Thứ sáu 23/10/2026 16:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích, đánh giá, làm rõ một số vấn đề còn hạn chế, bất cập trong quy định và thực thi pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.

Abstract: The article focuses on analyzing, evaluating, and clarifying a number of limitations and inadequacies in regulations and law implementation on the jurisdiction to settle land disputes, thereby making some recommendations for improvement.

Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn tài nguyên quý giá và đất đai cũng có giá trị rất lớn khiến cho các tranh chấp đất đai diễn ra khá phổ biến. Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 đã quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại Điều 203, tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này vẫn còn một số hạn chế, gây khó khăn cho công tác giải quyết tranh chấp đất đai và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp. Do đó, việc hoàn thiện khung pháp lý về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong bổi cảnh sửa đổi Luật Đất đai hiện nay là một yếu tố quan trọng để bảo đảm quyền và lợi ích của người dân.

1. Thực trạng pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Trong những năm vừa qua, cơ quan lập pháp đã ban hành nhiều văn bản để điều chỉnh vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Trong đó, Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được ban hành đã tạo hành lang pháp lý góp phần giải quyết tranh chấp đất đai hiệu quả hơn. Pháp luật hiện hành căn cứ vào việc người sử dụng đất có hay không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ hợp lệ về đất đai và sự lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp của đương sự để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, quy định pháp luật hiện hành đã bộc lộ một số bất cập nhất định, cụ thể như sau:

Một là, theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013, hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là một thủ tục bắt buộc trong giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Mặt khác, theo quy định tại Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời, phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Tuy nhiên, trên thực tế, một số huyện không có chính quyền cấp xã như Côn Đảo, Lý Sơn…[1] thì hoạt động hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ được thực hiện như thế nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết và nếu cơ quan đó thụ lý, giải quyết thì đâu sẽ là cơ sở pháp lý để cơ quan này thực hiện hoạt động hòa giải. Các quy định pháp luật hiện hành chưa đề cập đến trường hợp trên, dẫn đến sự lúng túng của các chủ thể khi áp dụng quy định trên thực tế.

Hai là, về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ: Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc xác định thẩm quyền của Tòa án đối với các tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng vẫn còn có những quan điểm khác nhau trong quá trình áp dụng quy định pháp luật, cụ thể: (i) Tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất không phải là tranh chấp về bất động sản, di sản có thể bao gồm cả động sản, bất động sản nên trong trường hợp này, không thể áp dụng nguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa án theo nơi có bất động sản, Tòa án có thẩm quyền phải là Tòa án nơi bị đơn giải quyết; (ii) Tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất là tranh chấp về bất động sản nên trong trường hợp này, Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Việc tồn tại nhiều quan điểm khác nhau khiến việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước.

Ba là, theo quy định tại khoản 3 và khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự (khoản 3 Điều 26) và giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai (khoản 9 Điều 26). Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013 chưa có sự phân biệt rõ ràng, cụ thể thẩm quyền giải quyết của Tòa án giữa tranh chấp về hợp đồng dân sự và tranh chấp về các giao dịch dân sự có đối tượng là quyền sử dụng đất, tranh chấp đất đai. Vì thế, khi thụ lý giải quyết những vụ việc là các giao dịch có đối tượng là quyền sử dụng đất thì Tòa án chưa có sự áp dụng thống nhất khoản nào của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Bốn là, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 thì đương sự có thể lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Với quy định pháp luật hiện hành, thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp đất đai về quyền sử dụng đất bao gồm cả việc xác định ai trong số các đương sự có quyền sử dụng đối với đất đang có tranh chấp. Tuy vậy, trên thực tế, nhiều quan điểm cho rằng, Tòa án giải quyết như vậy là có sự chồng chéo về mặt thẩm quyền với cơ quan hành chính nhà nước trong hoạt động quản lý đất đai[2]. Việc trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho Tòa án trong trường hợp đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 là quy định thẩm quyền vượt quá chức năng, thẩm quyền của Tòa án. Nếu như trước đây Tòa án chỉ có quyền xác định ai là người có quyền dân sự đang bị người khác tranh chấp thì với quy định pháp luật hiện hành, Tòa án có thêm thẩm quyền xác định ai được quyền sử dụng đất chưa có căn cứ pháp luật. Đây vốn là lĩnh vực thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai. Đối với loại đất mà các bên chưa có bất kỳ loại giấy tờ gì theo quy định thì phần lớn là đất đang thuộc quyền sở hữu toàn dân, chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận cũng chưa giao cho các chủ thể khai thác. Theo quy định của Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Khi Tòa án được giao thẩm quyền giải quyết thì Tòa án sẽ phải quyết định bên nào được quyền sử dụng đất đó (vốn chưa được Nhà nước công nhận là của ai). Việc này là không phù hợp với quy định về tính thống nhất trong quản lý đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nói chung, tòa dân sự nói riêng[3]. Tòa án không có thẩm quyền xác định tài sản tranh chấp thuộc quyền sở hữu của bất cứ chủ thể nào mà đây là thẩm quyền riêng biệt của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai[4].

Năm là, bên cạnh những bất cập về quy định pháp luật, việc áp dụng pháp luật trên thực tế cũng phát sinh những hạn chế nhất định. Qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan hành chính vẫn chưa thực sự hiệu quả. Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 đã đề ra mục tiêu đến năm 2025: “100% cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử được “hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc”; “100% Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh được kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia”; “100% hệ thống báo cáo của các bộ, ngành, địa phương được kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia”. Tuy nhiên, việc kết nối liên thông, chia sẻ thông tin giữa Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai vẫn chưa được hoàn thiện trên thực tế. Các cơ quan hành chính nhà nước liên quan thường là cơ quan có thẩm quyền lưu trữ những tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc tranh chấp nhưng trên thực tế, sự hợp tác trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu vẫn chưa thực sự được tiến hành có hiệu quả.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đã góp phần giúp hoạt động giải quyết tranh chấp diễn ra có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình gần 09 năm thi hành, một số quy định của Luật Đất đai năm 2013 đã bộc lộ những bất cập nhất định. Vì thế, để hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai diễn ra được hiệu quả hơn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, cần nghiên cứu, hoàn thiện các quy định pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo hướng:

Thứ nhất, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã đưa ra hướng giải quyết đối với trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai đối với địa bàn không thành lập đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Theo khoản 5 Điều 224 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), đối với địa bàn không thành lập đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thì không thực hiện các quy định tại khoản 2 Điều này, theo đó, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Các bên tranh chấp đất đai ở địa bàn không thành lập đơn vị hành chính cấp xã sẽ không thực hiện thủ tục gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Theo nhóm tác giả, đối với hoạt động hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã, cần bổ sung quy định về việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân trong trường hợp không có đơn vị hành chính cấp xã. Về vấn đề này, có thể tham khảo các quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 để ban hành các quy định phù hợp. Theo các quy định tại khoản 4 Điều 11[5], khoản 1 Điều 25[6] và khoản 1 Điều 31[7] Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, đối với các huyện không có đơn vị hành chính cấp xã, thì Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ có thẩm quyền.

Thứ hai, nghiên cứu sửa đổi quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án đối với trường hợp đất tranh chấp chưa có bất cứ loại giấy tờ, tài liệu nào về quyền sử dụng đất. Việc sửa đổi quy định này nhằm hạn chế những mâu thuẫn, chồng chéo về mặt thẩm quyền.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã trao hoàn toàn thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án nhân dân, Ủy ban nhân dân chỉ có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan khi được yêu cầu theo quy định tại Điều 225: “Tranh chấp đất đai, tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất để làm căn cứ cho Tòa án nhân dân giải quyết theo thẩm quyền khi được yêu cầu”. Sự thay đổi này sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai; việc giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng với nguyên tắc tranh tụng công khai, dân chủ khi xét xử sẽ bảo đảm quá trình giải quyết tranh chấp khách quan hơn so với việc thực hiện theo thủ tục hành chính[8]. Tuy nhiên, theo quy định này, tranh chấp đất đai, tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, điều này đồng nghĩa với việc Tòa án có thẩm quyền đối với cả những tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ theo quy định pháp luật. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân vẫn bao gồm cả việc xác định ai trong số các đương sự có quyền sử dụng đối với đất đang có tranh chấp. Vì lẽ đó, theo nhóm tác giả, quy định trong Dự thảo chưa khắc phục được bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn về mặt thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, chưa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án.

Thứ ba, hướng dẫn, quy định cụ thể hơn vấn đề xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất. Theo quan điểm của tác giả, tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất là tranh chấp về bất động sản, do đó, Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Bên cạnh đó, các cơ quan lập pháp cũng cần giải thích trường hợp nào là giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự và trường hợp nào là giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai để Tòa án áp dụng một khoản thống nhất khi thụ lý đơn.

Thứ tư, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của người dân. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai chính là do trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của một số người dân còn hạn chế. Vì thế, công tác tuyên truyền pháp luật cần được chú trọng và tổ chức rộng rãi ở khắp các địa phương; thực hiện thông qua các hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến, đài phát thanh, đài truyền hình; Tủ sách pháp luật, thành lập các trung tâm tư vấn pháp luật cho cộng đồng, tổ chức các phiên tòa giả định...

Thứ năm, cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng giải quyết tranh chấp cho đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án nhân dân nhằm giúp cho các cán bộ, công chức nắm được các kỹ năng tiến hành giải quyết tranh chấp đất đai, các nguyên tắc chỉ đạo, áp dụng đúng các quy định của pháp luật nhằm giải quyết các vụ việc có hiệu quả. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác tổ chức tập huấn, đồng thời cần tổ chức các bài kiểm tra định kỳ để kiểm tra, rà soát kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.

Có thể nói, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai là điều rất quan trọng, cấp thiết nhằm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của các bên tranh chấp, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai trên thực tế.

ThS. Trịnh Tường Khiêm

Trường Đại học Hùng Vương, TP. Hồ Chí Minh;

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết;

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Hà Phương, “Lý Sơn trở thành huyện đảo thứ 2 không có chính quyền cấp xã”, https://kinhtedothi.vn/ly-son-tro-thanh-huyen-dao-thu-2-khong-co-chinh-quyen-cap-xa.html, truy cập ngày 01/3/2023.

[2]. Hoàng Quảng Lực, “Về vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân”, https://tapchitoaan.vn/ve-van-de-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-cua-toa-an-nhan-dan6630.html, truy cập ngày 01/3/2023.

[3]. Tưởng Duy Lượng, “Những khó khăn, vướng mắc trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và một vài kiến nghị”, https://tapchitoaan.vn/tranh-chap-quyen-su-dung-dat-thua-ke-quyen-su-dung-dat-mot-loai-tranh-chap-phuc-tap-vi-sao, truy cập ngày 01/3/2023.

[4]. Nguyễn Tiến Mạnh, “Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2013”, https://lsvn.vn/thuc-trang-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-va-kien-nghi-sua-doi-bo-sung-luat-dat-dai-20131637160777.html, truy cập ngày 01/3/2023.

[5]. “Việc xác định khu vực bỏ phiếu do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định và được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn. Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì việc xác định khu vực bỏ phiếu do Ủy ban nhân dân huyện quyết định”.

[6]. “Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương”.

[7]. “Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện có trách nhiệm lập danh sách cử tri theo từng khu vực bỏ phiếu”.

[8]. Nguyễn Hồng Hà, “Bỏ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân”, https://lsvn.vn/bo-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-cua-ubnd1659108080.html, truy cập ngày 01/3/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 378), tháng 4/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: