Thứ năm 27/08/2026 14:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm pháp điển hóa của Mỹ và Liên minh châu Âu

Hiện tượng pháp điển hóa và cùng với nó là sự xuất hiện của các bộ luật đã tồn tại từ hơn 4000 năm qua ở nhiều khu vực trên thế giới với nhiều hình thức, tên gọi, phương pháp khác nhau[1].

Hiện tượng pháp điển hóa và cùng với nó là sự xuất hiện của các bộ luật đã tồn tại từ hơn 4000 năm qua ở nhiều khu vực trên thế giới với nhiều hình thức, tên gọi, phương pháp khác nhau[1].

Các học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra nhiều phương pháp pháp điển hóa trên cơ sở khái niệm pháp điển hóa mà họ xây dựng hay thừa nhận[2]. Một số học giả nhất trí đưa ra 04 phương pháp cơ bản trên cơ sở gắn kết khái niệm pháp điển hóa với khái niệm về bộ luật[3]. Theo đó, phương pháp thứ nhất được hiểu là việc tập hợp mang tính chính thức của Nhà nước hoặc tư nhân để nhóm các văn bản quy phạm pháp luật đang tồn tại hoặc sẽ được ban hành với mục đích thuận tiện cho việc tra cứu, sử dụng nhưng không sửa đổi mà chỉ sắp xếp các quy phạm theo trật tự nhất định. Phương pháp thứ hai được coi là sự hợp nhất hoặc các quy phạm lập pháp và các án lệ hoặc các văn bản kế tiếp nhau theo trật tự logic và trình tự thời gian để điều chỉnh một lĩnh vực nhất định. Phương pháp thứ ba là hình thức cao nhất của việc hoàn thiện pháp luật mà việc xây dựng Bộ luật dân sự Pháp năm 1804 được coi như một ví dụ điển hình. Phương pháp cuối cùng là việc sắp xếp theo trật tự nhất định các quy định đang có hiệu lực trong một lĩnh vực nhất định theo chủ đề.

Bên cạnh các phương pháp nêu trên, có nhiều học giả, nhà nghiên cứu còn đưa ra nhiều phương pháp khác. Tuy nhiên, cơ bản chỉ có hai phương pháp được thừa nhận là phương pháp chính và được coi như đối lập giữa “ngày và đêm”[4]. Pháp điển hóa hành chính và pháp điển hóa mang tính quy phạm hóa; pháp điển hóa hình thức và pháp điển hóa thực tế; pháp điển hóa gắn với soạn thảo và pháp điển hóa mang tính tập hợp; pháp điển hóa theo kiểu napoleon với pháp điển hóa hành chính hay pháp điển hóa có sửa đổi với pháp điển hóa không sửa đổi; pháp điển hóa tĩnh và pháp điển hóa năng động; pháp điển hóa gắn với chất lượng và pháp điển hóa gắn với số lượng.

Sự thừa nhận hay phân biệt các hình thức, phương pháp pháp điển hóa khác nhau kéo theo phương pháp, kỹ thuật pháp điển hóa cũng khác nhau và do đó, kinh nghiệm pháp điển hóa của các nước cũng có nhiều điểm tương đồng và khác biệt.

1. Pháp điển hóa của Mỹ

Ý tưởng pháp điển hóa xuất hiện tương đối sớm ở Mỹ. Có học giả phân chia pháp điển hóa tại Mỹ ra 03 giai đoạn: Giai đoạn từ năm 1800 - 1865 được gọi là thời kỳ bị cuốn hút bởi pháp điển hóa; giai đoạn từ năm 1865 - 1910 đặc trưng bởi sự dị ứng với pháp điển hóa và giai đoạn thứ 03 từ những năm 1945 với việc pháp điển hóa nhưng vẫn còn hoài nghi[5]. Việc phân chia này chủ yếu dựa trên quan điểm chính trị của các chính trị gia và văn hóa pháp lý cũng như tính thực dụng của người Mỹ.

Về phương pháp thực hiện pháp điển, ở Mỹ cũng tồn tại hai hình thức pháp điển cơ bản: Pháp điển hóa hình thức và pháp điển hóa về nội dung.

Đối với pháp điển hóa về nội dung, có thể kể đến Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự của bang Louisianna được ban hành trong thế kỷ XIX theo mô hình các bộ luật của Cộng hòa Pháp. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng có 50 Bộ luật Hình sự của 50 tiểu bang và Bộ luật Hình sự của liên bang. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng có một bộ luật khác được thông qua tại tất cả các tiểu bang và được áp dụng thống nhất[6].

Về pháp điển hóa hình thức tại Mỹ, có thể coi U.S Statutes at Large, United States Revised Statutes và Code là các hình thức khác nhau của pháp điển hóa. Tuy nhiên, chỉ có các bộ pháp điển được thực hiện bởi Hội đồng sửa đổi luật thuộc Quốc hội Mỹ (U.S. Code) và Cơ quan hành chính liên bang (Code of Federal Regulations - C.F.R) được coi là bộ pháp điển chính thức của Hoa Kỳ.

Bộ pháp điển các luật liên bang chỉ chứa đựng những đạo luật của Nghị viện và được chia thành 50 chủ đề khác nhau một cách logic theo lĩnh vực lập pháp và được Quốc hội thông qua vào năm 1926. Quốc hội Mỹ có thể xem xét phê chuẩn từng chủ đề. Những chủ đề được phê chuẩn sẽ có giá trị như luật. Vào thời điểm năm 2014, sau gần 90 năm, mới chỉ có 26 trong tổng số 50 chủ đề được chính thức hóa. Những chủ đề còn lại đang tồn tại dưới dạng “luật tham khảo” trong khi đó các luật gốc vẫn tiếp tục có hiệu lực[7].

Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang được công bố trên Tạp chí Đăng ký liên bang (Federal Register). Theo đó, các quy định pháp luật hiện hành được pháp điển hóa, sắp xếp theo chủ đề gồm 50 quyển tương tự với Bộ pháp điển các luật của liên bang (U.S Code)[8]. Mỗi quyển của Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang được chia thành chương và phần, trong đó, các chương thường mang tên của cơ quan ban hành. Số lượng tập của mỗi quyển - lĩnh vực khác nhau tùy theo khối lượng quy phạm. Tổng cộng hiện nay ứng với 50 quyển - chủ đề đã có tới 216 tập/cuốn và số lượng này sẽ còn tăng lên[9].

2. Pháp điển hóa của Liên minh châu Âu

Hiện tượng pháp điển hóa không giới hạn ở pháp luật quốc gia mà đã xuất hiện cả trong pháp luật quốc tế. Trong khuôn khổ của Liên minh châu Âu, ngay từ khi mới thành lập Cộng đồng châu Âu và sau đó là Liên minh châu Âu, các cơ quan của tổ chức này đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận pháp luật, ngày 01/4/1987, Ủy ban châu Âu đã ra quyết định bắt buộc các cơ quan trực thuộc phải đề xuất pháp điển hóa hoặc hợp nhất các văn bản của Ủy ban chậm nhất là sau lần sửa đổi thứ 10 của mỗi văn bản[10]. Tháng 12/1992, Hội đồng châu Âu đã đề cập những vấn đề mang tính chính trị ở mức cao nhất đồng thời thúc đẩy nhiều hoạt động liên quan tới tính dễ tiếp cận, tính minh bạch và chất lượng văn bản của cộng đồng châu Âu, bao gồm cả pháp điển hóa. Cụ thể hơn, ngày 20/12/1994, ba cơ quan quan trọng nhất của Liên minh châu Âu là Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu đã ký một thỏa thuận về pháp điển hóa chính thức các văn bản lập pháp. Năm 2001, một bản thỏa thuận liên cơ quan nữa đã đề cập tới phương pháp mới gọi là “soạn lại”. Bản thỏa thuận mới này đã cho phép thành lập một nhóm tư vấn từ các tổ chức “pháp chế” của ba cơ quan nói trên. Nhóm này có trách nhiệm kiểm tra tất cả các dự thảo của văn bản thuộc diện soạn lại. Bên cạnh đó, sự ủng hộ về mặt chính trị của các thể chế của Liên minh châu Âu còn được thể hiện một cách rõ ràng đối với việc pháp điển hóa Bộ luật Dân sự châu Âu, Bộ luật Hợp đồng châu Âu, Bộ luật về các quyền và tự do cơ bản, Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh châu Âu.

TS. Nguyễn Ngọc Vũ

Vụ Tổ chức cán bộ



[1]. Nguyễn Ngọc Vũ, Pháp điển hóa của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm đối với các nhà lập pháp Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Montpellier I, 2013, tr. 7.

[2]. Tại châu Âu, “Pháp điển hóa” (codification) xuất phát từ tiếng la tinh “codicem facere”, có nghĩa là làm một bộ luật. Cách giải thích thuật ngữ như trên được coi là một dạng định nghĩa về pháp điển hóa của nhiều bộ từ điển xuất bản ở các nước châu Âu. Tuy nhiên người ta cũng biết đến nhiều định nghĩa khác về pháp điển hóa. Ở Liên Xô trước đây, pháp điển hóa được coi là việc xây dựng một văn bản trên cơ sở các quy định của luật trong một lĩnh vực nhất định. Cũng gần tương tự như vậy, ở Hungary, khái niệm pháp điển hóa được gắn với trình tự, thủ tục trước khi thông qua một luật. Ngoài ra, để định nghĩa thuật ngữ pháp điển hóa, nhiều học giả không chỉ dựa trên kết quả cuối cùng là một bộ luật mà còn nhấn mạnh về mục đích và lý do cần có pháp điển hóa. Bên cạnh đó, còn có nhiều định nghĩa dựa trên mức độ tập hợp hóa các quy phạm pháp luật, các hình thức và phương pháp pháp điển hóa (xem Nguyễn Ngọc Vũ, Pháp điển hóa của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm đối với các nhà lập pháp Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Montpellier I, 2013, tr. 47).

[3]. Nguyễn Ngọc Vũ, Pháp điển hóa của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm đối với các nhà lập pháp Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Montpellier I, 2013, tr. 203.

[4]. Elysabeth CATTA, Hội thảo năm 2010 của Nhà pháp luật Việt - Pháp: Pháp điển hóa là việc tập hợp những văn bản đã có để hình thành bộ pháp điển hay xây dựng một bộ luật lớn.

[5]. Shael HERMAN, “Lịch sử và hướng đi của pháp điển hóa của Mỹ”, Tạp chí quốc tế về luật so sánh, số 3, tháng 9/1995, tr. 707.

[6]. Uniforme Commercial Code.

[7]. Nguyễn Ngọc Vũ, Pháp điển hóa của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm đối với các nhà lập pháp Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Montpellier I, 2013, tr. 241; Trần Văn Lợi, “Một số kinh nghiệm Pháp điển của Hoa Kỳ”, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4199, tra cứu ngày 22/7/2014.

[8]. Trần Văn Lợi, “Một số kinh nghiệm Pháp điển của Hoa Kỳ”, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4199, tra cứu ngày 22/7/2014.

[9]. Nguyễn Thị Hạnh (2007), Lịch sử và quy trình pháp điển hóa ở Hoa kỳ, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 1 (91) năm 2007.

[10]. H.Gérald CROSSLAND, “Pháp điển hóa pháp luật của Liên minh châu Âu”, Tạp chí hành chính công, số 82, 1997, tr. 257.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: