Thứ năm 15/01/2026 08:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Công nghệ thông tin - Thực trạng thi hành và một số kiến nghị hoàn thiện

Trong bài viết, tác giả giới thiệu tổng quan về Luật Công nghệ thông tin, sau đó phân tích những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi Luật Công nghệ thông tin và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Khái quát về Luật Công nghệ thông tin

Luật Công nghệ thông tin được Quốc hội thông qua năm 2006 là văn bản luật đầu tiên về công nghệ thông tin ở Việt Nam. Luật được ra đời trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập khu vực, quốc tế. Đảng và Nhà nước ta thời điểm đó cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản chỉ đạo, định hướng cho sự phát triển của công nghệ thông tin. Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã góp phần tạo hành lang pháp lý cơ bản để điều chỉnh các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tri thức, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Mặt khác, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 ra đời còn tạo ra sự đồng bộ với các luật có liên quan, đáp ứng yêu cầu hội nhập, thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam[1].

Luật Công nghệ thông tin năm 2006 bao gồm 6 chương, 79 điều được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm chủ đạo sau của Đảng và Nhà nước ta[2]:

Một là, thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển công nghệ thông tin, phù hợp với thực tiễn ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin của Việt Nam và cập nhật với trình độ phát triển của công nghệ thông tin trên thế giới.

Hai là, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp; thống nhất và đồng bộ với các đạo luật liên quan như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kế toán, Luật Giáo dục, Luật Doanh nghiệp, Luật Báo chí...; phù hợp với luật pháp quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan đến công nghệ thông tin mà Việt Nam là thành viên.

Ba là, tạo lập và hoàn thiện hành lang pháp lý để thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, coi ứng dụng công nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hội nhập kinh tế quốc tế và góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Bốn là, quy định những điều kiện thiết yếu để bảo đảm phát triển công nghiệp công nghệ thông tin thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể và ngày càng tăng cho GDP, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Năm là, không tạo ra rào cản cho sự phát triển: Luật Công nghệ thông tin tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin ở Việt Nam. Các quy định về quản lý, cấp phép, đăng ký chỉ quy định ở mức tối thiểu và cần thiết nhằm tạo ra môi trường rõ ràng, minh bạch và lành mạnh cho các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, theo đúng quan điểm chỉ đạo: “Năng lực quản lý phải theo kịp sự phát triển”.

Sáu là, tích hợp, đồng bộ với các luật, pháp lệnh khác: Tích hợp, bổ sung lẫn nhau với Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội ban hành để tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh, đồng bộ cho sự phát triển công nghệ thông tin tại Việt nam. Luật Công nghệ thông tin không điều chỉnh các vấn đề đã có trong các luật, pháp lệnh khác.

Trải qua 17 năm đi vào cuộc sống, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã có những đóng góp tích cực, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cho tới nay, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện. Luật mới chỉ được sửa đổi, bổ sung một số điều cho phù hợp với các Luật Quy hoạch năm 2017 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023[3]. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin, những thay đổi lớn về khoa học, công nghệ, cùng với yêu cầu về an toàn, an ninh đòi hỏi pháp luật về công nghệ thông tin cần có những cơ chế điều chỉnh mới phù hợp và hiệu quả hơn.

2. Thực trạng thi hành Luật Công nghệ thông tin

Về cơ bản, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 bao gồm 02 phần nội dung chính liên quan đến phát triển công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Từ khi Luật có hiệu lực cho đến nay đã góp phần phát triển công nghệ thông tin và công nghiệp công nghệ thông tin: Các quy định này trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã giúp ngành công nghiệp công nghệ thông tin đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tổng doanh thu công nghiệp công nghệ thông tin năm 2020 đạt gấp 20 lần so với năm 2009 và gấp hơn 2 lần so với năm 2015. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2015 - 2020 đạt bình quân 15,2%/năm cao hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP, trở thành một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, quy mô lớn nhất cả nước[4]. Các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã cơ bản thiết lập được hành lang pháp lý cho các hoạt động công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ điện tử và đạt được nhiều kết quả tích cực như: Hạ tầng kỹ thuật cơ bản đáp ứng được nhu cầu; cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm đã hoàn thành, đi vào khai thác, sử dụng hiệu quả; việc trao đổi văn bản trên hệ thống văn bản điện tử đã đi vào nền nếp; nhiều dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 đã được triển khai; xếp hạng quốc gia về Chính phủ điện tử được cải thiện rõ rệt[5]…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, sau 17 năm thi hành, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện. Cụ thể như sau:

Một là, trong công tác quản lý và thúc đẩy hoạt động công nghiệp công nghệ thông tin thời gian qua đã bộc lộ một số vướng mắc do thiếu đồng bộ trong khái niệm, phân loại các loại hình công nghiệp công nghệ thông tin, đặc biệt là những năm gần đây với sự xuất hiện của công nghệ số chưa được định nghĩa trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nên khó khăn trong công tác quản lý và thúc đẩy công nghệ số phát triển.

Hai là, các quy định pháp luật liên quan đến công nghiệp công nghệ thông tin còn thiếu, gây khó khăn cho việc phát triển và quản lý các sản phẩm, dịch vụ mới liên quan tới công nghệ số. Các doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số mới gặp nhiều khó khăn do chưa được đặt tên, phân loại, chưa có chính sách hỗ trợ cũng như chưa có chế tài áp dụng. Mặc dù, chủ trương thúc đẩy sáng tạo, thiết kế, sản xuất, tích hợp, thử nghiệm ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trong nước đã được Bộ Chính trị, Chính phủ quán triệt, chỉ đạo trong các nghị quyết. Tuy nhiên, do chưa được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật nên việc thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số mới và đưa sản phẩm ra thị trường của doanh nghiệp có thể sẽ không thực hiện được.

Ba là, mặc dù, trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã đưa ra các chính sách về nghiên cứu, phát triển nguồn nhân lực, khu công nghệ thông tin tập trung, đầu tư cho công nghệ thông tin, phát triển thị trường… Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai, có thể thấy, các biện pháp đưa ra trong Luật còn khá chung chung, nhiều nội dung không còn phù hợp với sự phát triển thực tế hiện nay như[6]: (i) Chính sách ưu đãi đầu tư quy định tại Điều 48 chưa thực sự cụ thể, chưa thể hiện được định hướng trọng tâm trong ưu tiên phát triển; (ii) Chính sách phát triển nhân lực công nghệ thông tin quy định từ Điều 42 đến Điều 46 khá chung chung, quy định trách nhiệm giữa các bộ, ngành trong đào tạo và cấp chứng chỉ chưa rõ ràng, gây khó khăn cho công tác quản lý, triển khai. Luật cũng thiếu các chính sách nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, chính sách gắn việc đào tạo lý thuyết với thực tiễn…; (iii) Chính sách hỗ trợ phát triển thị trường chưa rõ ràng, cụ thể. Tại khoản 2 Điều 49 quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá, tiếp thị hình ảnh công nghiệp công nghệ thông tin… tuy nhiên không kèm theo các quy định về trách nhiệm, nguồn lực cụ thể để triển khai.

Bốn là, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 thiếu những quy định liên quan đến mô hình phát triển mới của khu công nghệ thông tin tập trung như mô hình chuỗi công viên phần mềm, hay mô hình liên kết, hợp tác trên môi trường số, không cùng một ranh giới địa lý; thiếu quy trình thực hiện dự án đầu tư khu công nghệ thông tin tập trung; chính sách về giao đất, cho thuê đất chưa rõ ràng trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành.

Năm là, vẫn còn khoảng trống mà Luật Công nghệ thông tin năm 2006 chưa thể bao trùm được, đặc biệt là các quy định pháp luật về phát triển dữ liệu số, bao gồm: Tiếp cận dữ liệu số; thu thập, sử dụng và kinh doanh dữ liệu số; chính sách ưu tiên phát triển dữ liệu số; sử dụng, khai thác dữ liệu số trong ngành công nghiệp công nghệ số…

Sáu là, thực tiễn về ứng dụng công nghệ thông tin giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, doanh nghiệp, người dân vẫn còn mang tính chất hình thức. Việc kết nối, chia sẻ, mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước còn rất hạn chế; các dịch vụ công trực tuyến vẫn do cơ quan nhà nước cung cấp là chủ yếu.

Bảy là, nhiều hoạt động của các cơ quan nhà nước vẫn chưa được đưa lên môi trường số. Các cơ quan chuyên trách công nghệ thông tin chưa phát huy hết vai trò tổ chức, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin. Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước vẫn thiếu năng lực, kỹ năng số để nhanh chóng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn chuyển đổi số. Tại nhiều địa phương, chưa có cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin mà chủ yếu là kiêm nhiệm gây khó khăn cho quá trình triển khai. Việc ứng dụng công nghệ thông tin ở một số cơ quan nhà nước chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với cải cách hành chính. Các thủ tục hành chính vẫn thiếu chuẩn hóa, thiếu liên thông, chưa tối ưu theo công nghệ số.

Trong quá trình thực thi Luật Công nghệ thông tin năm 2006, ngoài những vướng mắc, bất cập xuất phát từ các quy định của Luật nêu trên thì còn những vướng mắc liên quan đến nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý nhà nước về công nghệ thông tin. Theo đó, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc là do: Vai trò của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong công tác ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin chưa thực sự rõ nét; thiếu nhân lực có trình độ kỹ thuật cao cũng như kỹ năng quản lý tốt về công nghệ thông tin ở các cấp trung ương và địa phương đã làm giảm hiệu quả, chất lượng quản lý nhà nước về công nghệ thông tin; cơ quan chuyên trách về công nghệ thông tin tại một số bộ, ngành chưa phát huy được hiệu quả chức năng tham mưu, xây dựng, hướng dẫn kế hoạch về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; thiếu đồng bộ, chưa thống nhất trong tổ chức thực thi quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghệ thông tin; nhận thức về an toàn thông tin tại các đơn vị chưa cao, bộ phận chuyên trách về an toàn thông tin còn thiếu. Năng lực, trình độ kỹ thuật của cán bộ phụ trách an toàn thông tin còn hạn chế và chưa được đào tạo bài bản, nâng cao kỹ năng thường xuyên gây ảnh hưởng đến việc quản lý vận hành và duy trì các hệ thống thông tin tại đơn vị.

Ngoài ra, các bộ, ngành và địa phương cũng chưa thực sự coi trọng việc cấp kinh phí cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Cơ cấu phân bổ kinh phí chưa thực sự hợp lý. Kinh phí đầu tư cho công nghệ thông tin thời gian qua chủ yếu tập trung cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Kính phí cho ngành công nghiệp công nghệ thông tin, một ngành có những đóng góp trực tiếp vào GDP cả nước còn rất thấp. Vì vậy, vai trò của Nhà nước trong việc định hướng phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin chưa rõ nét, chủ yếu dựa vào hoạt động tự phát của doanh nghiệp. Mặc dù, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách nêu cao tầm quan trọng của ngành công nghiệp công nghệ thông tin nhưng đầu tư cho ngành này so với các lĩnh vực công nghiệp khác còn chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện

Để nâng cao hơn nữa vai trò của Luật Công nghệ thông tin trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, chúng ta cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp, các bộ, ngành trung ương và địa phương về vai trò, tầm quan trọng của công nghệ thông tin đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành; cũng như từng cán bộ, công chức, viên chức trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức cần gương mẫu, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin. Gắn với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành và thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ.

Thứ hai, Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, cân nhắc xây dựng Đề án sửa đổi toàn diện Luật Công nghệ thông tin năm 2006 để phù hợp hơn với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin cùng với nhiều hình thái phát triển mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin; đồng thời có sự thống nhất, đồng bộ với nhiều văn bản luật mới được ban hành, sửa đổi, bổ sung như: Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử… làm cơ sở, hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho ngành công nghệ thông tin phát triển, góp phần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, tiếp tục rà soát, tháo gỡ các rào cản trong các thể chế, chính sách và pháp luật để đẩy mạnh đầu tư phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin cho chuyển đổi số, gắn liền với phát triển kinh tế số. Hoàn thiện cơ chế giám sát, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng dự án phát triển kết cấu hạ tầng. Xây dựng thể chế cho việc hình thành, kết nối, chia sẻ và thương mại hóa các cơ sở dữ liệu quốc gia. Xây dựng cơ chế thu phí khai thác dữ liệu để củng cố và mở rộng dữ liệu của cơ quan nhà nước; hoàn thiện cơ chế phối hợp, hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp để xây dựng dữ liệu. Xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan về bảo mật dữ liệu người dùng, an ninh, an toàn thông tin nhằm tạo môi trường giao dịch số an toàn, tin cậy. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính, đầu tư đối với doanh nghiệp đầu tư, phát triển, ứng dụng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin cho chuyển đổi số[7].

Thứ tư, cân nhắc, xem xét việc tách phần “Phát triển công nghệ thông tin” ở Chương III để điều chỉnh bởi luật riêng do hiện tại, Bộ Thông tin và Truyền thông đang dự thảo xây dựng Luật Công nghiệp công nghệ số để trình Quốc hội cho ý kiến xem xét, thông qua vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2025.

Thứ năm, cần ưu tiên hoàn thiện, nâng cao chính sách phát triển nguồn lực công nghệ thông tin quy định cụ thể trong Luật Công nghệ thông tin sửa đổi hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, cần đưa ra các cơ chế ưu đãi, chế độ đặc thù nhằm thu hút chuyên gia công nghệ giỏi; nghiên cứu, đề xuất việc áp dụng mức lương, phụ cấp hợp lý đối với đội ngũ chuyên trách công nghệ thông tin nhằm tạo động lực cho nhân lực chất lượng cao yên tâm và nỗ lực cống hiến. Đưa ra cơ chế, chính sách đột phá tăng cường nguồn lực tài chính cho đào tạo nhân lực công nghệ thông tin. Đồng thời, cần đa dạng hóa huy động các nguồn vốn cho đầu tư nhân lực công nghệ thông tin, như: (i) Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo công nghệ thông tin; (ii) Hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; (iii) Tăng cường đàm phán, vận động và xúc tiến đầu tư để thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài.

Công nghệ thông tin được xác định là một phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi số, nhằm cung cấp các công nghệ cơ bản, góp phần thay đổi toàn diện cả về tổ chức, quy trình kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp đến sự tham gia của con người trong quá trình thực hiện. Vì vậy, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong chuyển đổi số là hết sức cần thiết trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tuy nhiên, để phát triển ngành công nghệ thông tin thì việc xây dựng hành lang pháp lý vững chắc là việc làm vô cùng cấp bách hiện nay. Luật Công nghệ thông tin sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành sẽ giúp đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam chuyển sang mô hình phục vụ lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, hướng tới nền hành chính hiện đại, minh bạch góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước./.

TS. Hà Thị Hằng

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

[1]. Đề cương giới thiệu Luật Công nghệ thông tin, Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp.

[2]. Tham khảo 03 văn bản hợp nhất: Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Văn phòng Quốc hội; Văn bản hợp nhất số 27/VBHN-VPQH ngày 02/8/2023 của Văn phòng Quốc hội.

[3]. Văn bản hợp nhất số 39/VBHN-VPQH ngày 27/12/2023 do Văn phòng Quốc hội ban hành hợp nhất Luật Công nghệ thông tin.

[4]. Đề nghị xây dựng Luật công nghiệp công nghệ số với 10 nhóm chính sách lớn, đăng tải trên trang web: https://vneconomy.vn/de-nghi-xay-dung-luat-cong-nghiep-cong-nghe-so-voi-10-nhom-chinh-sach-lon.htm.

[5]. Phân tích, đánh giá thực trạng thi hành Luật Công nghệ thông tin, đăng tải trên trang web: https://cspl.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=138560.

[6]. Phân tích một số bất cập của Luật Công nghệ thông tin, đăng tải trên trang web: https://cspl.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=138561.

[7]. TS. Võ Thành Phong và TS. Ngô Đình Sáng, Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong chuyển đổi số, đăng tải trên trang web: https://www.tuyengiao.vn/phat-trien-va-ung-dung-cong-nghe-thong-tin-trong-chuyen-doi-so-150022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: