Thứ bảy 02/05/2026 03:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số góp ý Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Trên cơ sở nghiên cứu một số nội dung liên quan, bài viết đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai; thu hồi đất, nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Gần 10 năm Luật Đất đai năm 2013 đi vào đời sống, công tác quản lý, sử dụng đất đai đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế; nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ và bền vững; việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; khiếu nại, tố cáo, vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp; suy thoái, ô nhiễm, sạt lở đất ngày càng nghiêm trọng...

Những tồn tại, bất cập nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân như hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu phát triển của đất nước; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan chưa bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ; giá đất chưa phản ánh thực tế thị trường; việc thực hiện pháp luật về đất đai có lúc, có nơi còn chưa nghiêm...

Sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, cũng là chế hóa chủ trương của Đảng, hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường nhằm khắc phục những bất cập hiện hành trong quản lý, sử dụng đất đai và cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp đã đặt ra trong Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Bài viết nghiên cứu một số nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất; thu hồi đất, nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), từ đó, tác giả có một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật đất đai liên quan đến những nội dung này.

1. Về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai

Quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai là một nội dung mới của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi[1]) so với Luật Đất đai năm 2013 và các Luật Đất đai trước. Nội dung mới này là một bước tiến trong tiến trình lập pháp, bởi vì, Nhà nước chỉ là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai mà không phải là chủ sở hữu. Đồng thời, “toàn dân” không phải là một khái niệm pháp lý[2] và người sử dụng đất - những người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất cũng không phải là “toàn dân”. Do đó, Luật Đất đai năm 2013 và các Luật Đất đai trước chỉ quy định về quyền, trách nhiệm của Nhà nước và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất là có khoảng trống về người chủ sở hữu đất đai thực sự[3]. Công dân Việt Nam là những người có quốc tịch Việt Nam[4] - mới là chủ sở hữu đất đai. Như vậy, điểm bất hợp lý của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, về tính xác định của chủ sở hữu được khắc phục. Cùng với đó, Nhà nước đại diện cho công dân thực hiện quyền của chủ sở hữu là hoàn toàn phù hợp về mặt pháp lý cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh nội dung mới rất đáng ghi nhận này thì Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn chưa thực sự hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất. Cụ thể là, tại Điều 27 quy định về quyền chung và Điều 31 quy định về nghĩa vụ chung của người sử dụng đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) lại thiếu quy định về người sử dụng đất là công dân Việt Nam, thì đồng thời có cả quyền, nghĩa vụ của nguời sử dụng đất và quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai. Sự thiếu sót này có thể dẫn đến cách hiểu là người sử dụng đất là công dân Việt Nam chỉ có quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất mà không có quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai làm mất ý nghĩa của nội dung mới về quy định trong luật quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai như đã phân tích ở trên. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần bổ sung quy định người sử dụng đất là công dân Việt Nam, đồng thời có quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất.

2. Về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Thứ nhất, về giải thích các dự án thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng:

Một điểm mới so với Luật Đất đai năm 2013 là Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã giải thích các dự án Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là các dự án phát huy nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn; giải quyết các vấn đề chính sách xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản văn hóa, phân bổ công bằng, hài hòa giá trị tăng thêm từ đất, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nhằm phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, cách giải thích lại chưa đầy đủ. Theo đó, nội dung “… thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn” là thiếu đi mất đi lĩnh vực công nghiệp vốn là một trong những trụ cột của nền kinh tế đất nước hiện nay[5]. Sự thiếu sót này có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu phát triển nền công nghiệp nước ta theo hướng hiện đại được xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng[6], bởi lẽ, nếu không có quỹ đất sạch thì các dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,… không thể triển khai thực tế. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phải bổ sung lĩnh vực công nghiệp trong quy định này.

Thứ hai, về các dự án nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

So với Luật Đất đai năm 2013, tại điểm d khoản 2 Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định thêm trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng cơ sở tôn giáo. Vì thực tiễn trong thời gian qua đã có các dự án xây dựng cơ sở tôn giáo kết hợp với du lịch tâm linh quy mô lớn được triển khai trên cả nước như: Bái Đính (Ninh Bình), Tam Chúc (Hà Nam), Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), Cái Tráp (Hải Phòng), Lũng Cú (Hà Giang), Ma Thiên Lãnh (Tây Ninh), Bà Chúa Xứ (An Giang), Núi Cô Tiên (Khánh Hòa), Lạc Thủy (Hòa Bình),… các dự án này đã và đang đem lại hiệu quả lớn về kinh tế cho các địa phương và các nhà đầu tư[7]. Tuy nhiên, việc quy định Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các dự án xây dựng cơ sở tôn giáo theo tác giả là không phù hợp. Bởi vì, cũng từ thực tế, việc xây dựng cơ sở tôn giáo kết hợp với du lịch tâm linh quy mô lớn đã được triển khai mặc dù đem lại hiệu quả kinh tế, nhưng “cái giá” phải đánh đổi đó là phá vỡ cảnh quan tự nhiên, biến đổi hệ sinh thái tại khu vực thực hiện dự án và ô nhiễm môi trường.

Đồng thời, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) bỏ quy định Nhà nước thu hồi đất đối trường hợp thực hiện các dự án “công trình di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng…” tại điểm b khoản 1 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 là không phù hợp, bởi lẽ, trong thực tiễn, nếu như chúng ta phát hiện ra các di tích, di chỉ khảo cổ có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử - văn hóa cần phải bảo tồn thì sẽ giải quyết như thế nào khi mà cơ sở tôn giáo có thể không phải và không thể bao quát được phạm vi “công trình di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng…”. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phải điều chỉnh theo hướng loại bỏ trường hợp thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng cơ sở tôn giáo và giữ lại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.

Thêm vào đó, nhìn một cách tổng thể thì các dự án Nhà nước thu hồi đất tại Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) có phạm vi rất rộng, chưa phù hợp với mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà mang tính kinh doanh, đem lại lợi ích cho các chủ đầu tư nhiều hơn. Cụ thể là, dự án xây dựng nhà ở xã hội, dự án xây dựng chợ tại các xã vùng nông thôn, dự án đô thị sử dụng các loại đất không phải là đất ở, dự án nhà ở thương mại sử dụng các loại đất không phải là đất ở. Thực tiễn thi hành Luật Đất đai năm 2013 cho thấy, mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện xảy ra khi Nhà nước thu hồi đất cũng chủ yếu là các trường hợp này, bởi vì, người có đất bị thu hồi không đồng thuận với việc đất của họ đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện các dự án có tính chất kinh doanh, kinh tế hơn là phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng và phải nhận mức bồi thường với giá đất thấp hơn rất nhiều lần so với giá đất khi dự án đã được hoàn thiện bán ra thị trường[8]. Các dự án này nên được thực hiện bằng cơ chế thỏa thuận với người sử dụng đất mà không nên thực hiện bằng cơ chế Nhà nước thu hồi đất để hài hòa lợi ích của người có đất bị thu hồi với chủ đầu tư dự án bảo đảm sự ổn định xã hội, chống tham nhũng, tiêu cực[9], phát triển kinh tế đất nước.

3. Về nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất

So với Luật Đất đai năm 2013, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã bổ sung nguyên tắc: “Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, trung thực, khách quan của kết quả định giá đất giữa cơ quan định giá, cơ quan thẩm định và cơ quan quyết định” tại điểm đ khoản 1 Điều 153, điều này là rất cần thiết để giá đất được xác định chính xác, ngăn chặn tình trạng thông đồng, tiêu cực để trục lợi trong định giá đất đã xảy ra trong thực tiễn[10]. Tuy nhiên, quy định tại Điều 156 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) về hội đồng thẩm định giá đất với thành phần cũng bao gồm đại diện của cơ quan định giá, cơ quan quyết định giá đất thì dường như nguyên tắc này khó có thể được hiện thực hóa. Thêm vào đó, việc định giá đất thực hiện theo tiêu chí “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường quyền sử dụng đất trong điều kiện bình thường” mà không phải là giá đất trên thị trường vốn được nhiều lần đề xuất quy định trong Luật Đất đai[11], cho nên giá đất vẫn chịu ảnh hưởng bởi đánh giá, quyết định của các thành viên hội đồng thẩm định nên chắc chắn việc định giá đất vẫn có thể xảy ra những tiêu cực. Bởi vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu, chỉnh sửa quy định này theo hướng hội đồng thẩm định giá đất không bao gồm đại diện các cơ quan cơ quan định giá, cơ quan quyết định giá đất để có thể hoàn toàn độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, trung thực, khách quan trong thẩm định giá đất.

TS. Nguyễn Thành Luân

Phó Trưởng Khoa Luật và Lý luận chính trị, Trường Đại học Thủy Lợi

[1]. Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Toàn văn Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Lấy ý kiến lần 2, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-lay-y-kien-lan-hai 11923010312182186.htm, truy cập ngày 14/3/2023.

[2]. Nguyễn Thành Luân (2018), Hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 nhằm bảo đảm lợi ích người sử dụng đất nông nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17(369).

[3]. Nguyễn Thành Luân (2023), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb. Công an nhân dân.

[4]. Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008.

[5]. Về cơ cấu nền kinh tế của nước ta năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,88%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,26%; khu vực dịch vụ chiếm 41,33%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,53%. Xem thêm: Tổng cục Thống kê (2022), Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2022, https://www.gso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2022/12/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2022/#:~:text=GDP%20b%C3%ACnh%20qu%C3%A2n%20%C4%91%E1%BA%A7u%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di,USD%20so%20v%E1%BB%9Bi%20n%C4%83m%202021,truy cập ngày 29/12/2022.

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, https:// baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-102288263.htm, truy cập ngày 26/02/2021.

[7]. Thiên Điểu & Nam Trần (2022), Bất chấp mưa rét, hàng vạn người đổ về Bái Đính, Tam Chúc, Tràng An, https://tuoitre.vn/bat-chap-mua-ret-hang-van-nguoi-do-ve-bai-dinh-tam-chuc-trang-an-20220206152732147.htm, truy cập ngày 06/02/2023.

[8]. Luan Nguyen (2022), “Evaluation of Vietnam’s Current Legal Provisions on State Land Acquisition: Amending the Law to Combat Corruption and Promote Socioeconomic Development”, Passagens: International Review of Political History and Legal Culture, Vo.14(1), DOI: https://doi.org/10.15175/1984-2503-202214102.

[9]. Nguyen Thanh Luan (2021) “Prohibiting an activity when it cannot be managed by law: Legislative trends toward complex and sensitive economic and social activities in Vietnam today”, Oñati Socio-Legal Series, 11(6(S), pp. S254-S267. Available at: https://opo.iisj.net/index.php/osls/article/view/1313 (Accessed: 16 May 2023).

[10]. Trần Linh Huân, Nguyễn Phạm Thanh Hoa (2022), Việc định giá đất ở Việt Nam hiện nay - Bất cập và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/viec-dinh-gia-dat-o-viet-nam-hien-nay-bat-cap-va-mot-so-kien-nghi-hoan-thien.htm, truy cập ngày 09/8/2022.

[11]. Nguyen Thanh Luan (2020), Proposals to amend the law on land prices in Vietnam today, The European Proceedings ofSocial and Behavioural Sciences (EpSBS), e-ISSN: 2357-1330, DOI: 10.15405/epsbs.2020.10.05.86.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: