Thứ tư 17/12/2025 13:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nghị định quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử nhìn từ kinh nghiệm của Trung Quốc

Ngày 26/02/2021, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 24/NQ-CP về việc thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử (Nghị định). Theo đó, Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng Nghị định này và trình Chính phủ trong Quý IV năm 2021.

Thực hiện Chương trình xây dựng pháp luật của Chính phủ, Bộ Tài chính đã giao Tổng cục Hải quan là cơ quan chủ trì xây dựng Nghị định trên và hiện nay, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến các Bộ ngành về dự thảo Nghị định quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử. Qua nghiên cứu nội dung dự thảo cùng với việc nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu qua phương thức thương mại điện tử, tác giả nhận thấy một số nội dung như sau:

Thứ nhất, về đối tượng áp dụng của Nghị định

Tại Điều 1 dự thảo Nghị định quy định đối tượng áp dụng quy định đối tượng áp dụng của Nghị định là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử, wesite thương mại điện tử bán hàng... Có thể thấy, Nghị định chưa có sự phân biệt điều chỉnh đối với các giao dịch mua bán buôn qua sàn giao dịch thương mại điện tử (với số lượng lớn) và giao dịch mua bán lẻ (số lượng nhỏ, phục vụ nhu cầu cá nhân). Hiện nay, hoạt động mua bán qua sàn giao dịch thương mại điện tử lớn đang thực hiện theo thủ tục hải quan thông thường. Đối với các giao dịch nhỏ lẻ thực hiện theo hình thức chuyển phát nhanh.

Tại Thông báo số 194 năm 2018[1] của Tổng cục Hải quan Trung Quốc thì phạm vi điều chỉnh quản lý đặc thù của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới chỉ áp dụng đối với các giao dịch mua bán lẻ, cụ thể: Tại Điều 1 Thông báo này quy định phạm vi áp dụng: “Doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới và người tiêu dùng (người đặt hàng) thực hiện giao dịch bán lẻ hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới và truyền dữ liệu điện tử giao dịch liên quan theo yêu cầu hải quan phải chấp nhận sự giám sát hải quan theo quy định này”.

Theo quy định tại điểm 1, 2, 3 Thông báo số 49 (2018) của Tổng cục Hải quan Trung Quốc[2] thì tăng giới hạn giao dịch đơn lẻ của hàng nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới từ 2.000 NDT lên 5.000 NDT và giới hạn giao dịch hàng năm từ 20.000 NDT lên 26.000 NDT. Khi giá đã thanh toán vượt quá giới hạn giao dịch đơn lẻ là 5.000 nhân dân tệ nhưng thấp hơn giới hạn giao dịch hàng năm là 26.000 nhân dân tệ và chỉ có một sản phẩm theo đơn đặt hàng, nó có thể được nhập khẩu từ thương mại điện tử bán lẻ xuyên biên giới các kênh và thuế và nhập khẩu sẽ được đánh đầy đủ theo thuế suất hàng hóa. Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ và số tiền giao dịch được bao gồm trong tổng giao dịch hàng năm, nhưng nếu tổng giao dịch hàng năm vượt quá giao dịch hàng năm giới hạn, nó sẽ được quản lý như thương mại chung. Hàng hóa nhập khẩu thương mại điện tử mua vào là sản phẩm cuối cùng phục vụ cho mục đích cá nhân của người tiêu dùng, không được phép đưa vào thị trường trong nước để bán lại; về nguyên tắc, mua sắm trực tuyến hàng hóa nhập khẩu ngoại quan không được phép thực hiện “mua bán trực tuyến ngoại quan + mô hình tự đón ngoại tuyến ” ngoài khu vực giám sát hải quan đặc biệt.

Như vậy, đối với các giao dịch lớn, kinh doanh thì cơ quan hải quan Trung Quốc không điều chỉnh bởi văn bản đặc biệt này mà chỉ có những giao dịch bán lẻ, trị giá dưới 5000 NDT (tương đương khoảng 15 triệu/01 lần giao dịch) hoặc tổng trị giá hàng hóa của cá nhân 01 năm không quá 26.000 NDT (tương đương khoảng 850 triệu đồng/01 năm), phục vụ tiêu dùng không đưa vào kinh doanh thì mới điều chỉnh bởi quy định này.

Thứ hai, quy định về người khai hải quan

Tại Điều 4 dự thảo Nghị định quy định người khai hải quan rất rộng bao gồm chủ sàn giao dịch thương mại điện tử, chủ sở hữu website sàn giao dịch thương mại điện tử, đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu... và chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch thương mại điện tử. Việc quy định như trên là phù hợp với khoản 14 Điều 4 Luật Hải quan năm 2014 nhưng lại chưa phù hợp với thực tiễn.

Ngày 19/8/2021, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 4090 về việc khai chứng minh thư nhân dân trên tờ khai nhập khẩu có trị giá thấp qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Theo hướng dẫn tại văn bản thì người từ 14 tuổi trở lên có thể thực hiện khai hải quan. Giả sử, chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu nêu tại Nghị định giới hạn từ 14 tuổi trở lên cũng chưa phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 19 Luật Căn cước công dân năm 2019: “Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân”; khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015: “2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. 4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”; Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”; khoản 1 Điều 101 Luật Trẻ em năm 2016: “Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trong trường hợp để trẻ em thực hiện giao dịch dân sự trái pháp luật”; khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” thì người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi chỉ được tự mình thực hiện các giao dịch dân sự thuộc khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với các giao dịch khác phải có thông qua người đại diện theo pháp luật. Do vậy, căn cứ đối tượng giao dịch nếu xét thấy hàng hóa mà người từ đủ 14 tuổi đến đủ 15 tuổi thuộc nhóm quy định tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì các sàn giao dịch thương mại điện tử hoặc doanh nghiệp khai hải quan không phải khai thông tin về người đại diện theo pháp luật đối với các giao dịch này, ví dụ: Kẹp tóc, búp bê, đồ chơi… Ngoài nhóm hàng tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì doanh nghiệp khai hải quan phải yêu cầu cung cấp thông tin người đại diện theo pháp luật để khai hải quan, ví dụ: Khi hàng hóa là sơn nhà, máy khoan, máy nổ,…

Thực tiễn hàng hóa giao dịch quan thương mại điện tử xuyên biên giới có nhiều người ở rất nhiều độ tuổi khác nhau. Nếu quy định để chủ sở hữu hàng khai hải quan đối với các giao dịch không chỉ phát sinh một số lượng lớn tài khoản mà còn liên quan đến công tác quản lý, thu thuế đối với các giao dịch này.

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, tại Điều 2 Thông báo 194 năm 2018 quy định việc thực hiện thủ tục hải quan pháp luật giao cho “Các công ty nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, công ty dịch vụ logictis, giao nhận, vận chuyển, công ty thanh toán và các công ty khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới phải đăng ký với hải quan”.

Như vậy, để thuận lợi cho công tác quản lý, theo dõi, thu thuế thì pháp luật giao trách nhiệm thực hiện thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến mua bán lẻ với khách hàng qua nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới. Chủ sở hữu - khách hàng mua lẻ từ sàn thương mại điện tử không trực tiếp được phép làm thủ tục hải quan. Người mua hàng chỉ có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng. Doanh nghiệp dịch vụ phải thực hiện các thủ tục tính thuế vào sản phẩm, làm thủ tục hải quan cho khách hàng...

Thứ ba, quy định về thu và quản lý thuế đối với các giao dịch

Chính sách thuế là một trong những vấn đề quan trọng được đặt ra vừa bảo đảm Nhà nước thu được thuế từ các giao dịch tránh thất thoát và các đối tượng lợi dụng trốn thuế. Đây là một trong những nội dung quan trọng được Nhà nước (Bộ Tài chính), doanh nghiệp và người dân quan tâm.

Điều 15 dự thảo Nghị định quy định những trường hợp được miễn thuế nhập khẩu bao gồm: (i) Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu theo từng đơn hàng dưới 1 triệu đồng Việt Nam trở xuống; (ii) Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu theo từng đơn hàng trên 1 triệu đồng Việt Nam nhưng số tiền thuế phải nộp dưới 100.000 đồng. Mỗi cá nhân được hưởng tiêu chuẩn miễn thuế trên không quá 01 đơn hàng/01 ngày và không quá 04 đơn hàng/01 tháng. Việc quy định như dự thảo vẫn tạo kẽ hở cho các đối tượng lợi dụng khi tách nhỏ theo các đơn hàng khác nhau để bảo đảm trị giá hải quan hoặc số tiền thuế phải nộp dưới mức phải chịu thuế.

Có thể tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, để bảo đảm thực hiện chính sách thuế tại Điều 4 Thông báo 194 năm 2018, Tổng cục Hải quan Trung Quốc quy định vấn đề thu và quản lý thuế đối với giao dịch qua thương mại điện tử xuyên biên giới như sau:

- Đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới, hải quan đánh thuế quan, thuế giá trị gia tăng nhập khẩu và thuế tiêu thụ theo chính sách thuế quốc gia đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới. Giá tính thuế là giá giao dịch thực tế, bao gồm giá bán lẻ của hàng hóa, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm.

- Người tiêu dùng (người đặt hàng) hàng hóa nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới là người nộp thuế. Các công ty nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, công ty dịch vụ hoặc công ty khai báo đã đăng ký với hải quan sẽ đóng vai trò là đại lý thu và nộp thuế, thay mặt họ (người đặt hàng) thực hiện các nghĩa vụ thuế và thực hiện các nghĩa vụ hoàn thuế tương ứng và các trách nhiệm pháp lý liên quan.

- Đại lý thực hiện thu, nộp phải kê khai trung thực, chính xác với hải quan các yếu tố quản lý thu thuế đối với hàng hóa nhập khẩu bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới như tên hàng, quy cách mẫu mã, mã số thuế, giao dịch thực tế. giá và các khoản phí liên quan.

Đơn vị tiền tệ để khai báo hàng nhập khẩu thương mại điện tử xuyên biên giới là Nhân dân tệ.

- Để rà soát, xác định phân loại và trị giá tính thuế của hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử qua biên giới, cơ quan hải quan có thể yêu cầu đại lý thu khai bổ sung theo quy định của pháp luật.

- Hải quan thu và đánh thuế đối với hàng hóa bán lẻ thương mại điện tử xuyên biên giới đáp ứng các yêu cầu quy định theo thời hạn và đại lý thu nộp bảo đảm thuế đầy đủ và có hiệu lực cho hải quan theo quy định của pháp luật.

Nếu không có đơn hàng trả lại hoặc sửa đổi hoặc hủy đơn hàng trong vòng 30 ngày sau khi thông quan, đại lý thu phải làm thủ tục nộp thuế với hải quan trong vòng từ ngày 31 đến ngày thứ 45 kể từ ngày thông quan. Theo đó, cơ quan hải quan Trung Quốc yêu cầu doanh nghiệp thực hiện quyết toán thuế thuế đối với giao dịch thực hiện qua thương mại điện tử theo tháng.

ThS. Phạm Văn Bằng
Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: