Thứ ba 22/09/2026 07:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nghị định quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử nhìn từ kinh nghiệm của Trung Quốc

Ngày 26/02/2021, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 24/NQ-CP về việc thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử (Nghị định). Theo đó, Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng Nghị định này và trình Chính phủ trong Quý IV năm 2021.

Thực hiện Chương trình xây dựng pháp luật của Chính phủ, Bộ Tài chính đã giao Tổng cục Hải quan là cơ quan chủ trì xây dựng Nghị định trên và hiện nay, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến các Bộ ngành về dự thảo Nghị định quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử. Qua nghiên cứu nội dung dự thảo cùng với việc nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu qua phương thức thương mại điện tử, tác giả nhận thấy một số nội dung như sau:

Thứ nhất, về đối tượng áp dụng của Nghị định

Tại Điều 1 dự thảo Nghị định quy định đối tượng áp dụng quy định đối tượng áp dụng của Nghị định là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử, wesite thương mại điện tử bán hàng... Có thể thấy, Nghị định chưa có sự phân biệt điều chỉnh đối với các giao dịch mua bán buôn qua sàn giao dịch thương mại điện tử (với số lượng lớn) và giao dịch mua bán lẻ (số lượng nhỏ, phục vụ nhu cầu cá nhân). Hiện nay, hoạt động mua bán qua sàn giao dịch thương mại điện tử lớn đang thực hiện theo thủ tục hải quan thông thường. Đối với các giao dịch nhỏ lẻ thực hiện theo hình thức chuyển phát nhanh.

Tại Thông báo số 194 năm 2018[1] của Tổng cục Hải quan Trung Quốc thì phạm vi điều chỉnh quản lý đặc thù của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới chỉ áp dụng đối với các giao dịch mua bán lẻ, cụ thể: Tại Điều 1 Thông báo này quy định phạm vi áp dụng: “Doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới và người tiêu dùng (người đặt hàng) thực hiện giao dịch bán lẻ hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới và truyền dữ liệu điện tử giao dịch liên quan theo yêu cầu hải quan phải chấp nhận sự giám sát hải quan theo quy định này”.

Theo quy định tại điểm 1, 2, 3 Thông báo số 49 (2018) của Tổng cục Hải quan Trung Quốc[2] thì tăng giới hạn giao dịch đơn lẻ của hàng nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới từ 2.000 NDT lên 5.000 NDT và giới hạn giao dịch hàng năm từ 20.000 NDT lên 26.000 NDT. Khi giá đã thanh toán vượt quá giới hạn giao dịch đơn lẻ là 5.000 nhân dân tệ nhưng thấp hơn giới hạn giao dịch hàng năm là 26.000 nhân dân tệ và chỉ có một sản phẩm theo đơn đặt hàng, nó có thể được nhập khẩu từ thương mại điện tử bán lẻ xuyên biên giới các kênh và thuế và nhập khẩu sẽ được đánh đầy đủ theo thuế suất hàng hóa. Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ và số tiền giao dịch được bao gồm trong tổng giao dịch hàng năm, nhưng nếu tổng giao dịch hàng năm vượt quá giao dịch hàng năm giới hạn, nó sẽ được quản lý như thương mại chung. Hàng hóa nhập khẩu thương mại điện tử mua vào là sản phẩm cuối cùng phục vụ cho mục đích cá nhân của người tiêu dùng, không được phép đưa vào thị trường trong nước để bán lại; về nguyên tắc, mua sắm trực tuyến hàng hóa nhập khẩu ngoại quan không được phép thực hiện “mua bán trực tuyến ngoại quan + mô hình tự đón ngoại tuyến ” ngoài khu vực giám sát hải quan đặc biệt.

Như vậy, đối với các giao dịch lớn, kinh doanh thì cơ quan hải quan Trung Quốc không điều chỉnh bởi văn bản đặc biệt này mà chỉ có những giao dịch bán lẻ, trị giá dưới 5000 NDT (tương đương khoảng 15 triệu/01 lần giao dịch) hoặc tổng trị giá hàng hóa của cá nhân 01 năm không quá 26.000 NDT (tương đương khoảng 850 triệu đồng/01 năm), phục vụ tiêu dùng không đưa vào kinh doanh thì mới điều chỉnh bởi quy định này.

Thứ hai, quy định về người khai hải quan

Tại Điều 4 dự thảo Nghị định quy định người khai hải quan rất rộng bao gồm chủ sàn giao dịch thương mại điện tử, chủ sở hữu website sàn giao dịch thương mại điện tử, đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu... và chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch thương mại điện tử. Việc quy định như trên là phù hợp với khoản 14 Điều 4 Luật Hải quan năm 2014 nhưng lại chưa phù hợp với thực tiễn.

Ngày 19/8/2021, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 4090 về việc khai chứng minh thư nhân dân trên tờ khai nhập khẩu có trị giá thấp qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Theo hướng dẫn tại văn bản thì người từ 14 tuổi trở lên có thể thực hiện khai hải quan. Giả sử, chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu nêu tại Nghị định giới hạn từ 14 tuổi trở lên cũng chưa phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 19 Luật Căn cước công dân năm 2019: “Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân”; khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015: “2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. 4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”; Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”; khoản 1 Điều 101 Luật Trẻ em năm 2016: “Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trong trường hợp để trẻ em thực hiện giao dịch dân sự trái pháp luật”; khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” thì người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi chỉ được tự mình thực hiện các giao dịch dân sự thuộc khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với các giao dịch khác phải có thông qua người đại diện theo pháp luật. Do vậy, căn cứ đối tượng giao dịch nếu xét thấy hàng hóa mà người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi thuộc nhóm quy định tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì các sàn giao dịch thương mại điện tử hoặc doanh nghiệp khai hải quan không phải khai thông tin về người đại diện theo pháp luật đối với các giao dịch này, ví dụ: Kẹp tóc, búp bê, đồ chơi… Ngoài nhóm hàng tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì doanh nghiệp khai hải quan phải yêu cầu cung cấp thông tin người đại diện theo pháp luật để khai hải quan, ví dụ: Khi hàng hóa là sơn nhà, máy khoan, máy nổ,…

Thực tiễn hàng hóa giao dịch quan thương mại điện tử xuyên biên giới có nhiều người ở rất nhiều độ tuổi khác nhau. Nếu quy định để chủ sở hữu hàng khai hải quan đối với các giao dịch không chỉ phát sinh một số lượng lớn tài khoản mà còn liên quan đến công tác quản lý, thu thuế đối với các giao dịch này.

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, tại Điều 2 Thông báo 194 năm 2018 quy định việc thực hiện thủ tục hải quan pháp luật giao cho “Các công ty nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, công ty dịch vụ logictis, giao nhận, vận chuyển, công ty thanh toán và các công ty khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới phải đăng ký với hải quan”.

Như vậy, để thuận lợi cho công tác quản lý, theo dõi, thu thuế thì pháp luật giao trách nhiệm thực hiện thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến mua bán lẻ với khách hàng qua nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới. Chủ sở hữu - khách hàng mua lẻ từ sàn thương mại điện tử không trực tiếp được phép làm thủ tục hải quan. Người mua hàng chỉ có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng. Doanh nghiệp dịch vụ phải thực hiện các thủ tục tính thuế vào sản phẩm, làm thủ tục hải quan cho khách hàng...

Thứ ba, quy định về thu và quản lý thuế đối với các giao dịch

Chính sách thuế là một trong những vấn đề quan trọng được đặt ra vừa bảo đảm Nhà nước thu được thuế từ các giao dịch tránh thất thoát và các đối tượng lợi dụng trốn thuế. Đây là một trong những nội dung quan trọng được Nhà nước (Bộ Tài chính), doanh nghiệp và người dân quan tâm.

Điều 15 dự thảo Nghị định quy định những trường hợp được miễn thuế nhập khẩu bao gồm: (i) Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu theo từng đơn hàng dưới 1 triệu đồng Việt Nam trở xuống; (ii) Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu theo từng đơn hàng trên 1 triệu đồng Việt Nam nhưng số tiền thuế phải nộp dưới 100.000 đồng. Mỗi cá nhân được hưởng tiêu chuẩn miễn thuế trên không quá 01 đơn hàng/01 ngày và không quá 04 đơn hàng/01 tháng. Việc quy định như dự thảo vẫn tạo kẽ hở cho các đối tượng lợi dụng khi tách nhỏ theo các đơn hàng khác nhau để bảo đảm trị giá hải quan hoặc số tiền thuế phải nộp dưới mức phải chịu thuế.

Có thể tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, để bảo đảm thực hiện chính sách thuế tại Điều 4 Thông báo 194 năm 2018, Tổng cục Hải quan Trung Quốc quy định vấn đề thu và quản lý thuế đối với giao dịch qua thương mại điện tử xuyên biên giới như sau:

- Đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới, hải quan đánh thuế quan, thuế giá trị gia tăng nhập khẩu và thuế tiêu thụ theo chính sách thuế quốc gia đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới. Giá tính thuế là giá giao dịch thực tế, bao gồm giá bán lẻ của hàng hóa, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm.

- Người tiêu dùng (người đặt hàng) hàng hóa nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới là người nộp thuế. Các công ty nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, công ty dịch vụ hoặc công ty khai báo đã đăng ký với hải quan sẽ đóng vai trò là đại lý thu và nộp thuế, thay mặt họ (người đặt hàng) thực hiện các nghĩa vụ thuế và thực hiện các nghĩa vụ hoàn thuế tương ứng và các trách nhiệm pháp lý liên quan.

- Đại lý thực hiện thu, nộp phải kê khai trung thực, chính xác với hải quan các yếu tố quản lý thu thuế đối với hàng hóa nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới như tên hàng, quy cách mẫu mã, mã số thuế, giao dịch thực tế. giá và các khoản phí liên quan.

Đơn vị tiền tệ để khai báo hàng nhập khẩu thương mại điện tử xuyên biên giới là Nhân dân tệ.

- Để rà soát, xác định phân loại và trị giá tính thuế của hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới, cơ quan hải quan có thể yêu cầu đại lý thu khai bổ sung theo quy định của pháp luật.

- Hải quan thu và đánh thuế đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới đáp ứng các yêu cầu quy định theo thời hạn và đại lý thu nộp bảo đảm thuế đầy đủ và có hiệu lực cho hải quan theo quy định của pháp luật.

Nếu không có đơn hàng trả lại hoặc sửa đổi hoặc hủy đơn hàng trong vòng 30 ngày sau khi thông quan, đại lý thu phải làm thủ tục nộp thuế với hải quan trong vòng từ ngày 31 đến ngày thứ 45 kể từ ngày thông quan. Theo đó, cơ quan hải quan Trung Quốc yêu cầu doanh nghiệp thực hiện quyết toán thuế thuế đối với giao dịch thực hiện qua thương mại điện tử theo tháng.

ThS. Phạm Văn Bằng
Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: