Thứ sáu 23/10/2026 17:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số góp ý Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Trên cơ sở nghiên cứu một số nội dung liên quan, bài viết đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai; thu hồi đất, nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Gần 10 năm Luật Đất đai năm 2013 đi vào đời sống, công tác quản lý, sử dụng đất đai đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế; nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ và bền vững; việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; khiếu nại, tố cáo, vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp; suy thoái, ô nhiễm, sạt lở đất ngày càng nghiêm trọng...

Những tồn tại, bất cập nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân như hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu phát triển của đất nước; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan chưa bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ; giá đất chưa phản ánh thực tế thị trường; việc thực hiện pháp luật về đất đai có lúc, có nơi còn chưa nghiêm...

Sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, cũng là chế hóa chủ trương của Đảng, hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường nhằm khắc phục những bất cập hiện hành trong quản lý, sử dụng đất đai và cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp đã đặt ra trong Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Bài viết nghiên cứu một số nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất; thu hồi đất, nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), từ đó, tác giả có một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật đất đai liên quan đến những nội dung này.

1. Về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai

Quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai là một nội dung mới của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi[1]) so với Luật Đất đai năm 2013 và các Luật Đất đai trước. Nội dung mới này là một bước tiến trong tiến trình lập pháp, bởi vì, Nhà nước chỉ là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai mà không phải là chủ sở hữu. Đồng thời, “toàn dân” không phải là một khái niệm pháp lý[2] và người sử dụng đất - những người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất cũng không phải là “toàn dân”. Do đó, Luật Đất đai năm 2013 và các Luật Đất đai trước chỉ quy định về quyền, trách nhiệm của Nhà nước và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất là có khoảng trống về người chủ sở hữu đất đai thực sự[3]. Công dân Việt Nam là những người có quốc tịch Việt Nam[4] - mới là chủ sở hữu đất đai. Như vậy, điểm bất hợp lý của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, về tính xác định của chủ sở hữu được khắc phục. Cùng với đó, Nhà nước đại diện cho công dân thực hiện quyền của chủ sở hữu là hoàn toàn phù hợp về mặt pháp lý cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh nội dung mới rất đáng ghi nhận này thì Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn chưa thực sự hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất. Cụ thể là, tại Điều 27 quy định về quyền chung và Điều 31 quy định về nghĩa vụ chung của người sử dụng đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) lại thiếu quy định về người sử dụng đất là công dân Việt Nam, thì đồng thời có cả quyền, nghĩa vụ của nguời sử dụng đất và quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai. Sự thiếu sót này có thể dẫn đến cách hiểu là người sử dụng đất là công dân Việt Nam chỉ có quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất mà không có quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai làm mất ý nghĩa của nội dung mới về quy định trong luật quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai như đã phân tích ở trên. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần bổ sung quy định người sử dụng đất là công dân Việt Nam, đồng thời có quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất.

2. Về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Thứ nhất, về giải thích các dự án thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng:

Một điểm mới so với Luật Đất đai năm 2013 là Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã giải thích các dự án Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là các dự án phát huy nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn; giải quyết các vấn đề chính sách xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản văn hóa, phân bổ công bằng, hài hòa giá trị tăng thêm từ đất, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nhằm phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, cách giải thích lại chưa đầy đủ. Theo đó, nội dung “… thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn” là thiếu đi mất đi lĩnh vực công nghiệp vốn là một trong những trụ cột của nền kinh tế đất nước hiện nay[5]. Sự thiếu sót này có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu phát triển nền công nghiệp nước ta theo hướng hiện đại được xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng[6], bởi lẽ, nếu không có quỹ đất sạch thì các dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,… không thể triển khai thực tế. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phải bổ sung lĩnh vực công nghiệp trong quy định này.

Thứ hai, về các dự án nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

So với Luật Đất đai năm 2013, tại điểm d khoản 2 Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định thêm trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng cơ sở tôn giáo. Vì thực tiễn trong thời gian qua đã có các dự án xây dựng cơ sở tôn giáo kết hợp với du lịch tâm linh quy mô lớn được triển khai trên cả nước như: Bái Đính (Ninh Bình), Tam Chúc (Hà Nam), Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), Cái Tráp (Hải Phòng), Lũng Cú (Hà Giang), Ma Thiên Lãnh (Tây Ninh), Bà Chúa Xứ (An Giang), Núi Cô Tiên (Khánh Hòa), Lạc Thủy (Hòa Bình),… các dự án này đã và đang đem lại hiệu quả lớn về kinh tế cho các địa phương và các nhà đầu tư[7]. Tuy nhiên, việc quy định Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các dự án xây dựng cơ sở tôn giáo theo tác giả là không phù hợp. Bởi vì, cũng từ thực tế, việc xây dựng cơ sở tôn giáo kết hợp với du lịch tâm linh quy mô lớn đã được triển khai mặc dù đem lại hiệu quả kinh tế, nhưng “cái giá” phải đánh đổi đó là phá vỡ cảnh quan tự nhiên, biến đổi hệ sinh thái tại khu vực thực hiện dự án và ô nhiễm môi trường.

Đồng thời, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) bỏ quy định Nhà nước thu hồi đất đối trường hợp thực hiện các dự án “công trình di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng…” tại điểm b khoản 1 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 là không phù hợp, bởi lẽ, trong thực tiễn, nếu như chúng ta phát hiện ra các di tích, di chỉ khảo cổ có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử - văn hóa cần phải bảo tồn thì sẽ giải quyết như thế nào khi mà cơ sở tôn giáo có thể không phải và không thể bao quát được phạm vi “công trình di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng…”. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phải điều chỉnh theo hướng loại bỏ trường hợp thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng cơ sở tôn giáo và giữ lại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.

Thêm vào đó, nhìn một cách tổng thể thì các dự án Nhà nước thu hồi đất tại Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) có phạm vi rất rộng, chưa phù hợp với mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà mang tính kinh doanh, đem lại lợi ích cho các chủ đầu tư nhiều hơn. Cụ thể là, dự án xây dựng nhà ở xã hội, dự án xây dựng chợ tại các xã vùng nông thôn, dự án đô thị sử dụng các loại đất không phải là đất ở, dự án nhà ở thương mại sử dụng các loại đất không phải là đất ở. Thực tiễn thi hành Luật Đất đai năm 2013 cho thấy, mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện xảy ra khi Nhà nước thu hồi đất cũng chủ yếu là các trường hợp này, bởi vì, người có đất bị thu hồi không đồng thuận với việc đất của họ đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện các dự án có tính chất kinh doanh, kinh tế hơn là phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng và phải nhận mức bồi thường với giá đất thấp hơn rất nhiều lần so với giá đất khi dự án đã được hoàn thiện bán ra thị trường[8]. Các dự án này nên được thực hiện bằng cơ chế thỏa thuận với người sử dụng đất mà không nên thực hiện bằng cơ chế Nhà nước thu hồi đất để hài hòa lợi ích của người có đất bị thu hồi với chủ đầu tư dự án bảo đảm sự ổn định xã hội, chống tham nhũng, tiêu cực[9], phát triển kinh tế đất nước.

3. Về nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất

So với Luật Đất đai năm 2013, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã bổ sung nguyên tắc: “Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, trung thực, khách quan của kết quả định giá đất giữa cơ quan định giá, cơ quan thẩm định và cơ quan quyết định” tại điểm đ khoản 1 Điều 153, điều này là rất cần thiết để giá đất được xác định chính xác, ngăn chặn tình trạng thông đồng, tiêu cực để trục lợi trong định giá đất đã xảy ra trong thực tiễn[10]. Tuy nhiên, quy định tại Điều 156 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) về hội đồng thẩm định giá đất với thành phần cũng bao gồm đại diện của cơ quan định giá, cơ quan quyết định giá đất thì dường như nguyên tắc này khó có thể được hiện thực hóa. Thêm vào đó, việc định giá đất thực hiện theo tiêu chí “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường quyền sử dụng đất trong điều kiện bình thường” mà không phải là giá đất trên thị trường vốn được nhiều lần đề xuất quy định trong Luật Đất đai[11], cho nên giá đất vẫn chịu ảnh hưởng bởi đánh giá, quyết định của các thành viên hội đồng thẩm định nên chắc chắn việc định giá đất vẫn có thể xảy ra những tiêu cực. Bởi vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu, chỉnh sửa quy định này theo hướng hội đồng thẩm định giá đất không bao gồm đại diện các cơ quan cơ quan định giá, cơ quan quyết định giá đất để có thể hoàn toàn độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, trung thực, khách quan trong thẩm định giá đất.

TS. Nguyễn Thành Luân

Phó Trưởng Khoa Luật và Lý luận chính trị, Trường Đại học Thủy Lợi

[1]. Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Toàn văn Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Lấy ý kiến lần 2, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-lay-y-kien-lan-hai 11923010312182186.htm, truy cập ngày 14/3/2023.

[2]. Nguyễn Thành Luân (2018), Hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 nhằm bảo đảm lợi ích người sử dụng đất nông nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17(369).

[3]. Nguyễn Thành Luân (2023), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb. Công an nhân dân.

[4]. Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008.

[5]. Về cơ cấu nền kinh tế của nước ta năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,88%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,26%; khu vực dịch vụ chiếm 41,33%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,53%. Xem thêm: Tổng cục Thống kê (2022), Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2022, https://www.gso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2022/12/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2022/#:~:text=GDP%20b%C3%ACnh%20qu%C3%A2n%20%C4%91%E1%BA%A7u%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di,USD%20so%20v%E1%BB%9Bi%20n%C4%83m%202021,truy cập ngày 29/12/2022.

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, https:// baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-102288263.htm, truy cập ngày 26/02/2021.

[7]. Thiên Điểu & Nam Trần (2022), Bất chấp mưa rét, hàng vạn người đổ về Bái Đính, Tam Chúc, Tràng An, https://tuoitre.vn/bat-chap-mua-ret-hang-van-nguoi-do-ve-bai-dinh-tam-chuc-trang-an-20220206152732147.htm, truy cập ngày 06/02/2023.

[8]. Luan Nguyen (2022), “Evaluation of Vietnam’s Current Legal Provisions on State Land Acquisition: Amending the Law to Combat Corruption and Promote Socioeconomic Development”, Passagens: International Review of Political History and Legal Culture, Vo.14(1), DOI: https://doi.org/10.15175/1984-2503-202214102.

[9]. Nguyen Thanh Luan (2021) “Prohibiting an activity when it cannot be managed by law: Legislative trends toward complex and sensitive economic and social activities in Vietnam today”, Oñati Socio-Legal Series, 11(6(S), pp. S254-S267. Available at: https://opo.iisj.net/index.php/osls/article/view/1313 (Accessed: 16 May 2023).

[10]. Trần Linh Huân, Nguyễn Phạm Thanh Hoa (2022), Việc định giá đất ở Việt Nam hiện nay - Bất cập và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/viec-dinh-gia-dat-o-viet-nam-hien-nay-bat-cap-va-mot-so-kien-nghi-hoan-thien.htm, truy cập ngày 09/8/2022.

[11]. Nguyen Thanh Luan (2020), Proposals to amend the law on land prices in Vietnam today, The European Proceedings ofSocial and Behavioural Sciences (EpSBS), e-ISSN: 2357-1330, DOI: 10.15405/epsbs.2020.10.05.86.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: