Thứ sáu 16/01/2026 16:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khó khăn, vướng mắc khi thi hành Luật Hộ tịch tại tỉnh Hà Giang

Luật Hộ tịch đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua và hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật ra đời đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch từng bước ổn định và đi vào nề nếp, cơ sở vật chất từng bước được cải thiện.

Luật Hộ tịch đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua và hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật ra đời đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch từng bước ổn định và đi vào nề nếp, cơ sở vật chất từng bước được cải thiện.

Tại tỉnh Hà Giang, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã chỉ đạo tổ chức thi hành ngay sau khi Luật được ban hành[1] và ban hành một loạt các văn bản chỉ đạo, tổ chức triển khai sâu rộng trên địa bàn tỉnh và nhận được sự đồng tình ủng hộ, vào cuộc trách nhiệm cao của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là cấp cơ sở.

Nhằm bảo đảm triển khai thi hành Luật Hộ tịch một các thống nhất, hiệu quả, tỉnh đặc biệt quan tâm chú trọng đến công tác nhân lực để tổ chức thực hiện, quan tâm bố trí đủ số công chức tham mưu quản lý đối với nhiệm vụ này ở cả ba cấp (tỉnh, huyện, xã); thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu. Trong nhiều năm, nhiều huyện đã có cách làm sáng tạo, phù hợp với trình độ chuyên môn và điều kiện thực tiễn của địa phương như luân phiên mỗi tháng 10 ngày tổ chức đưa công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã ra học việc tại Phòng Tư pháp cấp huyện. Bằng phương thức học “cầm tay chỉ việc”, sau khi được học việc nhiều công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình được giao ở cấp xã, nhất là việc quản lý đăng ký hộ tịch cho người dân ở cơ sở; ban hành cơ chế chính sách[2] thuận lợi triển khai; tuyên truyền sâu, rộng Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành bằng nhiều hình thức phù hợp để người dân biết, thực hiện; trang bị cơ sở, vật chất[3] đáp ứng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch; kết quả triển khai Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Nghị định số 87/2020/NĐ-CP ngày 28/7/2020 của Chính phủ... Bằng việc vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành tại địa phương, người dân đã nhận thức tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch nên không tùy tiện sửa chữa, thêm, bớt; tự giác thực hiện đi đăng ký các sự kiện hộ tịch theo đúng thời gian quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đăng ký hộ tịch ở Hà Giang còn gặp những khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, do yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội: Tỉnh Hà Giang là tỉnh miền núi, biên giới, địa hình phức tạp nhiều đường mòn, lối mở; trình độ dân trí chưa cao, là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống các dân tộc còn có phong tục, tập quán khác nhau từ đó khó khăn trong công tác đăng ký hộ tịch. Ở một số huyện phần lớn phụ nữ dân tộc Nùng, dân tộc Mông sau kết hôn thì tự đổi họ theo họ của người chồng và đặt tên mới. Khi đăng ký khai sinh cho con thì kê khai họ, tên mẹ theo họ, tên đã tự đổi theo phong tục tập quán. Vì vậy, tên người mẹ trong giấy khai sinh của con sai so với thông tin về họ, tên mẹ trước khi kết hôn và trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Để được cải chính hộ tịch, người mẹ phải xuất trình giấy tờ chứng minh về họ, tên của mình trước khi kết hôn nhưng hầu hết người dân không còn lưu giữ được những giấy tờ này, việc xác minh thông tin cũng gặp nhiều khó khăn, nhiều trường hợp không đủ cơ sở để cải chính hộ tịch dẫn đến thông tin của công dân không thống nhất giữa giấy tờ hộ tịch và giấy tờ tùy thân, giấy tờ về cư trú, không thống nhất về họ, tên mẹ trong giấy khai sinh và hồ sơ học bạ của con); việc tiếp cận với văn bản điện tử còn khó khăn, việc triển khai đăng ký hộ tịch trực tuyến gặp nhiều khó khăn do người dân còn chưa biết cách sử dụng điện thoại thông minh để khai thác, sử dụng các phần mềm. Một số nơi vùng cao còn tình trạng tảo hôn, phụ nữ chưa đến tuổi kết hôn nhưng đã tổ chức đảm cưới và sinh con, trẻ em được đăng ký khai sinh do đó cũng khó khăn trong việc tuyên truyền, vận động người dân thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình.

Việc đăng ký hộ tịch, giải quyết cư trú và cấp giấy tờ cá nhân cho các trường hợp “nhân khẩu đặc biệt” hoặc “nhóm cư dân yếu thế” có liên quan đến yếu tố nước ngoài như người không có quốc tịch Việt Nam nhưng đã được giải quyết đăng ký thường trú, cấp chứng minh nhân dân/căn cước công dân (54 trường hợp); con lại giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nhưng chưa xác định được quốc tịch Việt Nam (121 trường hợp); nhân khẩu chưa xác định được quốc tịch, chưa được đăng ký thường trú, cấp chứng minh nhân dân/căn cước công dân (03 trường hợp); nhân khẩu không có giấy tờ tùy thân (41 trường hợp) các trường hợp “nhân khẩu đặc biệt” trên đều không có bất cứ giấy tờ tùy thân, giấy tờ chứng minh về tình trạng hôn nhân, giấy chứng sinh, do đó, khó khăn cho việc xác minh thông tin về nơi ở, tình trạng hôn nhân, giấy chứng sinh, khó khăn cho việc xác minh thông tin về nơi ở, tình trạng hôn nhân, chứng nhận việc sinh để thực hiện các thủ tục đăng ký hộ tịch, đăng ký cư trú, đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn... Các trường hợp phụ nữ đi làm thuê và sinh con tại nước ngoài khi về Việt Nam không có giấy tờ chứng minh trẻ em do mình sinh ra rất khó khăn khi đăng ký khai sinh cho trẻ.

Về thực trạng, công chức tư pháp - hộ tịch[4] có khối lượng công việc tăng, ngoài việc tham mưu đăng ký, quản lý hộ tịch công chức tư pháp phải đảm nhiệm nhiều công việc khác của địa phương; công chức thường xuyên thay đổi do luân chuyển công tác; một số địa phương công chức trình độ chuyên môn yếu, ít nghiên cứu cập nhật thông tin quy định mới, làm việc theo kinh nghiệm trong khi số lượng đăng ký hộ tịch ngày càng tăng và tính chất công việc phức tạp hơn; trình độ công nghệ thông tin chậm chưa theo kịp sự phát triển của việc ứng dụng công nghệ thông tin làm việc trên môi trường điện tử cho nên công chức tư pháp - hộ tịch vẫn chưa đảm đương và hoàn thành nhiệm vụ.

Thứ hai, về sự thống nhất, đồng bộ giữa Luật Hộ tịch với Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Nuôi con nuôi và các văn bản pháp luật có liên quan khác:

- Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc xác định cha, mẹ con theo thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, nhiều trường hợp Tòa án từ chối giải quyết, lý do ‘‘không có tranh chấp”, do đó, khó khăn cho người dân khi có yêu cầu.

- Theo khoản 3 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi quy định việc đăng ký lại khai sinh cho trẻ em là con nuôi nhưng Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP) không quy định. Trên thực tế, người nhận con nuôi mong muốn giấy khai sinh của con nuôi được ghi theo thông tin của cha, mẹ nuôi.

- Về quyền thay đổi tên, Bộ luật Dân sự quy định theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó nhưng quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn không quy định rõ về giấy tờ nào phải nộp (xuất trình) để làm căn cứ thay đổi tên. Pháp luật về dân sự và hộ tịch chưa có quy định về việc thay đổi tên đệm nhưng thực tế phát sinh rất nhiều trường hợp người dân yêu cầu thay đổi tên đệm.

Thứ ba, khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành:

- Tại điểm a, khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định hồ sơ đăng ký lại khai sinh gồm “tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính giấy khai sinh” nhưng trong tờ khai nội dung cam đoan này không có trong mẫu tờ khai. Do đó, gây lúng túng cho công chức tư pháp khi hướng dẫn công dân thực hiện yêu cầu đăng ký lại khai sinh.

- Quy định về xác định lại dân tộc: Luật Hộ tịch quy định về thẩm quyền, trình tự thực hiện xác định lại dân tộc. Theo đó, cá nhân có quyền yêu cầu xác định lại dân tộc khi thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hộ tịch không quy định rõ cá nhân có quyền được xác định lại dân tộc một lần hay nhiều lần và không có quy định cụ thể về thủ tục, giấy tờ trong trường hợp công dân có yêu cầu nhiều lần về việc xác định lại dân tộc, việc này cũng tăng thêm khối lượng công việc cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Mặt khác, trên thực tế việc chứng minh cá nhân yêu cầu xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi cũng tương đối khó khăn đối với cơ quan đăng ký hộ tịch.

- Tại điểm h khoản 1 Điều 70 Luật Hộ tịch có quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện là thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định của Luật Hộ tịch nhưng Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành không quy định trình tự, thủ tục về thu hồi hủy bỏ gây khó khăn trong quá trình áp dụng.

- Tại Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa có điều khoản nào quy định về các trường hợp được thay đổi chữ đệm gây khó khăn cho cơ quan tư pháp (nhiều cá nhân muốn điều chỉnh thông tin của giấy khai sinh cho phù hợp với giấy tờ cá nhân được các ngành khác cấp sau đó) trong việc giải quyết công tác hộ tịch (Điều 27 và Điều 28 Bộ luật Dân sự có quy định về quyền thay đổi họ và thay đổi tên nhưng không quy định về quyền thay đổi chữ đệm).

- Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 35 Luật Hộ tịch thì trẻ em có cha, mẹ là công dân Việt Nam, trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thì thẩm quyền đăng ký khai sinh thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Nhưng tại khoản 3, Điều 29 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ lại quy định đối với các trường hợp không có giấy tờ chứng sinh hoặc giấy tờ khác của cơ quan nước ngoài cấp xác nhận trẻ sinh ra ở nước ngoài và quan hệ mẹ - con thì thực hiện theo khoản 5 Điều 15 Nghị định này, nghĩa là thuộc thẩm quyền đăng ký của Ủy ban nhân dân cấp xã như trường hợp trẻ bị bỏ rơi không xác định được cha mẹ, do vậy khó khăn trong việc xác định thẩm quyền đăng ký khai sinh cho các trường hợp này.

- Theo quy định tại Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP (Thông tư số 04/2020/TT-BTP), việc đăng ký hộ tịch đối với nhóm dân cư yếu thế về việc bỏ trống phần quốc tịch trong giấy khai sinh dẫn đến công dân khó khăn trong việc thực hiện các quyền lợi khác mà Hiến pháp và pháp luật về quyền con người như việc đăng ký cư trú, đăng ký kết hôn, cấp thẻ bảo hiểm y tế… Mặt khác, việc hướng dẫn đối với từng trường hợp cụ thể mà không áp dụng đối với những trường hợp tương tự cũng gây khó khăn trong thực hiện.

- Khoản 1 Điều 34 Luật Hộ tịch quy định: “Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay thế giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì Bộ Y tế hướng dẫn các cơ sở y tế thực hiện việc cấp giấy chứng sinh, giấy báo tử. Tuy nhiên, hiện nay đa số người dân chết tại nhà và người thân ra báo với chính quyền xã, không có giấy báo tử nên gây lúng túng cho cơ quan thực hiện đăng ký khai tử.

- Về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con, cơ quan đăng ký rất khó khăn để xác định giá trị của thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng chứng minh mối quan hệ cha con, mẹ con hoặc công dân không thể cung cấp được chứng cứ này.

- Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt như trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, sinh con, người con sống cùng với người cha, khi người cha làm thủ tục nhận con mà không liên hệ được với người mẹ, dẫn đến công chức tư pháp - hộ tịch khó khăn trong việc xác minh thông tin cư trú người mẹ khi người mẹ đi cư trú ở nhiều nơi, hoặc không biết đang cư trú ở đâu.

- Việc ghi vào sổ hộ tịch các việc ly hôn đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài: Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, đối tượng thực hiện việc ghi chú ly hôn theo quy định chỉ là công dân Việt Nam về nước thường trú hoặc làm thủ tục đăng ký kết hôn mới tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian qua có nhiều trường hợp như người nước ngoài, người Việt Nam đã thôi quốc tịch Việt Nam kết hôn với công dân Việt Nam sau đó ly hôn tại nước ngoài; công dân Việt Nam trước đây kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, sau đó ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, vẫn cư trú ở nước ngoài nhưng có yêu cầu được ghi chú ly hôn.

- Luật Hộ tịch hiện hành chỉ quy định thủ tục đăng ký giám hộ bao gồm: Đăng ký giám hộ đương nhiên, đăng ký giám hộ cử, đăng ký chấm dứt giám hộ và đăng ký thay đổi giám hộ. Tuy nhiên, yêu cầu giám sát việc giám hộ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa có quy định cụ thể về thủ tục này.

- Tại khoản 4 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định việc kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân. Có trường hợp người yêu cầu xác nhận sinh sống ở nhiều nơi và trong mẫu giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ghi “trong thời gian cư trú tại... từ ngày, tháng, năm đến ngày, tháng, năm...”, đây cũng là khó khăn lúng lúng cho công chức tư pháp - hộ tịch trong trường hợp người được xác nhận tình trạng hôn nhân cư trú ở nhiều nơi, đặc biệt có trường hợp người đó đi làm ăn xa nhiều năm ở địa phương khác hoặc ở nước ngoài (có người đi 07 năm mới về).

- Tại điểm h khoản 1 Điều 70 Luật Hộ tịch quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân huyện trong trường hợp xử lý giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định nhưng chưa có quy định về thủ tục xử lý (ví dụ cá nhân hay tổ chức đề nghị (trình Ủy ban nhân dân huyện) việc xử lý, thủ tục xử lý...).

Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần sớm sửa đổi, bổ sung những quy định còn hạn chế, bất cập để đưa quy định pháp luật về đăng ký, quản lý hộ tịch ngày càng sát đúng, phù hợp với thực tế cuộc sống. Điều này vừa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, vừa đảm bảo công tác quản lý hộ tịch, quản lý dân cư này càng khoa học, chặt chẽ và hiệu quả hơn./.

Trương Huy Huân
Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang


[1] Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 51/KH-UBND ngày 27/3/2015 triển khai thi hành Luật Hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hà Giang; Tỉnh ủy Hà Giang ban hành Công văn số 1430-CV/TU ngày 29/11/2021 về nâng cao chất lượng, hiệu quả công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trên địa bàn tỉnh.

Các ngành chức năng: Sở Tư pháp ban hành trên 300 văn bản bao gồm kế hoạch, công văn để xin ý kiến hướng dẫn gửi cấp trên; công văn hướng dẫn, triển khai thực hiện đối với Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp và hướng dẫn, trả lời đề nghị của công dân...; Công an tỉnh đã ham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 02 văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện dự án sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân/định danh điện tử; trực tiếp ban hành 28 kế hoạch, 52 báo cáo, 268 văn bản liên quan đến việc triển khai và thực hiện cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dự án sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân/định danh điện tử...

[2] Ban hành Nghị quyết số 61/2016/NQ-HĐND ngày 11/12/2016 quy định về lệ phí hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

[3] Máy tính phục vụ riêng cho công tác đăng ký hộ tịch 232 máy tính trong đó 213 máy được kết nối internet phục vụ ổn định cho việc đăng ký hộ tịch bằng phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử, tổng số 182 máy in, 172 máy scan; chỉ đạo thống nhất sử dụng Phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung của Bộ Tư pháp trên địa bàn tỉnh Hà Giang chính thức được triển khai đồng bộ, thống nhất trong toàn tỉnh từ ngày 01/7/2018...

[4] Hiện tại, mỗi đơn vị cấp xã được bố trí 01 biên chế.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.
Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 01/7/2025, chính quyền địa phương ở Việt Nam được tổ chức theo mô hình 02 cấp: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) và xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (cấp xã).
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân khu vực phía Nam

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân khu vực phía Nam

Đối với khu vực phía Nam - nơi tập trung đông dân cư, nhiều trung tâm kinh tế trọng điểm và có sự đa dạng về điều kiện kinh tế - xã hội đang đối mặt với thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân. Đây không chỉ là nhiệm vụ của hệ thống chính trị mà còn là trách nhiệm xã hội của các cơ sở đào tạo pháp luật trong cả nước, trong đó có Trường Cao đẳng Luật miền Nam (sau đây gọi là Trường) - với vai trò là cơ sở đào tạo pháp luật thuộc Bộ Tư pháp xác định sứ mệnh đồng hành cùng địa phương, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật tại chỗ thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật.
Công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp pháp luật; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khu vực miền Trung - Tây Nguyên - Kết quả và định hướng

Công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp pháp luật; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khu vực miền Trung - Tây Nguyên - Kết quả và định hướng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ “then chốt”, trong đó, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, các nghị định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan đã tạo hành lang pháp lý cho đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, trong đó có ngành Luật. Nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị nhấn mạnh, cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi pháp luật. Miền Trung - Tây Nguyên là khu vực rộng lớn, đa dạng về văn hóa - xã hội, với nhiều địa bàn đặc thù như vùng cao, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đây cũng là những nơi chịu nhiều tác động tiêu cực từ điều kiện kinh tế, thiên tai, hạ tầng giáo dục và pháp lý chưa đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác đào tạo pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ cơ sở, người dân và các đối tượng chuyên môn tại khu vực này không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội sâu sắc của ngành Tư pháp, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ cơ sở
Trường Đại học Luật Hà Nội - Trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật cho ngành Tư pháp và đất nước

Trường Đại học Luật Hà Nội - Trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật cho ngành Tư pháp và đất nước

Kể từ khi thành lập (ngày 10/11/1979) đến nay, được sự tin tưởng của Đảng và Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội tự hào là một trong những cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật hàng đầu của Việt Nam và tiếp tục được Chính phủ xác định là trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật theo Quyết định số 1156/QĐ-TTg ngày 30/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể “Tiếp tục xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”.
Đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Học viện Tư pháp là cơ sở đào tạo nghề luật đầu tiên trực thuộc Bộ Tư pháp và cũng là trung tâm lớn nhất đào tạo chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp của đất nước, trải qua 27 năm, hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp của Học viện Tư pháp đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp nhiều vào sự phát triển nguồn nhân lực tư pháp của đất nước, Bộ, ngành Tư pháp và xã hội.
Văn phòng Bộ Tư pháp: Tự hào truyền thống - Đổi mới phát triển

Văn phòng Bộ Tư pháp: Tự hào truyền thống - Đổi mới phát triển

Văn phòng Bộ Tư pháp (sau đây gọi tắt là Văn phòng) - đơn vị có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và quản lý các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, tổng hợp, theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc Bộ thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Bộ đã được phê duyệt; tham mưu, điều phối, thực hiện công tác truyền thông đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và quản lý báo chí, xuất bản; tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, bảo vệ bí mật nhà nước, quản trị, tài chính, bảo vệ, quân sự, y tế của cơ quan Bộ theo quy định của pháp luật. Văn phòng được giao nhiệm vụ tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Văn phòng chính là “cầu nối” giữa Lãnh đạo Bộ và các đơn vị thuộc Bộ, góp phần bảo đảm sự vận hành thông suốt, hiệu quả trong toàn ngành Tư pháp.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý - Kết quả đạt được và một số định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý - Kết quả đạt được và một số định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bài viết về kết quả đạt được của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới.
Công tác đăng ký biện pháp bảo đảm và bồi thường nhà nước - Thành tựu đạt được và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Công tác đăng ký biện pháp bảo đảm và bồi thường nhà nước - Thành tựu đạt được và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết về thành tựu đạt được của công tác đăng ký biện pháp bảo đảm, bồi thường nhà nước và định hướng phát triển trong giai đoạn mới.
Công tác xuất bản phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp - Thành tựu đạt được và định hướng phát triển

Công tác xuất bản phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp - Thành tựu đạt được và định hướng phát triển

Nhà xuất bản Tư pháp là cơ quan của Bộ Tư pháp, có chức năng, nhiệm vụ xuất bản các xuất bản phẩm nhằm phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ, ngành Tư pháp, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: