Thứ tư 26/08/2026 21:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khoa học pháp lý với công tác xây dựng và phát triển Bộ, ngành Tư pháp

Trong những năm qua, hoạt động khoa học của Viện đã góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạch định chính sách, xây dựng các dự án, dự thảo văn bản pháp luật quan trọng của đất nước; tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho hoạt động quản lý nhà nước của Bộ, ngành; cũng như tham mưu cho Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền trong việc triển khai Chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW) của Bộ Chính trị.

1. Viện khoa học pháp lý (tiền thân là Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý) được thành lập vào ngày 04/8/1983 theo Quyết định số 127-QĐ/TC ngày 04/8/1983 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trải qua hơn 38 năm xây dựng và trưởng thành, Viện khoa học pháp lý luôn được Lãnh đạo Bộ tin tưởng giao thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của Bộ, ngành Tư pháp và nền khoa học pháp lý nước nhà.

Về tổ chức và hoạt động của Viện khoa học pháp lý hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 2042/QĐ-BTP ngày 24/7/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện khoa học pháp lý. Theo đó, Viện khoa học pháp lý (sau đây gọi là Viện) là tổ chức nghiên cứu chiến lược, chính sách của Bộ Tư pháp có chức năng nghiên cứu về xây dựng, thi hành pháp luật và các lĩnh vực công tác khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Bộ) phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước của Bộ, góp phần thực hiện cải cách pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý công tác nghiên cứu khoa học pháp lý; làm đầu mối thông tin khoa học pháp lý thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

2. Trong lĩnh vực nghiên cứu chiến lược xây dựng, thi hành pháp luật và quản lý Bộ, ngành Tư pháp, một trong những định hướng nghiên cứu chính của Bộ đã tập trung vào nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng cường năng lực của ngành Tư pháp trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế theo hướng tinh gọn, phân cấp, phối hợp rõ ràng và bảo đảm hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Theo định hướng này, công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp đã tập trung: (i) Nghiên cứu, tổng kết quá trình xây dựng và trưởng thành của tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và của ngành Tư pháp nói riêng, trên cơ sở đó xác định một hệ thống quan điểm, nguyên tắc phát triển Bộ, ngành Tư pháp; hình thành mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của Bộ, ngành Tư pháp phù hợp với điều kiện mới. (ii) Nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng cường năng lực của Bộ, ngành Tư pháp trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao, trọng tâm là các giải pháp nhăm tăng cường năng lực của ngành tư pháp trong xây dựng pháp luật, trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp. (iii) Nghiên cứu luận cứ khoa học và thực tiễn; phân tích các yếu tố ảnh hưởng và dự báo xu hướng phát triển của Bộ, ngành Tư pháp. (iv) Nghiên cứu khả năng và giải pháp thực hiện việc xã hội hoá một số hoạt động bổ trợ tư pháp nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động này. (v) Nâng cao chất lượng đào tạo; tăng cường năng lực trong đào tạo các chức danh tư pháp... Các nhiệm vụ khoa học chính đã được triển khai trong lĩnh vực này từ 2001 đến nay có thể kể đến như sau:

2.1. Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2013 là giai đoạn với nhiều sự kiện, hoạt động quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, gắn liền với Đại hội X (năm 2006), Đại hội XI của Đảng (năm 2011). Trong giai đoạn này, Đảng ta cũng ban hành và tổ chức triển khai Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (theo Nghị quyết số 48-NQ/TW), Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (theo Nghị quyết số 49-NQ/TW); tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) và xây dựng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 2011 (Cương lĩnh năm 2011)… Cũng trong giai đoạn này, Nhà nước ta đã tiến hành tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) nhằm xây dựng Hiến pháp mới (Hiến pháp năm 2013) đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Với bối cảnh đó, cùng với các đề tài, nhiệm vụ được triển khai ở giai đoạn trước, các đề tài, nhiệm vụ khoa học đã có những đóng góp cơ bản sau:

Thứ nhất, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc xây dựng và tổ chức triển khai các định hướng cải cách pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính theo Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW, Chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2020 của Chính phủ. Điển hình là các đề tài/nhiệm vụ sau: “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” (năm 2002, đề tài cấp nhà nước); “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp” (năm 2002); “Điều tra cơ bản về tình hình hoạt động của cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân” (dự án năm 2003); “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự - Cơ sở lý luận và thực tiễn” (năm 2003); “Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp ở TP. Hồ Chí Minh” (2005); “Những vấn đề lý luận, thực tiễn của việc xã hội hoá dịch vụ công trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp và hành chính tư pháp (yêu cầu có thí điểm)” (2005); “Các luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu của Bộ Tư pháp phục vụ cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” (2005); “Cải cách hành chính tư pháp dưới thời Lê (Thế kỷ 15 - 17) và bài học kinh nghiệm đặt ra cho ngành Tư pháp” (2005); “Nhận diện quan điểm hành chính phát triển và việc vận dựng vào điều kiện cải cách hành chính ở Việt Nam và ngành Tư pháp” (2006); “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay” (năm 2007, đề tài cấp nhà nước); “Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp” (năm 2009); “Hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước” (2009); “Quan điểm về hệ thống pháp luật trong Nghị quyết 48-NQ/TW và việc ứng dụng vào hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật” (năm 2011); “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (năm 2011); “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước” (năm 2012); “Cải cách tư pháp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (nghiên cứu chuyên đề lý luận theo yêu cầu của Hội đồng lý luận Trung ương năm 2013); “Thực trạng công tác thi hành án hình sự, dân sự và hành chính phục vụ chủ trương thống nhất quản lý công tác thi hành án dân sự” (Điều tra cơ bản năm 2012); “Tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính” (2013)…

Thứ hai, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ sự tham gia của Bộ Tư pháp và các đơn vị trong Bộ Tư pháp trong quá trình tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 và xây dựng một số nội dung của Hiến pháp năm 2013. Điển hình là các đề tài sau: “Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện quyền Hiến định của công dân về tham gia quản lý Nhà nước” (năm 2010); “Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện quyền hiến định của công dân trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) về tham gia quản lý nhà nước” (năm 2010); “Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các nước ASEAN” (năm 2010); “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung quy định của Hiến pháp năm 1992 về Chế độ kinh tế phù hợp tình hình mới” (đề tài nhánh cấp Nhà nước năm 2011); “Mô hình tổ chức quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp 1946 - những giá trị lịch sử và đương đại” (năm 2011); “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân địa phương (góp phần sửa đổi chế định Hội đồng nhân dân trong Hiến pháp năm 1992)” (2011); “Mô hình tổ chức quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp 1946 - những giá trị lịch sử và đương đại” (năm 2011); “Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1992” (năm 2012); “Phân công quyền lực giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương tại Việt Nam - Lịch sử, lý luận và thực tiễn” (năm 2012)…

Thứ ba, tiếp tục cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng ngành Tư pháp. Các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu đã góp phần đánh giá toàn diện quá trình phát triển của ngành Tư pháp từ khi thành lập; đưa ra dự báo về mô hình, tổ chức và hoạt động của ngành Tư pháp trước yêu cầu mới của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điển hình là các đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện hệ tiêu chuẩn các chức danh tư pháp” (năm 2003); “Cơ quan Tư pháp cấp huyện - Thực trạng và giải pháp” (năm 2003); “Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam: Thực trạng, nhu cầu và định hướng phát triển” (năm 2003); “Phân cấp quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp” (năm 2006); “Tăng cường năng lực tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp” (2008); “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển ngành Tư pháp thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (năm 2008); dự án điều tra cơ bản “Tổ chức và hoạt động của các tổ chức thuộc ngành Tư pháp quản lý phục vụ trực tiếp việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển ngành Tư pháp giai đoạn 2011 - 2020” (năm 2008 - 2011); “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020” (năm 2010); “Nghiên cứu vai trò của Bộ Tư pháp trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế liên quan đến thực thi các cam kết WTO” (năm 2010);Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật” (năm 2011); “Mô hình tổ chức Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương giai đoạn 2011 - 2016 và định hướng đến năm 2020” (năm 2011); “Nâng cao năng lực của công chức, viên chức nữ ngành Tư pháp để đáp ứng yêu cầu công tác Tư pháp giai đoạn 2011 - 2020” (năm 2011); “Nghiên cứu xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi cam kết quốc tế của Việt Nam về quyền con người trong lĩnh vực hành chính tư pháp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp” (năm 2012); “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng nội dung, hoàn thiện chương trình và phương pháp đào tạo cử nhân ngành luật thương mại quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta” (năm 2012); “Hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo các chức danh tư pháp tại Học viện Tư pháp - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” (năm 2013); “Các giải pháp tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” (năm 2013); “Nghiên cứu mô hình quản lý dịch vụ công của ngành Tư pháp” (năm 2013); “Xây dựng tiêu chí đánh giá, kiểm soát chất lượng hoạt động xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp” (năm 2013); “Tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính” (năm 2013)...

2.2. Từ năm 2014 đến nay là giai đoạn gắn liền với việc tổ chức triển khai Hiến pháp năm 2013 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện và đồng bộ đất nước. Đây cũng là giai đoạn diễn ra quá trình tổng kết 30 năm đổi mới, gắn với việc xây dựng và triển khai các văn kiện của Đại hội XII (năm 2016) của Đảng. Trong giai đoạn này, các đề tài, nhiệm vụ này tiếp tục đóng góp tích cực cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và phát triển ngành Tư pháp, cụ thể:

Thứ nhất, các nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ trực tiếp việc thể chế hóa đầy đủ các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Điển hình là các đề tài, nhiệm vụ sau: “Định hướng thể chế hóa bằng pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người trong Hiến pháp năm 2013” (năm 2014); “Thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ theo Hiến pháp sửa đổi năm 2013” (năm 2014); “Tăng cường vai trò của Bộ Tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013” (năm 2015); Chương trình khoa học cấp bộ “Nghiên cứu khoa học và xây dựng bình luận khoa học về Hiến pháp năm 2013” (năm 2015 - 2016),[1] “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảo đảm thi hành quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền dân sự, chính trị” (năm 2015), “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam” (năm 2015), “Nghiên cứu mô hình thiết chế quốc gia bảo vệ quyền con người của một số nước trên thế giới và đề xuất mô hình ở Việt Nam” (năm 2015), “Nguyên tắc về quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong Hiến pháp năm 2013 và những vấn đề pháp lý đặt ra” (năm 2016), “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế bảo hiến theo tinh thần Hiến pháp năm 2013” (năm 2016), “Hoàn thiện cơ chế quản trị tòa án để đảm bảo độc lập theo tinh thần Hiến pháp năm 2013” (năm 2016)Năm 2018, Viện khoa học pháp lý đã tham mưu với Lãnh đạo Bộ Tư pháp thiết kế và tổ chức chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ giai đoạn 2018 - 2020 “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013”. Đây là chương trình nghiên cứu đã giải đáp được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình triển khai nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.

Thứ hai, các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp tục góp phần triển khai các định hướng cải cách pháp luật và cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW. Điển hình là các đề tài, nhiệm vụ sau: “Đánh giá tác động kinh tế xã hội của việc thí điểm chế định thừa phát lại” (năm 2014); “Mô hình Hội đồng Tư pháp quốc gia của một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam” (năm 2014); “Nghiên cứu đánh giá kết quả 10 thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam” (năm 2015); “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xác định nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2030” (năm 2015); “Đánh giá quá trình phát triển của Hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2005 - 2015” (năm 2015) (các công trình nghiên cứu này đã trực tiếp phục vụ việc xây dựng dự thảo Báo cáo của Bộ Tư pháp và Báo cáo của Ban Cán sự Đảng Chính phủ tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW); “Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật Thừa phát lại” (năm 2016) …

Thứ ba, các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp tục cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, góp phần xây dựng một số đề án, dự án quan trọng do Bộ Tư pháp chủ trì. Điển hình là các đề tài, nhiệm vụ sau: “Luận cứ khoa học và thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý” (năm 2014), “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật Tư pháp quốc tế” (năm 2014), “Kinh nghiệm thi hành án hành chính của một số nước trên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam” (năm 2014), “Nhận diện những vướng mắc, bất cập của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước và định hướng sửa đổi, bổ sung” (năm 2014), “Nghiên cứu tính thống nhất giữa Bộ luật Hình sự trong việc quy định các tội phạm với các luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam” (năm 2015), “Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước Việt Nam và đề xuất biện pháp phòng ngừa” (năm 2016), “Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Lý lịch tư pháp” (năm 2016), “Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bí mật dữ liệu cá nhân” (năm 2016), “Hoàn thiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay” (năm 2017)... Bên cạnh đó, Viện Khoa học pháp lý đã nghiên cứu khảo sát “Đánh giá tác động kinh tế - xã hội của việc thí điểm thừa phát lại tại một số tỉnh/thành phố” (năm 2014 - 2015), đưa ra những dự báo xu hướng và khả năng phát triển của nghề Thừa phát lại, mô hình tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Đồng thời, kết quả nghiên cứu, khảo sát đã đưa ra được những đề xuất, kiến nghị về chính sách, thể chế, điều kiện bảo đảm triển khai chế định Thừa phát lại sau khi kết thúc thí điểm. Báo cáo kết quả của đề án được sử dụng để phục vụ Hội nghị Tổng kết việc thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại các tỉnh/thành và phục vụ cho Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII (tháng 11/2015). Viện khoa học pháp lý cũng đã nghiên cứu đề án khoa học “Nghiên cứu mô hình trợ giúp pháp lý trong xu hướng xã hội hóa dịch vụ công” với những kiến nghị, đề xuất được chuyển tải kịp thời vào Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào ngày 01/6/2015) và hiện đang được triển khai áp dụng trong thực tế như: Nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý, tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý trong đó chú trọng vụ việc tham gia tố tụng; duy trì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý của Nhà nước theo hướng tinh gọn, giảm bớt chi phí bộ máy hành chính, tập trung nguồn lực cho việc nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý... Năm 2017, Viện khoa học pháp lý đã tham mưu với Lãnh đạo Bộ Tư pháp thiết kế và tổ chức chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ giai đoạn 2017 - 2021 “Những vấn đề pháp lý mới phát sinh trong tư pháp quốc tế và trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế”. Chương trình nghiên cứu được kỳ vọng sẽ giải đáp các vấn đề tư pháp quốc tế mới đặt ra từ thực tiễn mở cửa, hội nhập ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trong đó có các vấn đề liên quan tới việc sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch, gia nhập một số công ước của Hội nghị La Hay, sửa đổi, bổ sung Luật Tương trợ tư pháp…

Thứ tư, tiếp tục cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng, phát triển Bộ, ngành Tư pháp. Các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu đã góp phần đánh giá toàn diện về Bộ, ngành Tư pháp; đưa ra dự báo về mô hình, tổ chức và hoạt động của ngành Tư pháp trước yêu cầu mới của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điển hình là các đề tài: “Hoàn thiện mô hình tổ chức của Bộ, ngành Tư pháp giai đoạn 2021 - 2035 đảm bảo nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước” năm 2018; Đề tài “Xây dựng tiêu chí, mô hình, quy trình và phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp” năm 2018; đề tài “Các giải pháp đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay” năm 2018; nhiệm vụ “Khảo sát, đánh giá thực trạng Bộ, ngành Tư pháp từ năm 2013 đến nay phục vụ đổi mới, sắp sếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” năm 2019. Để góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả công tác thi hành pháp luật đã có các đề tài: “Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2016; “Hoàn thiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay” năm 2017 và “Cơ sở lý luận, thực tiễn và những định hướng lớn xây dựng Luật Tổ chức thi hành pháp luật” năm 2020.

Thứ năm, tiếp tục thực hiện định hướng “xây dựng Trường đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”; tăng cường năng lực trong đào tạo các chức danh tư pháp, “xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo cán bộ tư pháp”. Điển hình là các đề tài: “Các giải pháp tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” năm 2013; Đề tài “Hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo các chức danh tư pháp tại Học viện Tư pháp – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” năm 2013; Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống chuẩn đầu ra cho các bậc đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội” năm 2014; “Đào tạo nguồn nhân lực tham gia giải quyết tranh chấp đầu tư và thương mại quốc tế” năm 2015; “Đổi mới hoạt động giảng dạy và đánh giá kết quả học tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội” năm 2016 và đề tài “Sử dụng án lệ trong hoạt động đào tạo cán bộ pháp luật, tư pháp ở Việt Nam hiện nay” năm 2017.

3. Các đóng góp cụ thể của khoa học pháp lý với sự phát triển của Bộ, ngành Tư pháp nói riêng và của Nhà nước nói chung như sau:

Thứ nhất, với bề dày về lý luận và tổng kết thực tiễn tích lũy được qua gần 40 năm tổ chức và hoạt động, trong thời gian qua, Viện khoa học pháp lý đã hoàn thành tốt việc chủ trì, tham mưu với Lãnh đạo Bộ tham gia xây dựng, góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng (nhất là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng), các văn kiện của Trung ương[2], tham gia góp ý đối với dự thảo văn kiện của nhiều tỉnh, đảng bộ địa phương[3]. Trên cơ sở “chất liệu” từ quá trình nghiên cứu khoa học và tham khảo ý kiến các chuyên gia, nhà hoạt động thực tiễn, bám sát các chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, Viện khoa học pháp lý đã chủ trì tham mưu với Lãnh đạo Bộ Tư pháp đề xuất nhiều nội dung liên quan tới việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật và cải cách tư pháp được các cơ quan có thẩm quyền đánh giá cao. Nhiều ý kiến của Bộ Tư pháp đã được tiếp thu để hoàn thiện dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Cũng từ các kết quả nghiên cứu, Viện đã hoàn thành việc góp ý cho gần 20 báo cáo chính trị của các tỉnh, đảng bộ địa phương. Viện khoa học pháp lý cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ chủ trì tham mưu với Lãnh đạo Bộ tổng kết 15 năm triển khai Chiến lược cải cách tư pháp trong Bộ, ngành Tư pháp, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với Chính phủ thực hiện tốt việc tổng kết 15 năm triển khai Chiến lược cải cách tư pháp thuộc phạm vi, trách nhiệm của Chính phủ.

Thứ hai, các nghiên cứu do Viện chủ trì hoặc quản lý tiếp tục góp phần bổ sung, phát triển các khía cạnh lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013. Đặc biệt, từ năm 2018 đến 2020, Viện đã chủ trì và hoàn thành Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013” trong đó, việc giải mã các khía cạnh lý luận về quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền năng này cùng những ưu điểm và cả hạn chế, bất cập trong cơ chế đó hiện nay đã được đánh giá. Nhiều phát hiện về những điểm cần hoàn thiện, căn chỉnh thêm của cơ chế này có giá trị tham khảo tốt trong công tác xây dựng, hoạch định chính sách trong thời gian tới.

Thứ ba, các nghiên cứu do Viện chủ trì hoặc quản lý trực tiếp đã góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ đắc lực cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế và mô hình quản lý của ngành Tư pháp. Theo tổng kết, hầu hết các dự án luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo đều có sự đóng góp của các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học[4].

Thứ tư, Viện đã chủ trì tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học cũng góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn hoạch định chính sách, pháp luật phục vụ quá trình hội nhập quốc tế về tư pháp, pháp luật của Việt Nam. Từ năm 2017 đến nay, Viện đã triển khai Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Những vấn đề pháp lý mới phát sinh trong tư pháp quốc tế và trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế” với hàng chục đề tài, hội thảo nhánh để nhận diện được các xu hướng phát triển của tư pháp quốc tế hiện nay trên thế giới, đánh giá thực trạng lĩnh vực tư pháp quốc tế ở Việt Nam; nghiên cứu khả năng gia nhập các điều ước quốc tế của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế để nhận biết các thuận lợi, khó khăn, thách thức, từ đó đề xuất các kiến nghị cụ thể về gia nhập từng văn kiện cụ thể của Hội nghị La Hay.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Đảng ta đã đặt ra mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 trở thành “nước phát triển, thu nhập cao”, Bộ, ngành Tư pháp đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, đòi hỏi các quyết sách của Bộ, Ngành cần được nâng tầm phù hợp. Điều đó đòi hỏi công tác nghiên cứu khoa học của Bộ, ngành Tư pháp cần tiếp tục nâng lên tầm cao mới nhằm đề xuất được các giải pháp xử lý ở tầm tổng thể, toàn cục dựa trên các phân tích, dự báo có tính dài hạn. Thêm vào đó, trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ, Viện khoa học pháp lý cần phải thể hiện rõ nét hơn nữa khả năng hội nhập, khẳng định được uy tín, vị thế của mình không chỉ trong nền khoa học pháp lý nước nhà mà cần trở thành địa chỉ nghiên cứu khoa học pháp lý có uy tín trong khu vực ASEAN và từng bước vươn ra với thế giới./.

ThS. Dương Bạch Long

Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp


[1] Cuốn Bình luận khoa học Hiến pháp năm 2013 với tư cách là sản phẩm chính của chương trình này đã được xuất bản đầu năm 2018.

[2] Tham gia xây dựng Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành trung ương Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành trung ương Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

[3] Ví dụ: Tổ chức nghiên cứu thực hiện: (1) Chuyên đề “Đánh giá toàn diện công tác xây dựng, thực hiện pháp luật, các mục tiêu cải cách tư pháp giai đoạn 2011-2020 và mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2021-2030, kế hoạch 5 năm 2021 -2025” và (2) Chuyên đề “Phân tích mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của giai đoạn 2011 - 2020 và vấn đề đặt ra trong giai đoạn 2021 - 2030, kế hoạch 5 năm 2021 - 2025”. Đây là những chuyên đề trực tiếp cung cấp chất liệu cho Tổ Biên tập xây dựng dự thảo tài liệu văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, nhiều ý kiến kiến nghị đã được tiếp thu trực tiếp trong dự thảo tài liệu văn kiện. Báo cáo góp ý vào các Dự thảo văn kiện do Ban Chấp hành trung ương khóa XII trình Đại hội Đảng lần thứ XIII: Góp ý của Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp gửi Văn phòng Trung ương Đảng góp ý dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; góp ý của Đảng ủy Bộ Tư pháp gửi Ban Tuyên giao TW góp ý dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng. (3) Nghiên cứu, xây dựng Báo cáo đánh giá, tổng kết 03 năm thực hiện Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 03/10/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

[4] Ví dụ: Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng Luật” (phục vụ việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật); Đề tài “Hoàn thiện thể chế nhằm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân”; Đề tài “Hoàn thiện thể chế nhằm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân”; Đề tài “Nghiên cứu xây dựng những định hướng chính sách lớn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật nuôi con nuôi 2010”; Đề tài “Nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp đến năm 2030”; Đề tài “Nghiên cứu xây dựng những định hướng chính sách lớn hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính” (phục vụ xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020); Dự án điều tra cơ bản “Thực tiễn thi hành một số quy định mới của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012”; Đề tài “Hoàn thiện mô hình tổ chức của Bộ, ngành Tư pháp giai đoạn 2021 - 2035 đảm bảo nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước” năm 2018; Đề tài “Xây dựng tiêu chí, mô hình, quy trình và phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp” năm 2018; Đề tài “Các giải pháp đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay” năm 2018; nhiệm vụ “Khảo sát, đánh giá thực trạng Bộ, ngành Tư pháp từ năm 2013 đến nay phục vụ đổi mới, sắp sếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” năm 2019…

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: