Thứ tư 26/08/2026 05:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết quả tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư

Thực hiện Quyết định số 1133/QĐ-TTg ngày 15/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện các đề án tại Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI);

Kế hoạch số 387/KH-MTTW-BTT ngày 20/9/2013 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc triển khai thực hiện Đề án “Tiếp tục xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư giai đoạn 2012 - 2016” (Đề án), Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh xây dựng nội dung, trình Thường trực Tỉnh ủy cho ý kiến chỉ đạo (tại Thông báo số 1365-TB/TU ngày 10/4/2014), trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện, thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc để tổ chức thực hiện Đề án, trong đó xác định rõ nhiệm vụ theo từng năm, phân công trách nhiệm cụ thể của từng thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc và của các cơ quan, đơn vị tham gia Đề án. Việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện các nội dung của Đề án được triển khai thường xuyên, gắn với việc kiểm tra thực hiện nhiệm vụ công tác mặt trận ở tất cả các địa phương trong tỉnh.

Trong 03 năm triển khai thực hiện Đề án, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh đã tổ chức 203 lớp tập huấn, 842 hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trong đó, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã tổ chức 58 hội nghị tập huấn cho 1.421 thành viên Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư về các nội dung cơ bản của Đề án, các văn bản pháp luật mới được ban hành, tổ chức thành công hội thi “Trưởng Ban Công tác Mặt trận giỏi” với nội dung chuyên về kỹ năng tuyên truyền pháp luật tại cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã duy trì thực hiện chuyên mục “Đại đoàn kết” 02 số/tháng, đăng tải trên 428 bản tin, bài viết trên Trang thông tin điện tử của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Báo Vĩnh Phúc, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Cổng thông tin giao tiếp điện tử tỉnh và trên báo Đại Đoàn kết; biên tập và phát hành 40.000 cuốn Bản tin Mặt trận đến cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Ban Công tác Mặt trận khu dân cư… về nội dung các văn bản pháp luật như: Hiến Pháp năm 2013, Luật Đất đai, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Chính quyền địa phương và các luật khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố, thị xã thành lập và hướng dẫn, duy trì hoạt động mô hình “Nhóm nòng cốt” tại 87 xã, phường, thị trấn (năm 2013 có 40 nhóm), thành lập được 870 nhóm nòng cốt trên 900 khu dân cư với tổng số trên 600 thành viên. Mỗi nhóm có từ 07 - 10 thành viên, các thành viên của nhóm nòng cốt hầu hết là những người gương mẫu, am hiểu về pháp luật, có uy tín trong cộng đồng dân cư, được nhân dân tín nhiệm bầu giữ các chức vụ quan trọng, như: Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban Công tác Mặt trận, chi hội trưởng, chi hội phó các tổ chức đoàn thể. Đối với những khu vực tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo thì các nhóm thu hút đội ngũ già làng, người tiêu biểu trong cộng đồng dân cư để họ phát huy vai trò, trách nhiệm của mình, cùng với nhóm nòng cốt thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật.

Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn xây dựng quy chế hoạt động của nhóm, kỹ năng tuyên truyền, cách làm đến từng nhóm nòng cốt để thực hiện tuyên truyền pháp luật tới các khu dân cư với nhiều hình thức, kết hợp phổ biến pháp luật với các buổi họp tổ, sinh hoạt Ban Công tác Mặt trận và các chi hội đoàn thể..., lồng ghép với các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, thông qua mạng lưới truyền thanh cơ sở, lồng ghép với các nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu nại, tố cáo (Đề án 01-1133) trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời vận động các hộ gia đình trên địa bàn đăng ký xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Gia đình không có ma túy và tệ nạn xã hội”. Các nhóm nòng cốt tuy chỉ mới thành lập và đi vào hoạt động trong một thời gian ngắn, song đã chứng minh được tính hiệu quả, tạo nhiều chuyển biến tích cực trong nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân, nếp sống văn hóa văn minh, trật tự, an toàn xã hội ngày càng được giữ vững và phát huy.

Được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và các ngành liên quan, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cộng đồng dân cư đã huy động được sự tham gia của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, sự hưởng ứng của toàn dân, phát huy vai trò tích cực của hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động cán bộ nhân dân chấp hành pháp luật.

Việc thực hiện chương trình được gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và nhiều phong trào thi đua yêu nước khác đã tạo nên phong trào chấp hành pháp luật sâu rộng trong từng gia đình, từng khu dân cư, góp phần từng bước ngăn chặn và hạn chế hành vi vi phạm pháp luật ở khu dân cư, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của nhân dân được nâng cao đã giúp cho chính sách pháp luật của Nhà nước được thực thi trong thực tiễn, người dân biết tự bảo vệ mình, xây dựng môi trường sống lành mạnh trong cộng đồng dân cư, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện các nội dung của Đề án vẫn còn một số tồn tại, cụ thể như:

- Việc triển khai ở một số địa phương còn kém hiệu quả, chưa làm nổi bật được các mô hình theo nội dung của Đề án. Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đơn vị trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thực hiện các nội dung của Đề án chưa thường xuyên, chặt chẽ. Trình độ, năng lực cập nhật và tự nghiên cứu pháp luật của đội ngũ cán bộ và tuyên truyền viên ở cơ sở còn hạn chế, không đồng đều, chưa tích cực hoạt động, khả năng truyền đạt, giải thích còn hạn chế, nên trong quá trình triển khai gặp nhiều lúng túng, hiệu quả chưa cao.

- Các phương tiện, thiết bị hỗ trợ cho công tác tuyên truyền còn hạn chế, chưa thu hút, truyền tải cho người nghe một cách sinh động. Nội dung tuyên truyền ở một số lĩnh vực chưa phong phú. Hình thức tuyên truyền chưa thu hút nhiều đối tượng, chủ yếu là thông qua các hội nghị, chưa có hình thức mang tính chất đa dạng, hấp dẫn, thu hút nhiều đối tượng cùng tham gia học tập.

- Việc xây dựng và tổ chức hoạt động của “Nhóm nòng cốt” ở khu dân cư còn chậm, chưa đảm bảo theo tiến độ kế hoạch đề ra, chưa có chế độ thù lao cho các thành viên nhóm, tài liệu cho nhóm nòng cốt hoạt động còn chưa nhiều…, kinh phí thực hiện còn ít, nhất là cấp xã, làm ảnh hưởng đến công tác xây dựng kế hoạch triển khai các đợt tuyên truyền.

Từ thực tiễn triển khai công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm:

Một là, cấp ủy, chính quyền các cấp xác định đúng vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và các nội dung của Đề án, từ đó thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nội dung, thực hiện tốt thông tin hai chiều từ cơ sở, các ban, ngành và lắng nghe ý kiến phản hồi của tầng lớp nhân dân. Từ đó, điều chỉnh nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho phù hợp với từng đối tượng.

Hai là, bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh để chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền cụ thể, tập trung hướng về cơ sở, tổ chức tuyên truyền sâu rộng ở khu dân cư đến hộ gia đình, quan tâm đến vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, phát huy tốt vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong hệ thống Mặt trận, các tổ chức thành viên, Ban Công tác Mặt trận địa bàn khu dân cư, già làng, trưởng bản, các chức sắc tôn giáo trong các dân tộc và những người có uy tín trong cộng đồng.

Ba là, phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thành viên, các ban, ngành chức năng để đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động đến các đối tượng cần được tuyên truyền, đi sâu vào các tầng lớp nhân dân, các giới do Mặt trận trực tiếp vận động. Việc triển khai thực hiện Đề án phải xây dựng kế hoạch, chương trình với nhiều nội dung, hình thức phù hợp với từng đối tượng, phải có trọng tâm, trọng điểm nội dung tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật. Có sự linh hoạt, thích ứng với yêu cầu tuyên truyền, phổ biến tùy từng thời điểm cụ thể, chú trọng giới thiệu văn bản luật gắn với đời sống thường ngày của nhân dân.

Bốn là, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn lồng ghép với chương trình phát triển kinh tế - xã hội để tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, đến nhân dân, tăng cường xây dựng những điển hình tiên tiến từ đó nhân ra diện rộng.

Năm là, cần quan tâm, có chính sách động viên đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và các lực lượng khác tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật. Nhân rộng mô hình “Nhóm nòng cốt” tuyên truyền pháp luật ở tất cả các khu dân cư trên địa bàn toàn tỉnh.

Một số giải pháp trong thời gian tới được xác định là:

- Tiếp tục tăng cường trách nhiệm của các cấp ủy Đảng về vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thường xuyên quan tâm, đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận, các ban, ngành đoàn thể, tổ chức thành viên trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện.

- Duy trì, phát huy, đẩy mạnh thực hiện và phát triển nhân rộng mô hình điểm, đồng thời tăng cường tư vấn pháp luật miễn phí, phổ biến pháp luật bằng nhiều hình thức.

- Bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ cấp tỉnh đến cấp xã.

- Triển khai đồng bộ các hình thức phổ biến, tuyên truyền pháp luật, lựa chọn các hình thức phù hợp đối tượng. Tổ chức nhiều hơn nữa các cuộc thi tìm hiểu pháp luật phù hợp từng phạm vi nhóm, đối tượng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng cuộc thi.

- Triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, gắn giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, văn hóa, văn hóa truyền thống và bồi dưỡng rèn luyện ý thức tự giác, tự nguyện tìm hiểu chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân.

Nguyễn Xuân Viễn

P. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: