu, áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện nay cho thấy, các quy định về tình tiết giảm nhẹ chưa cụ thể, nên có cách hiểu không thống nhất.
Thứ nhất, về tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51.Trường hợp bị cáo đã khai hết toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội nhưng họ cho rằng, hành vi của họ không phạm tội, thì có thẩm phán không áp dụng tình tiết “thành khẩn khai báo” là không chính xác, bởi lẽ, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ sự việc, nhưng do nhận thức về pháp luật nên bị cáo không hiểu hành vi của mình là phạm tội. Thành khẩn khai báo phải được hiểu là không khai gian dối điều gì có liên quan đến hành vi phạm tội. Có trường hợp tại phiên tòa, bị cáo không khai báo trung thực mà phải đấu tranh, dùng mọi biện pháp, nghiệp vụ đến lúc bị cáo thấy không thể chối cãi được mới nhận tội nhưng vẫn áp dụng tình tiết “thành khẩn khai báo” có phù hợp không. Hay người phạm tội bị bắt quả tang, chứng cứ rõ ràng, bị cáo không thể chối tội mà phải khai ra, thì có áp dụng tình tiết này không. Quan điểm của hầu hết thẩm phán là vẫn áp dụng có lợi cho bị cáo và căn cứ vào mức độ thành khẩn đến đâu, thời điểm nào để áp dụng hình phạt cho tương xứng.
Thứ hai, về tình tiết “phạm tội do lạc hậu” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 51. Việc xác định nguyên nhân của nhận thức lạc hậu còn chưa có quy định rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng chưa chặt chẽ và thiếu tính thuyết phục. Chưa có sự phân biệt rạch ròi trong mối quan hệ giữa nhận thức lạc hậu và hành vi phạm tội. Ví dụ: Trong vụ án giết người, A cũng là người đồng bào dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp, sinh sống ở vùng có điều kiện khó khăn. Qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện được thủ đoạn giết người của A rất tinh vi. Đối với trường hợp này, Tòa án áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội do lạc hậu” là không chính xác, bởi vì, xét trong mối quan hệ giữa nhận thức lạc hậu và hành vi phạm tội có sự không đồng nhất. Nếu A thật sự có nhận thức lạc hậu thì rõ ràng nhận thức đó không thể điều khiển A thực hiện hành vi phạm tội một cách tinh vi như vậy. Nên xác định lý do vì trình độ học vấn thấp, dẫn đến nhận thức lạc hậu là không chính xác.
Thứ ba, về tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51. Do điều luật không quy định mức độ bồi thường nên có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, bồi thường một phần dù nhỏ vẫn áp dụng tình tiết này; có quan điểm lại cho rằng, phải bồi thường đáng kể mới áp dụng tình tiết này; lại có quan điểm cho rằng, nếu bị cáo đã bán hết tài sản nhưng cũng chỉ bồi thường được một phần rất nhỏ so với hậu quả xảy ra thì cũng phải áp dụng. Trên thực tế hiện nay, nhiều vụ án gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng, như vậy, nếu bị cáo bồi thường vài triệu mà được áp dụng điểm b thì không thỏa đáng. Vấn đề này còn phải tùy thuộc vào mức thiệt hại, khả năng kinh tế của bị cáo, nếu bị cáo đã bán hết tài sản để bồi thường được một phần rất nhỏ thì nên xem xét áp dụng tình tiết “ăn năn, hối cải” mà không áp dụng tình tiết bồi thường thì hợp lý hơn không. Có trường hợp tài sản trộm cắp đã được bị cáo trả lại sau khi chiếm đoạt, có quan điểm cho rằng, đây không phải là tiền bồi thường, nên không áp dụng tình tiết “tự nguyện bồi thường” là đúng, nên chăng áp dụng tình tiết “khắc phục hậu quả” cho bị cáo.
Thứ tư, về tình tiết “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51.Có ý kiến đặt ra rằng, trong tội giết người mà người bị giết không chết, hiếp dâm nhưng chưa giao cấu được, thì có được áp dụng tình tiết “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” không? Trên thực tế, hậu quả trên dù chưa xảy ra hoặc hậu quả không lớn thì vẫn được áp dụng tội danh tương ứng. Tuy nhiên, những tội cấu thành hình thức như tội “cướp”, “hiếp” còn phải xem xét đến hậu quả về tinh thần, tính mạng, sức khỏe và hậu quả cho xã hội như thế nào để xem xét áp dụng.
Thứ năm, về tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51. Vấn đề đặt ra là bị cáo chưa phạm tội lần nào, có nhân thân tốt, tuy nhiên, lần này bị cáo phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, nhưng bị cáo phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm, thì có được áp dụng tình tiết này không. Qua thực tiễn xét xử, rất ít thẩm phán áp dụng tình tiết này trong trường hợp cụ thể nói trên. Vì vậy, cũng cần nêu ra để đánh giá thống nhất hơn thế nào là “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”.
Thứ sáu, theo khoản 2 Điều 51, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi “đầu thú” là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Như vậy, sau khi người phạm tội biết rằng việc mình phạm tội không thể che giấu và trốn tránh nên đến cơ quan công an để khai báo sự việc, lúc này, Công an sẽ tiến hành lập biên bản về việc người phạm tội đầu thú. Người phạm tội sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51. Đây là chính sách nhân đạo của Nhà nước trong việc áp dụng pháp luật hình sự đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho họ được hưởng những tình tiết có lợi nhất. Nhưng thực tiễn xét xử cũng gặp bất cập trong việc áp dụng khi trong cùng một vụ án, có bị cáo được áp dụng, có bị cáo không được áp dụng.
Ví dụ: A và B cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản. A dùng xe máy chở B đi để tìm kiếm nhà nào sơ hở thì trộm cắp. Khi đến nhà ông C, A vào nhà để trộm cắp, còn B đứng ngoài cảnh giới. Khi bị phát hiện, A bị bắt giữ còn B trốn thoát. Vụ án được khởi tố, điều tra theo đúng trình tự. Vì B là đồng phạm trong vụ án nhưng B bỏ trốn, nên cơ quan điều tra đã mất nhiều thời gian và xác minh nhiều lần. Hai tháng sau, vì biết không thể trốn tránh, nên B đến đầu thú tại cơ quan điều tra. Khi xét xử, ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà A và B được hưởng theo nội dung vụ án, thì B còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ là đầu thú theo khoản 2 Điều 51. Như vậy, trong trường hợp bị cáo A có những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 giống với B và có tình tiết khác quy định tại khoản 2 Điều 51 thì hội đồng xét xử xem xét cân nhắc hình phạt theo vai trò của từng bị cáo. Nhưng trong trường hợp A không có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 mà B lại được hưởng tình tiết đầu thú theo khoản 2 Điều 51 trong khi B bỏ trốn và cơ quan tố tụng mất nhiều thời gian để xác minh, truy nã (nếu có). Như vậy khi áp dụng để cân nhắc hình phạt thì B lại có lợi hơn A.
3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Thứ nhất, cần sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng bổ sung quy định giải thích thuật ngữ và hướng dẫn tiêu chí xác định cụ thể đối với các tình tiết giảm nhẹ chưa được quy định rõ ràng nhằm tạo khung pháp lý vững chắc cho việc áp dụng các tình tiết này, tránh tình trạng áp dụng pháp luật tùy tiện trong thực tiễn. Cụ thể:
(i) Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành cần có quy định rõ ràng về nguyên nhân và điều kiện để xác định một người là có nhận thức lạc hậu, trong đó, nguyên nhân của nhận thức lạc hậu phải là khách quan, như không được học tập, không có những điều kiện thực tế để nhận biết được giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu. Thực tế, có rất nhiều đối tượng mặc dù có điều kiện để học tập nhưng không học, có điều kiện để tiếp thu những tiến bộ xã hội nhưng bảo thủ không tiếp thu… những đối tượng này cần thiết phải nghiêm trị theo đúng quy định của pháp luật.
(ii) Điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành cần có hướng dẫn về việc xác định thiệt hại không lớn cần dựa vào mức độ thiệt hại xảy ra trên thực tế cho người bị thiệt hại và cho xã hội (cả thiệt hại vật chất, thể chất, tinh thần), các quy định cụ thể của từng loại tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm trong từng trường hợp cụ thể. Riêng thiệt hại về tinh thần thì nên hạn chế áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm h khoản 1 Điều 51 và chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này khi thiệt hại đó không ảnh hưởng đến hoạt động, sinh hoạt bình thường của người bị thiệt hại. Việc xác định thiệt xảy ra không lớn không phụ thuộc vào loại tội mà người phạm tội vi phạm, không phụ thuộc đó là tội phạm cấu thành vật chất hay cấu thành hình thức, mà có thể chỉ ít nhiều phụ thuộc vào tính chất của tội phạm là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng mà thôi.
(iii) Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể, thống nhất cách hiểu hai trường hợp này để làm rõ: Như thế nào là “bị phát hiện” (ai là người phát hiện - có loại trừ đồng phạm, bị can khác trong vụ án hoặc người thân thích không? Mức độ “phát hiện” có phải là biết rõ hoặc có thông tin tương đối cụ thể, xác thực về căn cước, lai lịch người phạm tội không? Nếu đã biết rõ danh tính và hành vi cụ thể mà cố tình trốn tránh rồi mới ra trình diện thì áp dụng như thế nào so với người trình diện ngay sau khi bị phát hiện nhằm tạo sự công bằng hơn trong việc áp dụng hình phạt đối với trường hợp có đồng phạm...
Thứ hai, cần xây dựng án lệ về các trường hợp áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Án lệ đã bổ sung giúp cho luật thành văn trở nên gắn liền với thực tiễn hơn bao giờ hết. Khi xảy ra tranh chấp, các Tòa án có cơ sở để xét xử dựa trên một khuôn khổ đã có, những khuôn khổ này nếu không được sử dụng trong phán quyết thì cũng là một nguồn tài liệu tham khảo rất có ích. Việc áp dụng án lệ ngoài ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể còn thiết lập ra một tiền lệ để giải quyết những vụ án tương tự sau này, do đó, sẽ tạo bình đẳng trong việc xét xử các vụ án giống nhau, giúp tiên lượng được kết quả của các vụ tranh chấp, tiết kiệm công sức của các thẩm phán, người tham gia tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, tạo ra sự công bằng trong xã hội.

TS. Nguyễn Trọng Tuấn
Phạm Thị Mai
Khoa Luật, Đại học Nguyễn Tất Thành

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nga, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiên cứu tập trung phân tích ba nội dung chính: (i) mô hình pháp luật điều chỉnh quan hệ Nhà nước - tôn giáo; (ii) cơ chế bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân; (iii) phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Tóm tắt: Trong xã hội đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo, pháp luật không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn thiết lập cơ chế duy trì trật tự công, ổn định xã hội và thúc đẩy hòa hợp cộng đồng. Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và được cụ thể hóa trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, các cách tiếp cận hiện chưa làm rõ đầy đủ cơ sở lý luận của mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo như một nền tảng cho cải cách pháp luật. Nghiên cứu phân tích các mô hình lý luận về quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo, đánh giá mô hình chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam và xu hướng sửa đổi trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua tham chiếu kinh nghiệm của Singapore như một trường hợp điển hình trong ASEAN, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong cách tiếp cận pháp luật hiện nay ở Việt Nam và đề xuất các định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật theo hướng vừa bảo đảm tốt hơn quyền tự do tôn giáo, vừa đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước và hội nhập quốc tế.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã bước đầu thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các chính sách, quy định mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, đánh giá tính tương thích và khả thi trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Bằng phương pháp phân tích quy phạm và so sánh đối chiếu, nghiên cứu làm rõ sự biến đổi của các hình thức thực hành tôn giáo trong môi trường số và trách nhiệm của các chủ thể liên quan, đặc biệt là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng, qua đó, xác định các yêu cầu đối với tổ chức thực thi nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh số hóa.
Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng và sự đa dạng ngày càng gia tăng của các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước hoàn thiện, đặc biệt, với việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật còn tồn tại một số hạn chế như tính minh bạch chưa cao, thủ tục hành chính còn phức tạp và sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương. Nghiên cứu phân tích thực trạng chính sách, pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: