Thứ ba 03/03/2026 17:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập trong các quy định về thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện cho nghĩa vụ của người khác

Thù lao là một khoản lợi ích vật chất bên thế chấp có thể đã hướng tới trước thời điểm xác lập thỏa thuận “thế chấp thay”. Khoản chi phí này được thể hiện rõ trong văn bản thỏa thuận

Việc một chủ thể có quyền dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để thế chấp cho việc thực hiện nghĩa vụ của người khác được ghi nhận lần đầu trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và được Bộ luật Dân sự 2015 tiếp tục kế thừa phát triển. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn còn những bất cập, hạn chế cần hoàn thiện để góp phần tạo sự ổn định các quan hệ dân sự, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên.

1. Khái quát về thế chấp tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác

Thế chấp tài sản là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thời điểm ra đời sớm nhất trong lịch sử phát triển luật dân sự của các quốc gia trên thế giới. Về ngữ nghĩa “thế chấp (tài sản) là dùng làm vật bảo đảm, thay thế cho số tiền vay nếu không có khả năng trả đúng hạn"[1]. Thế chấp dưới góc độ quy định pháp luật dân sự, được hiểu là một biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, nhưng không có sự chuyển giao tài sản. Việc nắm giữ giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản sẽ là yếu tố “làm tin” cho khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Bản chất của thế chấp tài sản, ngay từ thời điểm được thừa nhận trong quan hệ dân sự đã ghi nhận việc bên có nghĩa vụ chỉ dùng tài sản, chứ không chuyển giao tài sản cho bên có quyền. Tuy nhiên, việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản của mình hay sử dụng tài sản được phép của người thứ ba để bảo đảm thì được quy định tương đối khác biệt trong lịch sử phát triển quy định pháp luật dân sự ở Việt Nam về thế chấp tài sản.

Bộ luật Dân sự năm 1995 có quy định “thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền”[2]. Hợp đồng thế chấp tài sản là căn cứ phát sinh một nghĩa vụ bổ sung, việc thực hiện nghĩa vụ thế chấp này sẽ bổ sung trực tiếp cho phần nghĩa vụ chính còn thiếu. Do vậy, sẽ có hai mối quan hệ tồn tại gần như đồng thời là quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm và quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thế chấp. Bên có quyền đồng thời là bên nhận bảo đảm (nhận tài sản thế chấp). Ngược lại, bên thế chấp có luôn đồng nhất với bên có nghĩa vụ hay không? Căn cứ vào quy định của điều luật, người ta chỉ thừa nhận bên thế chấp phải là bên có nghĩa vụ và bên có nghĩa vụ phải dùng tài sản (là bất động sản) thuộc sở hữu của mình để bảo đảm. Nội dung của Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm cũng thể hiện rõ hơn nội dung của quy định này, cụ thể, khoản 1 Điều 22 quy định “tài sản bảo đảm bị xử lý khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Đến Bộ luật Dân sự năm 2005, tại khoản 1 Điều 342 về thế chấp tài sản có quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)…”. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã không còn sử dụng cách diễn đạt như một câu khẳng định, dạng như thế chấp là bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình nữa. Nội hàm khoản 1 Điều 342 đã có độ “thoáng” và có tính “mở” tương đối, đó là chỉ quy định một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, nhưng không hề khẳng định phải dùng tài sản đó để bảo đảm cho nghĩa vụ của chính mình. Sự thay đổi này là vô cùng cần thiết và hợp lý, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/ 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm cũng đã cụ thể hóa tinh thần của Bộ luật Dân sự tại khoản 1 Điều 4: “Tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền”.

Tóm lại, kể từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời, pháp luật đã thừa nhận việc một chủ thể có thể dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để thế chấp (ở góc độ rộng hơn là để bảo đảm) cho việc thực hiện nghĩa vụ của chính mình hoặc cũng có thể sử dụng tài sản mà mình sở hữu để thế chấp cho nghĩa vụ của một người khác (là người thứ ba, không liên quan đến quan đến quan hệ thế chấp giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp).

Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục kế thừa những quy định về thế chấp nói chung, trong đó có quy định việc dùng tài sản thế chấp cho nghĩa vụ của người khác nói riêng của Bộ luật Dân sự năm 2005. Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 giữ nguyên quy định của khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2005, theo đó thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Việc sử dụng tài sản thế chấp cho nghĩa vụ của người khác, hay nói cách khác người có nghĩa vụ có thể được bảo đảm bằng tài sản của người khác tiếp tục được thừa nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về mặt bản chất, việc dùng tài sản của chính bản thân để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác (là người thứ ba không liên quan đến mối quan hệ giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm) mà không có yếu tố chuyển giao tài sản bảo đảm thì chắc chắn đây là biện pháp thế chấp. Tuy nhiên, để nhận diện quan hệ dân sự này trên thực tế và để vận dụng, áp dụng pháp luật cho đúng thì cần phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa hình thức thế chấp này với biện pháp bảo lãnh.

Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định tại khoản 2 Điều 366: “Người bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc bằng việc thực hiện công việc”. Quy định này cho thấy pháp luật tại thời điểm đó cho phép bên bảo lãnh sử dụng một tài sản hoặc một công việc để làm đối tượng của biện pháp bảo đảm. Do vậy, về nội dung, việc bảo lãnh không khác so với việc một chủ thể thế chấp tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác. Tuy nhiên, quan điểm về bảo lãnh dân sự đã được thay đổi triệt để ngay trong Bộ luật Dân sự năm 2005 khi Bộ luật này quy định theo hướng đối tượng của bảo lãnh chỉ có thể là công việc. Trong bảo lãnh, bên thứ ba (bên bảo lãnh) sẽ cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo đảm) để thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu nghĩa vụ đến hạn mà có sự vi phạm, tức là một khi nghĩa vụ không được thực hiện đúng và đầy đủ, thì bên bảo lãnh sẽ được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thay, còn việc thực hiện thay bằng công việc nào, sử dụng tài sản cụ thể nào hoàn toàn thuộc quyền quyết định của bên bảo lãnh. Bên bảo lãnh không cần cam kết dùng một tài sản cụ thể để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa bảo lãnh với thế chấp tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác. Trong biện pháp thế chấp, bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm và ngay trong hợp đồng thế chấp, bên thế chấp phải xác định rõ đối tượng của thế chấp là loại tài sản gì, tính chất hay giá trị như thế nào.

Việc dùng tài sản để thế chấp cho nghĩa vụ của người khác cũng cần phân biệt với trường hợp dùng tài sản của người khác thế chấp cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Bộ luật Dân sự hiện hành cho phép người thế chấp sử dụng tài sản mà mình sở hữu để thế chấp cho nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc thế chấp cho nghĩa vụ của người thứ ba. Mặc dù, trong Bộ luật không có quy định trực tiếp về trường hợp này, nhưng với việc kế thừa các quy định cơ bản về thế chấp tài sản[3], có thể thấy pháp luật dân sự cho phép bên có tài sản thế chấp lựa chọn hai cách ứng xử: (i) Dùng tài sản này để thế chấp cho nghĩa vụ của mình hoặc (ii) Dùng tài sản này để thế chấp cho nghĩa vụ của người khác. Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm cũng đã quy định: “Bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba cam kết bảo đảm nghĩa vụ”, đồng thời khoản 1 Điều 4 Nghị định này cũng quy định: “Tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm nghĩa vụ”. Những quy định này đã một lần nữa khẳng định, tài sản bảo đảm có thể thuộc quyền sở hữu của người thứ ba không liên quan đến quan hệ nghĩa vụ chính (không phải là bên có nghĩa vụ, đương nhiên không thể là bên có quyền).

Một vấn đề đặt ra là người thứ ba có quyền sở hữu tài sản sẽ là chủ thể thế chấp hay chủ thể có nghĩa vụ vẫn sẽ là bên thế chấp. Nếu quan điểm cho rằng, bên có nghĩa vụ đồng thời sẽ là bên thế chấp thì đã thừa nhận việc sử dụng tài sản của người khác để bảo đảm cho nghĩa vụ của chính mình. Cách nhìn nhận này hoàn toàn trái với nguyên tắc chung của pháp luật về giao dịch bảo đảm: "Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm". Nói cách khác, pháp luật không cho phép một chủ thể dùng tài sản của người khác để bảo đảm nghĩa vụ của mình nhưng cho phép chủ thể sử dụng tài sản của mình để thế chấp cho nghĩa vụ của người khác. Thực tế cho thấy, hợp đồng thế chấp tài sản trong những trường hợp này luôn phải được ký giữa một bên là bên có quyền (có thể là bên cho vay, ngân hàng, tổ chức tín dụng…) và một bên là bên có tài sản thế chấp (có thể là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba không liên quan đến nghĩa vụ chính). Do vậy, dưới góc độ nghiên cứu, để đảm bảo thể hiện đúng bản chất của quan hệ dân sự, thay vì việc sử dụng thuật ngữ thế chấp bằng tài sản của người thứ ba, thì cách dùng thuật ngữ "dùng tài sản để thế chấp cho nghĩa vụ của người khác" sẽ phù hợp hơn.

Cũng cần nói thêm về tính pháp lý của hợp đồng ủy quyền thế chấp tài sản. Việc cho phép bên có nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của người thứ ba chắc chắn sẽ dẫn tới thực tế có nhiều trường hợp người có quyền sở hữu tài sản ủy quyền cho người khác thực hiện việc thế chấp. Thực tế đã cho thấy, nhiều doanh nghiệp lợi dụng khả năng nhận thức hạn chế của chủ sở hữu tài sản đã huy động số lượng lớn tài sản thế chấp bằng hình thức “ủy quyền thế chấp”. Tức là người có tài sản bảo đảm, (chủ yếu là các trường hợp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất) ủy quyền cho một doanh nghiệp, tổ chức, hoặc cá nhân được dùng quyền sử dụng đất này thế chấp tại tổ chức tín dụng để vay vốn; đổi lại tổ chức, cá nhân hoặc doanh nghiệp đó sẽ trả một khoản lợi ích thành tiền, mà thực tế vẫn gọi là “lãi” cho bên có tài sản thế chấp. Quay trở lại vấn đề về tính pháp lý của những giao dịch “ủy quyền thế chấp” này, tác giả hoàn toàn đồng tình với quan điểm cho rằng bản thân những dạng hợp đồng ủy quyền thế chấp này hoàn toàn hợp pháp[4]. Chủ thể có quyền sở hữu tài sản ủy quyền cho chủ thể khác thực hiện mọi giao dịch dân sự liên quan đến tài sản trong đó có giao dịch thế chấp tài sản, hợp đồng ủy quyền nếu thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì mặc nhiên được thừa nhận về hiệu lực. Lưu ý rằng, việc người được ủy quyền dùng tài sản (quyền sử dụng đất) thế chấp tại ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng không phải là trường hợp dùng tài sản của người khác để bảo đảm cho nghĩa vụ của mình. Hợp đồng thế chấp mặc dù được ký kết giữa người thứ ba với tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng nhưng vẫn phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với bên có tài sản thế chấp (tức bên ủy quyền thế chấp), người thứ ba chỉ thay mặt bên ủy quyền thực hiện trong phạm vi hợp đồng ủy quyền. Các giao dịch dân sự phát sinh trong những tình huống trên như hợp đồng ủy quyền thế chấp, hợp đồng thế chấp hoàn toàn phù hợp và không vi phạm điều cấm của pháp luật. Điều đáng lưu tâm là cần nâng cao nhận thức của bản thân người có tài sản thế chấp để họ nhận thức được rằng, chính họ mới là người đang thế chấp tài sản và sẵn sàng đối diện nguy cơ bị xử lý tài sản thế chấp nếu bên tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cho họ hưởng “lãi”, tiền “thuê” giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kia không thể thực hiện nghĩa vụ đến hạn với ngân hàng.

2. Một số bất cập trong các quy định pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của người khác

Bảo đảm nghĩa vụ cho người khác bằng việc thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình là một trường hợp đặc biệt của thế chấp tài sản. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những quy định hiện hành của pháp luật về thế chấp để điều chỉnh những quan hệ thế chấp này thì chưa đủ. Một số vấn đề cần được pháp luật quy định rõ hơn như mối quan hệ pháp lý giữa các bên, thù lao cho việc thế chấp, nghĩa vụ hoàn lại phát sinh hay không, cụ thể như sau:

Thứ nhất, cần quy định rõ về mối quan hệ giữa bên thế chấp và bên có nghĩa vụ

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều mang tính chất bổ sung cho việc thực hiện nghĩa vụ chính. Người dùng tài sản mà mình sở hữu thế chấp để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác chính là việc họ chấp nhận đặt bản thân vào trạng thái sẵn sàng tâm lý cho việc dùng tài sản của mình bù đắp, bổ sung cho phần giá trị nghĩa vụ chính chưa được thực hiện. Khác với thế chấp tài sản thông thường, khi bên có nghĩa vụ dùng tài sản của mình bảo đảm cho nghĩa vụ của chính mình, thì ở đây, người có tài sản đang đảm bảo cho việc thực hiện một nghĩa vụ của một chủ thể khác. Tức là, trước khi chấp nhận thế chấp tài sản, người chủ sở hữu này hoàn toàn không liên quan đến quan hệ nghĩa vụ dân sự chính và chắc chắn không có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ này. Vì vậy, việc dùng tài sản của mình để thế chấp hoàn toàn không phải nghĩa vụ của người chủ sở hữu tài sản mà xuất phát từ thỏa thuận giữa người có tài sản (sau này là người thế chấp) với người có nghĩa vụ được bảo đảm (sau này là người có nghĩa vụ được thế chấp).

Trên thực tế những thỏa thuận giữa bên thế chấp và bên có nghĩa vụ được thế chấp thường sơ sài và không có chuẩn mực ứng xử mà pháp luật quy định. Phần lớn những trường hợp được phép dùng tài sản của người chủ sở hữu để thế chấp cho nghĩa vụ của mình đều thỏa thuận qua loa về việc sử dụng tài sản thế chấp mà chỉ tập trung xác lập giao dịch ủy quyền thế chấp tài sản. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải nhắc đến sự không thiện chí, mập mờ, lợi dụng tình trạng yếu thế từ đối phương của bên có nghĩa vụ được thế chấp. Trong nhiều trường hợp việc thỏa thuận này thường được bỏ qua, thay vào đó là việc thỏa thuận ủy quyền thế chấp. Việc không có một thỏa thuận dân sự rõ ràng đã gây ra bất lợi không nhỏ đối với bên có tài sản thế chấp, nhận thức hạn chế làm cho họ chỉ nghĩ đơn giản là cho mượn một loại giấy tờ có giá trị để thu lời mà không hay biết bản thân mình đã bị đặt vào vị trí thường trực khả năng phải thực hiện một nghĩa vụ có giá trị gần hoặc đôi khi tương đương với tài sản nàycủa họ. Do vậy, tác giả đồng ý với quan điểm cần bổ sung quy định pháp luật xác lập thỏa thuận về việc dùng tài sản thế chấp cho nghĩa vụ của người khác và cần xác định đây là nghĩa vụ bắt buộc của các chủ thể. Cụ thể Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên bổ sung quy định mới về nghĩa vụ của bên thế chấp: "Thỏa thuận với bên có nghĩa vụ về việc sử dụng tài sản của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền".

Thứ hai, cần bổ sung quy định về thù lao cho việc “thế chấp thay”

Có thể nhận thấy, việc sử dụng tài sản của mình để thế chấp cho nghĩa vụ của người thứ ba có nhiều điểm giống so với biện pháp bảo lãnh. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là người thứ ba, hoàn toàn không liên quan đến nội dung quan hệ nghĩa vụ chính giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ. Pháp luật dân sự quy định rằng, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh chi trả thù lao cho bên bảo lãnh nếu như hai bên có thỏa thuận[5]; việc tham gia hợp đồng bảo lãnh chắc chắn không phải nghĩa vụ bắt buộc nếu như bên bảo lãnh trước đó không đồng ý và cam kết với bên có quyền. Mục đích của bên bảo lãnh trong nhiều trường hợp là thu được thù lao từ công việc bảo lãnh và coi đây như một hoạt động cung ứng dịch vụ của mình, bên có nghĩa vụ cần nhu cầu bảo lãnh để ngân hàng cấp tín dụng, bên bảo lãnh có khả năng đáp ứng nhu cầu về việc thực hiện thay nghĩa vụ nếu nghĩa vụ bị vi phạm.

Thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ của người khác cũng xuất phát từ thực tế “cung - cầu” giống quan hệ bảo lãnh trên đây. Bổ sung quy định pháp luậtchính là để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên thế chấp. Cũng cần nói thêm rằng, đã có những văn bản của cơ quan nhà nước thừa nhận việc có phát sinh những thu nhập chính đáng từ thù lao cho việc thế chấp này[6]. Do vậy, pháp luật cần thống nhất quan điểm bổ sung quy định tương tự trong trường hợp thế chấp tài sản cho nghĩa vụ của người khác, cụ thể tại Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần bổ sung quyền của bên thế chấp: "Yêu cầu bên có nghĩa vụ chi trả thù lao trong trường hợp đồng ý thế chấp tài sản cho việc thực hiện nghĩa vụ". Pháp luật cũng cần quy định mức tối đa hoặc tối thiểu áp dụng đối với khoản thù lao này. Trên thực tế những tranh chấp xảy ra tương đối phổ biến, trong đó bên thế chấp thường chịu bất lợi hơn do thiếu hiểu biết. Số tiền “lãi” mà bên có nghĩa vụ (tổ chức, cá nhân hoặc doanh nghiệp…) chi trả cho bên thế chấp thường có giá trị không đáng kể so với khoản lợi mà bên có nghĩa vụ có được (huy động được tài sản vay có giá trị lớn).

Thứ ba, cần thừa nhận quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hoàn lại cho bên thế chấp

Thù lao là một khoản lợi ích vật chất bên thế chấp có thể đã hướng tới trước thời điểm xác lập thỏa thuận “thế chấp thay”. Khoản chi phí này được thể hiện rõ trong văn bản thỏa thuận về việc sử dụng tài sản thế chấp cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Đây là khoản lợi ích chính đáng mà bên thế chấp có quyền được nhận. Tuy nhiên, trong quan hệ thế chấp này, bên thế chấp phải đối diện với nguy cơ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu có sự vi phạm khi đến hạn. Trường hợp tài sản thế chấp đã bị xử lý để bù trừ cho phần nghĩa vụ chính bị vi phạm thì ngay sau đó bên thế chấp sẽ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghia vụ hoàn lại giá trị tài sản tương đương với phần giá trị nghĩa vụ được bù trừ. Như vậy, Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần bổ sung thêm "quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ hoàn lại phần giá trị nghĩa vụ tương đương với giá trị tài sản thế chấp bị xử lý". Nghị định hướng dẫn về giao dịch bảo đảm (thay thế Nghị định số 163/2006 ngày 29/12/2006) nên quy định bổ sung nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ được thế chấp: "Thực hiện nghĩa vụ hoàn lại phần giá trị nghĩa vụ được bảo đảm bằng việc xử lý tài sản thế chấp của bên thế chấp".

Thứ tư, cần sửa đổi một số quy định để phù hợp hơn với bản chất của thế chấp tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác

Bộ luật Dân sự hiện hành, phần quy định về thế chấp tài sản được trình bày theo cấu trúc: Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp; quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp. Việc trình bày này chỉ phù hợp đối với trường hợp bên thế chấp đồng thời là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính. Trong trường hợp cần áp dụng luật đối với những tình huống dùng tài sản để thế chấp cho nghĩa vụ của người khác lại không thể tìm được những quy định về quyền, nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ được thế chấp, những quy định về mối quan hệ giữa người thế chấp - người có nghĩa vụ - người nhận thế chấp cũng hoàn toàn không có. Bên cạnh đó, pháp luật dân sự thừa nhận quan hệ pháp luật dân sự phát sinh từ việc sử dụng tài sản thế chấp cho nghĩa vụ của người khác nhưng trong một số quy định cụ thể trong văn bản pháp luật lại thể hiện sự mâu thuẫn. Cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 303 quy định về một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là: “Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm”. Quy định này được hiểu là việc nhận tài sản bảo đảm sẽ thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm (bên thế chấp), tức là đã mặc định rằng, bên bảo đảm chỉ có thể là bên có nghĩa vụ. Điều này mâu thuẫn với nguyên tắc thừa nhận việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ có thể được thế chấp (được bảo đảm) bằng tài sản của một chủ thể khác (bên thế chấp)./.

ThS. Hoàng Ngọc Hưng

Đại học Luật Hà Nội


[1] Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ, Nxb. Từ điển Bách khoa, 2010 (tr. 934).

[2]Khoản 1 Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 1995.

[3] Xem khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Xem Trương Thanh Đức, “Đúng sai của ủy quyền thế chấp”, Thị trường tài chính tiền tệ, 5, 2011.

[5]Xem Điều 337 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6] Xem Công văn hướng dẫn xác định thuế thu nhập cá nhân của Tổng cục Thuế Bộ Tài chính.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: