Thứ ba 21/04/2026 20:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nghị định quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử nhìn từ kinh nghiệm của Trung Quốc

Ngày 26/02/2021, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 24/NQ-CP về việc thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử (Nghị định). Theo đó, Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng Nghị định này và trình Chính phủ trong Quý IV năm 2021.

Thực hiện Chương trình xây dựng pháp luật của Chính phủ, Bộ Tài chính đã giao Tổng cục Hải quan là cơ quan chủ trì xây dựng Nghị định trên và hiện nay, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến các Bộ ngành về dự thảo Nghị định quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử. Qua nghiên cứu nội dung dự thảo cùng với việc nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu qua phương thức thương mại điện tử, tác giả nhận thấy một số nội dung như sau:

Thứ nhất, về đối tượng áp dụng của Nghị định

Tại Điều 1 dự thảo Nghị định quy định đối tượng áp dụng quy định đối tượng áp dụng của Nghị định là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử, wesite thương mại điện tử bán hàng... Có thể thấy, Nghị định chưa có sự phân biệt điều chỉnh đối với các giao dịch mua bán buôn qua sàn giao dịch thương mại điện tử (với số lượng lớn) và giao dịch mua bán lẻ (số lượng nhỏ, phục vụ nhu cầu cá nhân). Hiện nay, hoạt động mua bán qua sàn giao dịch thương mại điện tử lớn đang thực hiện theo thủ tục hải quan thông thường. Đối với các giao dịch nhỏ lẻ thực hiện theo hình thức chuyển phát nhanh.

Tại Thông báo số 194 năm 2018[1] của Tổng cục Hải quan Trung Quốc thì phạm vi điều chỉnh quản lý đặc thù của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới chỉ áp dụng đối với các giao dịch mua bán lẻ, cụ thể: Tại Điều 1 Thông báo này quy định phạm vi áp dụng: “Doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới và người tiêu dùng (người đặt hàng) thực hiện giao dịch bán lẻ hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới và truyền dữ liệu điện tử giao dịch liên quan theo yêu cầu hải quan phải chấp nhận sự giám sát hải quan theo quy định này”.

Theo quy định tại điểm 1, 2, 3 Thông báo số 49 (2018) của Tổng cục Hải quan Trung Quốc[2] thì tăng giới hạn giao dịch đơn lẻ của hàng nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới từ 2.000 NDT lên 5.000 NDT và giới hạn giao dịch hàng năm từ 20.000 NDT lên 26.000 NDT. Khi giá đã thanh toán vượt quá giới hạn giao dịch đơn lẻ là 5.000 nhân dân tệ nhưng thấp hơn giới hạn giao dịch hàng năm là 26.000 nhân dân tệ và chỉ có một sản phẩm theo đơn đặt hàng, nó có thể được nhập khẩu từ thương mại điện tử bán lẻ xuyên biên giới các kênh và thuế và nhập khẩu sẽ được đánh đầy đủ theo thuế suất hàng hóa. Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ và số tiền giao dịch được bao gồm trong tổng giao dịch hàng năm, nhưng nếu tổng giao dịch hàng năm vượt quá giao dịch hàng năm giới hạn, nó sẽ được quản lý như thương mại chung. Hàng hóa nhập khẩu thương mại điện tử mua vào là sản phẩm cuối cùng phục vụ cho mục đích cá nhân của người tiêu dùng, không được phép đưa vào thị trường trong nước để bán lại; về nguyên tắc, mua sắm trực tuyến hàng hóa nhập khẩu ngoại quan không được phép thực hiện “mua bán trực tuyến ngoại quan + mô hình tự đón ngoại tuyến ” ngoài khu vực giám sát hải quan đặc biệt.

Như vậy, đối với các giao dịch lớn, kinh doanh thì cơ quan hải quan Trung Quốc không điều chỉnh bởi văn bản đặc biệt này mà chỉ có những giao dịch bán lẻ, trị giá dưới 5000 NDT (tương đương khoảng 15 triệu/01 lần giao dịch) hoặc tổng trị giá hàng hóa của cá nhân 01 năm không quá 26.000 NDT (tương đương khoảng 850 triệu đồng/01 năm), phục vụ tiêu dùng không đưa vào kinh doanh thì mới điều chỉnh bởi quy định này.

Thứ hai, quy định về người khai hải quan

Tại Điều 4 dự thảo Nghị định quy định người khai hải quan rất rộng bao gồm chủ sàn giao dịch thương mại điện tử, chủ sở hữu website sàn giao dịch thương mại điện tử, đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu... và chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch thương mại điện tử. Việc quy định như trên là phù hợp với khoản 14 Điều 4 Luật Hải quan năm 2014 nhưng lại chưa phù hợp với thực tiễn.

Ngày 19/8/2021, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 4090 về việc khai chứng minh thư nhân dân trên tờ khai nhập khẩu có trị giá thấp qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Theo hướng dẫn tại văn bản thì người từ 14 tuổi trở lên có thể thực hiện khai hải quan. Giả sử, chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu nêu tại Nghị định giới hạn từ 14 tuổi trở lên cũng chưa phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 19 Luật Căn cước công dân năm 2019: “Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân”; khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015: “2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. 4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”; Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”; khoản 1 Điều 101 Luật Trẻ em năm 2016: “Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trong trường hợp để trẻ em thực hiện giao dịch dân sự trái pháp luật”; khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” thì người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi chỉ được tự mình thực hiện các giao dịch dân sự thuộc khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với các giao dịch khác phải có thông qua người đại diện theo pháp luật. Do vậy, căn cứ đối tượng giao dịch nếu xét thấy hàng hóa mà người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi thuộc nhóm quy định tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì các sàn giao dịch thương mại điện tử hoặc doanh nghiệp khai hải quan không phải khai thông tin về người đại diện theo pháp luật đối với các giao dịch này, ví dụ: Kẹp tóc, búp bê, đồ chơi… Ngoài nhóm hàng tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì doanh nghiệp khai hải quan phải yêu cầu cung cấp thông tin người đại diện theo pháp luật để khai hải quan, ví dụ: Khi hàng hóa là sơn nhà, máy khoan, máy nổ,…

Thực tiễn hàng hóa giao dịch quan thương mại điện tử xuyên biên giới có nhiều người ở rất nhiều độ tuổi khác nhau. Nếu quy định để chủ sở hữu hàng khai hải quan đối với các giao dịch không chỉ phát sinh một số lượng lớn tài khoản mà còn liên quan đến công tác quản lý, thu thuế đối với các giao dịch này.

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, tại Điều 2 Thông báo 194 năm 2018 quy định việc thực hiện thủ tục hải quan pháp luật giao cho “Các công ty nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, công ty dịch vụ logictis, giao nhận, vận chuyển, công ty thanh toán và các công ty khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới phải đăng ký với hải quan”.

Như vậy, để thuận lợi cho công tác quản lý, theo dõi, thu thuế thì pháp luật giao trách nhiệm thực hiện thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến mua bán lẻ với khách hàng qua nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới. Chủ sở hữu - khách hàng mua lẻ từ sàn thương mại điện tử không trực tiếp được phép làm thủ tục hải quan. Người mua hàng chỉ có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng. Doanh nghiệp dịch vụ phải thực hiện các thủ tục tính thuế vào sản phẩm, làm thủ tục hải quan cho khách hàng...

Thứ ba, quy định về thu và quản lý thuế đối với các giao dịch

Chính sách thuế là một trong những vấn đề quan trọng được đặt ra vừa bảo đảm Nhà nước thu được thuế từ các giao dịch tránh thất thoát và các đối tượng lợi dụng trốn thuế. Đây là một trong những nội dung quan trọng được Nhà nước (Bộ Tài chính), doanh nghiệp và người dân quan tâm.

Điều 15 dự thảo Nghị định quy định những trường hợp được miễn thuế nhập khẩu bao gồm: (i) Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu theo từng đơn hàng dưới 1 triệu đồng Việt Nam trở xuống; (ii) Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu theo từng đơn hàng trên 1 triệu đồng Việt Nam nhưng số tiền thuế phải nộp dưới 100.000 đồng. Mỗi cá nhân được hưởng tiêu chuẩn miễn thuế trên không quá 01 đơn hàng/01 ngày và không quá 04 đơn hàng/01 tháng. Việc quy định như dự thảo vẫn tạo kẽ hở cho các đối tượng lợi dụng khi tách nhỏ theo các đơn hàng khác nhau để bảo đảm trị giá hải quan hoặc số tiền thuế phải nộp dưới mức phải chịu thuế.

Có thể tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, để bảo đảm thực hiện chính sách thuế tại Điều 4 Thông báo 194 năm 2018, Tổng cục Hải quan Trung Quốc quy định vấn đề thu và quản lý thuế đối với giao dịch qua thương mại điện tử xuyên biên giới như sau:

- Đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới, hải quan đánh thuế quan, thuế giá trị gia tăng nhập khẩu và thuế tiêu thụ theo chính sách thuế quốc gia đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới. Giá tính thuế là giá giao dịch thực tế, bao gồm giá bán lẻ của hàng hóa, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm.

- Người tiêu dùng (người đặt hàng) hàng hóa nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới là người nộp thuế. Các công ty nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, công ty dịch vụ hoặc công ty khai báo đã đăng ký với hải quan sẽ đóng vai trò là đại lý thu và nộp thuế, thay mặt họ (người đặt hàng) thực hiện các nghĩa vụ thuế và thực hiện các nghĩa vụ hoàn thuế tương ứng và các trách nhiệm pháp lý liên quan.

- Đại lý thực hiện thu, nộp phải kê khai trung thực, chính xác với hải quan các yếu tố quản lý thu thuế đối với hàng hóa nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới như tên hàng, quy cách mẫu mã, mã số thuế, giao dịch thực tế. giá và các khoản phí liên quan.

Đơn vị tiền tệ để khai báo hàng nhập khẩu thương mại điện tử xuyên biên giới là Nhân dân tệ.

- Để rà soát, xác định phân loại và trị giá tính thuế của hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới, cơ quan hải quan có thể yêu cầu đại lý thu khai bổ sung theo quy định của pháp luật.

- Hải quan thu và đánh thuế đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới đáp ứng các yêu cầu quy định theo thời hạn và đại lý thu nộp bảo đảm thuế đầy đủ và có hiệu lực cho hải quan theo quy định của pháp luật.

Nếu không có đơn hàng trả lại hoặc sửa đổi hoặc hủy đơn hàng trong vòng 30 ngày sau khi thông quan, đại lý thu phải làm thủ tục nộp thuế với hải quan trong vòng từ ngày 31 đến ngày thứ 45 kể từ ngày thông quan. Theo đó, cơ quan hải quan Trung Quốc yêu cầu doanh nghiệp thực hiện quyết toán thuế thuế đối với giao dịch thực hiện qua thương mại điện tử theo tháng.

ThS. Phạm Văn Bằng
Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: