Thứ năm 08/10/2026 07:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số góp ý Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Trên cơ sở nghiên cứu một số nội dung liên quan, bài viết đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai; thu hồi đất, nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Gần 10 năm Luật Đất đai năm 2013 đi vào đời sống, công tác quản lý, sử dụng đất đai đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế; nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ và bền vững; việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; khiếu nại, tố cáo, vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp; suy thoái, ô nhiễm, sạt lở đất ngày càng nghiêm trọng...

Những tồn tại, bất cập nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân như hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu phát triển của đất nước; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan chưa bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ; giá đất chưa phản ánh thực tế thị trường; việc thực hiện pháp luật về đất đai có lúc, có nơi còn chưa nghiêm...

Sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, cũng là chế hóa chủ trương của Đảng, hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường nhằm khắc phục những bất cập hiện hành trong quản lý, sử dụng đất đai và cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp đã đặt ra trong Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Bài viết nghiên cứu một số nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất; thu hồi đất, nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), từ đó, tác giả có một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật đất đai liên quan đến những nội dung này.

1. Về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai

Quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai là một nội dung mới của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi[1]) so với Luật Đất đai năm 2013 và các Luật Đất đai trước. Nội dung mới này là một bước tiến trong tiến trình lập pháp, bởi vì, Nhà nước chỉ là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai mà không phải là chủ sở hữu. Đồng thời, “toàn dân” không phải là một khái niệm pháp lý[2] và người sử dụng đất - những người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất cũng không phải là “toàn dân”. Do đó, Luật Đất đai năm 2013 và các Luật Đất đai trước chỉ quy định về quyền, trách nhiệm của Nhà nước và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất là có khoảng trống về người chủ sở hữu đất đai thực sự[3]. Công dân Việt Nam là những người có quốc tịch Việt Nam[4] - mới là chủ sở hữu đất đai. Như vậy, điểm bất hợp lý của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, về tính xác định của chủ sở hữu được khắc phục. Cùng với đó, Nhà nước đại diện cho công dân thực hiện quyền của chủ sở hữu là hoàn toàn phù hợp về mặt pháp lý cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh nội dung mới rất đáng ghi nhận này thì Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn chưa thực sự hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất. Cụ thể là, tại Điều 27 quy định về quyền chung và Điều 31 quy định về nghĩa vụ chung của người sử dụng đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) lại thiếu quy định về người sử dụng đất là công dân Việt Nam, thì đồng thời có cả quyền, nghĩa vụ của nguời sử dụng đất và quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai. Sự thiếu sót này có thể dẫn đến cách hiểu là người sử dụng đất là công dân Việt Nam chỉ có quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất mà không có quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai làm mất ý nghĩa của nội dung mới về quy định trong luật quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai như đã phân tích ở trên. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần bổ sung quy định người sử dụng đất là công dân Việt Nam, đồng thời có quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất.

2. Về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Thứ nhất, về giải thích các dự án thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng:

Một điểm mới so với Luật Đất đai năm 2013 là Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã giải thích các dự án Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là các dự án phát huy nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn; giải quyết các vấn đề chính sách xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản văn hóa, phân bổ công bằng, hài hòa giá trị tăng thêm từ đất, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nhằm phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, cách giải thích lại chưa đầy đủ. Theo đó, nội dung “… thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn” là thiếu đi mất đi lĩnh vực công nghiệp vốn là một trong những trụ cột của nền kinh tế đất nước hiện nay[5]. Sự thiếu sót này có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu phát triển nền công nghiệp nước ta theo hướng hiện đại được xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng[6], bởi lẽ, nếu không có quỹ đất sạch thì các dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,… không thể triển khai thực tế. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phải bổ sung lĩnh vực công nghiệp trong quy định này.

Thứ hai, về các dự án nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

So với Luật Đất đai năm 2013, tại điểm d khoản 2 Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định thêm trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng cơ sở tôn giáo. Vì thực tiễn trong thời gian qua đã có các dự án xây dựng cơ sở tôn giáo kết hợp với du lịch tâm linh quy mô lớn được triển khai trên cả nước như: Bái Đính (Ninh Bình), Tam Chúc (Hà Nam), Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), Cái Tráp (Hải Phòng), Lũng Cú (Hà Giang), Ma Thiên Lãnh (Tây Ninh), Bà Chúa Xứ (An Giang), Núi Cô Tiên (Khánh Hòa), Lạc Thủy (Hòa Bình),… các dự án này đã và đang đem lại hiệu quả lớn về kinh tế cho các địa phương và các nhà đầu tư[7]. Tuy nhiên, việc quy định Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các dự án xây dựng cơ sở tôn giáo theo tác giả là không phù hợp. Bởi vì, cũng từ thực tế, việc xây dựng cơ sở tôn giáo kết hợp với du lịch tâm linh quy mô lớn đã được triển khai mặc dù đem lại hiệu quả kinh tế, nhưng “cái giá” phải đánh đổi đó là phá vỡ cảnh quan tự nhiên, biến đổi hệ sinh thái tại khu vực thực hiện dự án và ô nhiễm môi trường.

Đồng thời, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) bỏ quy định Nhà nước thu hồi đất đối trường hợp thực hiện các dự án “công trình di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng…” tại điểm b khoản 1 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 là không phù hợp, bởi lẽ, trong thực tiễn, nếu như chúng ta phát hiện ra các di tích, di chỉ khảo cổ có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử - văn hóa cần phải bảo tồn thì sẽ giải quyết như thế nào khi mà cơ sở tôn giáo có thể không phải và không thể bao quát được phạm vi “công trình di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng…”. Do vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phải điều chỉnh theo hướng loại bỏ trường hợp thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng cơ sở tôn giáo và giữ lại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.

Thêm vào đó, nhìn một cách tổng thể thì các dự án Nhà nước thu hồi đất tại Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) có phạm vi rất rộng, chưa phù hợp với mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà mang tính kinh doanh, đem lại lợi ích cho các chủ đầu tư nhiều hơn. Cụ thể là, dự án xây dựng nhà ở xã hội, dự án xây dựng chợ tại các xã vùng nông thôn, dự án đô thị sử dụng các loại đất không phải là đất ở, dự án nhà ở thương mại sử dụng các loại đất không phải là đất ở. Thực tiễn thi hành Luật Đất đai năm 2013 cho thấy, mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện xảy ra khi Nhà nước thu hồi đất cũng chủ yếu là các trường hợp này, bởi vì, người có đất bị thu hồi không đồng thuận với việc đất của họ đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện các dự án có tính chất kinh doanh, kinh tế hơn là phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng và phải nhận mức bồi thường với giá đất thấp hơn rất nhiều lần so với giá đất khi dự án đã được hoàn thiện bán ra thị trường[8]. Các dự án này nên được thực hiện bằng cơ chế thỏa thuận với người sử dụng đất mà không nên thực hiện bằng cơ chế Nhà nước thu hồi đất để hài hòa lợi ích của người có đất bị thu hồi với chủ đầu tư dự án bảo đảm sự ổn định xã hội, chống tham nhũng, tiêu cực[9], phát triển kinh tế đất nước.

3. Về nguyên tắc định giá đất và hội đồng thẩm định giá đất

So với Luật Đất đai năm 2013, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã bổ sung nguyên tắc: “Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, trung thực, khách quan của kết quả định giá đất giữa cơ quan định giá, cơ quan thẩm định và cơ quan quyết định” tại điểm đ khoản 1 Điều 153, điều này là rất cần thiết để giá đất được xác định chính xác, ngăn chặn tình trạng thông đồng, tiêu cực để trục lợi trong định giá đất đã xảy ra trong thực tiễn[10]. Tuy nhiên, quy định tại Điều 156 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) về hội đồng thẩm định giá đất với thành phần cũng bao gồm đại diện của cơ quan định giá, cơ quan quyết định giá đất thì dường như nguyên tắc này khó có thể được hiện thực hóa. Thêm vào đó, việc định giá đất thực hiện theo tiêu chí “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường quyền sử dụng đất trong điều kiện bình thường” mà không phải là giá đất trên thị trường vốn được nhiều lần đề xuất quy định trong Luật Đất đai[11], cho nên giá đất vẫn chịu ảnh hưởng bởi đánh giá, quyết định của các thành viên hội đồng thẩm định nên chắc chắn việc định giá đất vẫn có thể xảy ra những tiêu cực. Bởi vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu, chỉnh sửa quy định này theo hướng hội đồng thẩm định giá đất không bao gồm đại diện các cơ quan cơ quan định giá, cơ quan quyết định giá đất để có thể hoàn toàn độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, trung thực, khách quan trong thẩm định giá đất.

TS. Nguyễn Thành Luân

Phó Trưởng Khoa Luật và Lý luận chính trị, Trường Đại học Thủy Lợi

[1]. Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Toàn văn Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Lấy ý kiến lần 2, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-lay-y-kien-lan-hai 11923010312182186.htm, truy cập ngày 14/3/2023.

[2]. Nguyễn Thành Luân (2018), Hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 nhằm bảo đảm lợi ích người sử dụng đất nông nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17(369).

[3]. Nguyễn Thành Luân (2023), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb. Công an nhân dân.

[4]. Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008.

[5]. Về cơ cấu nền kinh tế của nước ta năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,88%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,26%; khu vực dịch vụ chiếm 41,33%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,53%. Xem thêm: Tổng cục Thống kê (2022), Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2022, https://www.gso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2022/12/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2022/#:~:text=GDP%20b%C3%ACnh%20qu%C3%A2n%20%C4%91%E1%BA%A7u%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di,USD%20so%20v%E1%BB%9Bi%20n%C4%83m%202021,truy cập ngày 29/12/2022.

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, https:// baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-102288263.htm, truy cập ngày 26/02/2021.

[7]. Thiên Điểu & Nam Trần (2022), Bất chấp mưa rét, hàng vạn người đổ về Bái Đính, Tam Chúc, Tràng An, https://tuoitre.vn/bat-chap-mua-ret-hang-van-nguoi-do-ve-bai-dinh-tam-chuc-trang-an-20220206152732147.htm, truy cập ngày 06/02/2023.

[8]. Luan Nguyen (2022), “Evaluation of Vietnam’s Current Legal Provisions on State Land Acquisition: Amending the Law to Combat Corruption and Promote Socioeconomic Development”, Passagens: International Review of Political History and Legal Culture, Vo.14(1), DOI: https://doi.org/10.15175/1984-2503-202214102.

[9]. Nguyen Thanh Luan (2021) “Prohibiting an activity when it cannot be managed by law: Legislative trends toward complex and sensitive economic and social activities in Vietnam today”, Oñati Socio-Legal Series, 11(6(S), pp. S254-S267. Available at: https://opo.iisj.net/index.php/osls/article/view/1313 (Accessed: 16 May 2023).

[10]. Trần Linh Huân, Nguyễn Phạm Thanh Hoa (2022), Việc định giá đất ở Việt Nam hiện nay - Bất cập và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/viec-dinh-gia-dat-o-viet-nam-hien-nay-bat-cap-va-mot-so-kien-nghi-hoan-thien.htm, truy cập ngày 09/8/2022.

[11]. Nguyen Thanh Luan (2020), Proposals to amend the law on land prices in Vietnam today, The European Proceedings ofSocial and Behavioural Sciences (EpSBS), e-ISSN: 2357-1330, DOI: 10.15405/epsbs.2020.10.05.86.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: