Thứ hai 07/09/2026 03:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nghị định quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử nhìn từ kinh nghiệm của Trung Quốc

Ngày 26/02/2021, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 24/NQ-CP về việc thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử (Nghị định). Theo đó, Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng Nghị định này và trình Chính phủ trong Quý IV năm 2021.

Thực hiện Chương trình xây dựng pháp luật của Chính phủ, Bộ Tài chính đã giao Tổng cục Hải quan là cơ quan chủ trì xây dựng Nghị định trên và hiện nay, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến các Bộ ngành về dự thảo Nghị định quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử. Qua nghiên cứu nội dung dự thảo cùng với việc nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu qua phương thức thương mại điện tử, tác giả nhận thấy một số nội dung như sau:

Thứ nhất, về đối tượng áp dụng của Nghị định

Tại Điều 1 dự thảo Nghị định quy định đối tượng áp dụng quy định đối tượng áp dụng của Nghị định là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử, wesite thương mại điện tử bán hàng... Có thể thấy, Nghị định chưa có sự phân biệt điều chỉnh đối với các giao dịch mua bán buôn qua sàn giao dịch thương mại điện tử (với số lượng lớn) và giao dịch mua bán lẻ (số lượng nhỏ, phục vụ nhu cầu cá nhân). Hiện nay, hoạt động mua bán qua sàn giao dịch thương mại điện tử lớn đang thực hiện theo thủ tục hải quan thông thường. Đối với các giao dịch nhỏ lẻ thực hiện theo hình thức chuyển phát nhanh.

Tại Thông báo số 194 năm 2018[1] của Tổng cục Hải quan Trung Quốc thì phạm vi điều chỉnh quản lý đặc thù của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới chỉ áp dụng đối với các giao dịch mua bán lẻ, cụ thể: Tại Điều 1 Thông báo này quy định phạm vi áp dụng: “Doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới và người tiêu dùng (người đặt hàng) thực hiện giao dịch bán lẻ hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới và truyền dữ liệu điện tử giao dịch liên quan theo yêu cầu hải quan phải chấp nhận sự giám sát hải quan theo quy định này”.

Theo quy định tại điểm 1, 2, 3 Thông báo số 49 (2018) của Tổng cục Hải quan Trung Quốc[2] thì tăng giới hạn giao dịch đơn lẻ của hàng nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới từ 2.000 NDT lên 5.000 NDT và giới hạn giao dịch hàng năm từ 20.000 NDT lên 26.000 NDT. Khi giá đã thanh toán vượt quá giới hạn giao dịch đơn lẻ là 5.000 nhân dân tệ nhưng thấp hơn giới hạn giao dịch hàng năm là 26.000 nhân dân tệ và chỉ có một sản phẩm theo đơn đặt hàng, nó có thể được nhập khẩu từ thương mại điện tử bán lẻ xuyên biên giới các kênh và thuế và nhập khẩu sẽ được đánh đầy đủ theo thuế suất hàng hóa. Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ và số tiền giao dịch được bao gồm trong tổng giao dịch hàng năm, nhưng nếu tổng giao dịch hàng năm vượt quá giao dịch hàng năm giới hạn, nó sẽ được quản lý như thương mại chung. Hàng hóa nhập khẩu thương mại điện tử mua vào là sản phẩm cuối cùng phục vụ cho mục đích cá nhân của người tiêu dùng, không được phép đưa vào thị trường trong nước để bán lại; về nguyên tắc, mua sắm trực tuyến hàng hóa nhập khẩu ngoại quan không được phép thực hiện “mua bán trực tuyến ngoại quan + mô hình tự đón ngoại tuyến ” ngoài khu vực giám sát hải quan đặc biệt.

Như vậy, đối với các giao dịch lớn, kinh doanh thì cơ quan hải quan Trung Quốc không điều chỉnh bởi văn bản đặc biệt này mà chỉ có những giao dịch bán lẻ, trị giá dưới 5000 NDT (tương đương khoảng 15 triệu/01 lần giao dịch) hoặc tổng trị giá hàng hóa của cá nhân 01 năm không quá 26.000 NDT (tương đương khoảng 850 triệu đồng/01 năm), phục vụ tiêu dùng không đưa vào kinh doanh thì mới điều chỉnh bởi quy định này.

Thứ hai, quy định về người khai hải quan

Tại Điều 4 dự thảo Nghị định quy định người khai hải quan rất rộng bao gồm chủ sàn giao dịch thương mại điện tử, chủ sở hữu website sàn giao dịch thương mại điện tử, đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu... và chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch thương mại điện tử. Việc quy định như trên là phù hợp với khoản 14 Điều 4 Luật Hải quan năm 2014 nhưng lại chưa phù hợp với thực tiễn.

Ngày 19/8/2021, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 4090 về việc khai chứng minh thư nhân dân trên tờ khai nhập khẩu có trị giá thấp qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Theo hướng dẫn tại văn bản thì người từ 14 tuổi trở lên có thể thực hiện khai hải quan. Giả sử, chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu nêu tại Nghị định giới hạn từ 14 tuổi trở lên cũng chưa phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 19 Luật Căn cước công dân năm 2019: “Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân”; khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015: “2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. 4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”; Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”; khoản 1 Điều 101 Luật Trẻ em năm 2016: “Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trong trường hợp để trẻ em thực hiện giao dịch dân sự trái pháp luật”; khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” thì người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi chỉ được tự mình thực hiện các giao dịch dân sự thuộc khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với các giao dịch khác phải có thông qua người đại diện theo pháp luật. Do vậy, căn cứ đối tượng giao dịch nếu xét thấy hàng hóa mà người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi thuộc nhóm quy định tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì các sàn giao dịch thương mại điện tử hoặc doanh nghiệp khai hải quan không phải khai thông tin về người đại diện theo pháp luật đối với các giao dịch này, ví dụ: Kẹp tóc, búp bê, đồ chơi… Ngoài nhóm hàng tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì doanh nghiệp khai hải quan phải yêu cầu cung cấp thông tin người đại diện theo pháp luật để khai hải quan, ví dụ: Khi hàng hóa là sơn nhà, máy khoan, máy nổ,…

Thực tiễn hàng hóa giao dịch quan thương mại điện tử xuyên biên giới có nhiều người ở rất nhiều độ tuổi khác nhau. Nếu quy định để chủ sở hữu hàng khai hải quan đối với các giao dịch không chỉ phát sinh một số lượng lớn tài khoản mà còn liên quan đến công tác quản lý, thu thuế đối với các giao dịch này.

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, tại Điều 2 Thông báo 194 năm 2018 quy định việc thực hiện thủ tục hải quan pháp luật giao cho “Các công ty nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, công ty dịch vụ logictis, giao nhận, vận chuyển, công ty thanh toán và các công ty khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới phải đăng ký với hải quan”.

Như vậy, để thuận lợi cho công tác quản lý, theo dõi, thu thuế thì pháp luật giao trách nhiệm thực hiện thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến mua bán lẻ với khách hàng qua nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới. Chủ sở hữu - khách hàng mua lẻ từ sàn thương mại điện tử không trực tiếp được phép làm thủ tục hải quan. Người mua hàng chỉ có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng. Doanh nghiệp dịch vụ phải thực hiện các thủ tục tính thuế vào sản phẩm, làm thủ tục hải quan cho khách hàng...

Thứ ba, quy định về thu và quản lý thuế đối với các giao dịch

Chính sách thuế là một trong những vấn đề quan trọng được đặt ra vừa bảo đảm Nhà nước thu được thuế từ các giao dịch tránh thất thoát và các đối tượng lợi dụng trốn thuế. Đây là một trong những nội dung quan trọng được Nhà nước (Bộ Tài chính), doanh nghiệp và người dân quan tâm.

Điều 15 dự thảo Nghị định quy định những trường hợp được miễn thuế nhập khẩu bao gồm: (i) Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu theo từng đơn hàng dưới 1 triệu đồng Việt Nam trở xuống; (ii) Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu theo từng đơn hàng trên 1 triệu đồng Việt Nam nhưng số tiền thuế phải nộp dưới 100.000 đồng. Mỗi cá nhân được hưởng tiêu chuẩn miễn thuế trên không quá 01 đơn hàng/01 ngày và không quá 04 đơn hàng/01 tháng. Việc quy định như dự thảo vẫn tạo kẽ hở cho các đối tượng lợi dụng khi tách nhỏ theo các đơn hàng khác nhau để bảo đảm trị giá hải quan hoặc số tiền thuế phải nộp dưới mức phải chịu thuế.

Có thể tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, để bảo đảm thực hiện chính sách thuế tại Điều 4 Thông báo 194 năm 2018, Tổng cục Hải quan Trung Quốc quy định vấn đề thu và quản lý thuế đối với giao dịch qua thương mại điện tử xuyên biên giới như sau:

- Đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới, hải quan đánh thuế quan, thuế giá trị gia tăng nhập khẩu và thuế tiêu thụ theo chính sách thuế quốc gia đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới. Giá tính thuế là giá giao dịch thực tế, bao gồm giá bán lẻ của hàng hóa, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm.

- Người tiêu dùng (người đặt hàng) hàng hóa nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới là người nộp thuế. Các công ty nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, công ty dịch vụ hoặc công ty khai báo đã đăng ký với hải quan sẽ đóng vai trò là đại lý thu và nộp thuế, thay mặt họ (người đặt hàng) thực hiện các nghĩa vụ thuế và thực hiện các nghĩa vụ hoàn thuế tương ứng và các trách nhiệm pháp lý liên quan.

- Đại lý thực hiện thu, nộp phải kê khai trung thực, chính xác với hải quan các yếu tố quản lý thu thuế đối với hàng hóa nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới như tên hàng, quy cách mẫu mã, mã số thuế, giao dịch thực tế. giá và các khoản phí liên quan.

Đơn vị tiền tệ để khai báo hàng nhập khẩu thương mại điện tử xuyên biên giới là Nhân dân tệ.

- Để rà soát, xác định phân loại và trị giá tính thuế của hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới, cơ quan hải quan có thể yêu cầu đại lý thu khai bổ sung theo quy định của pháp luật.

- Hải quan thu và đánh thuế đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới đáp ứng các yêu cầu quy định theo thời hạn và đại lý thu nộp bảo đảm thuế đầy đủ và có hiệu lực cho hải quan theo quy định của pháp luật.

Nếu không có đơn hàng trả lại hoặc sửa đổi hoặc hủy đơn hàng trong vòng 30 ngày sau khi thông quan, đại lý thu phải làm thủ tục nộp thuế với hải quan trong vòng từ ngày 31 đến ngày thứ 45 kể từ ngày thông quan. Theo đó, cơ quan hải quan Trung Quốc yêu cầu doanh nghiệp thực hiện quyết toán thuế thuế đối với giao dịch thực hiện qua thương mại điện tử theo tháng.

ThS. Phạm Văn Bằng
Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: