Thứ sáu 07/08/2026 17:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 nhưng phải đến năm 2012, khi Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành

Trong những năm vừa qua, thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và dần đi vào ổn định. Một trong những thành công đáng ghi nhận là chúng ta đã xây dựng được hệ thống pháp luật đồng bộ, điều chỉnh toàn diện hầu hết các quan hệ thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giúp ổn định xã hội, phát triển kinh tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, ở một góc độ nhất định, qua thực tiến thi hành pháp luật cho thấy, hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn rất phức tạp, cồng kềnh, khó tiếp cận. Một trong những nguyên nhân là do các văn bản quy phạm pháp luật thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, có văn bản trong một thời gian ngắn được sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Điều này dẫn tới nhiều hệ lụy cho quá trình áp dụng, nghiên cứu và thi hành pháp luật.

Để góp phần khắc phục tình trạng một văn bản được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhưng các lần sửa đổi không hợp nhất nội dung của văn bản sửa đổi, bổ sung với nội dung của văn bản được sửa đổi, bổ sung, tại Điều 92 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (hiện nay là Điều 168 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 20201) đã quy định về việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật: “Văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản quy phạm pháp luật được hợp nhất về mặt kỹ thuật với văn bản được sửa đổi, bổ sung” và giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định những vấn đề cụ thể của việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.

Nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, góp phần đơn giản hóa hệ thống pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tiếp cận, tra cứu, áp dụng, thi hành văn bàn, ngày 22/3/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật. Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật đã giải quyết được nhiều vấn đề lý luận, pháp lý đối với việc làm tinh gọn, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật, nhất là những văn bản qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Tuy vậy, đặt quy định này trong tổng thể quy định pháp luật hiện hành có liên quan cũng cho thấy nhiều khía cạnh cần phải được nghiên cứu, hoàn thiện để công tác hợp nhất văn bản đạt hiệu quả hơn nữa.

1. Sự cần thiết của hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 nhưng phải đến năm 2012, khi Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành thì hoạt động này mới có đầy đủ cơ sở để được thực hiện trong thực tiễn.

Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật thì: “Hợp nhất văn bản là việc đưa nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản đã được ban hành trước đó vào văn bản được sửa đổi, bổ sung theo quy trình, kỹ thuật quy định tại Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật văn bản quy phạm pháp luật”. Theo đó, văn bản được hợp nhất là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều và văn bản được sửa đổi, bổ sung; văn bản hợp nhất là văn bản được hình thành sau khi hợp nhất văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản được sửa đổi, bổ sung.

Từ khái niệm trên cho thấy, hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động có tính kỹ thuật thuần túy, không tạo ra quy phạm pháp luật mới hay văn bản quy phạm pháp luật mới. Tuy vậy, thông qua hoạt động này, một văn bản hợp nhất được hình thành trên cơ sở văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản được sửa đổi, bổ sung, bao gồm những quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm ban hành, tạo thuận lợi cho người áp dụng, nghiên cứu pháp luật (đặc biệt là người áp dụng pháp luật) luôn tiếp cận được chính xác, đầy đủ những quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm áp dụng. Song, điều này lại dẫn tới một thực tế là, trong cùng một thời điểm, trong hệ thống pháp luật tồn tại ba văn bản có cùng nội dung quy định về cùng một vấn đề mà trong đó, một văn bản là nội dung tổng hợp của hai văn bản còn lại. Chính vì lý do này, quá trình xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã có ý kiến cho rằng, không nên tồn tại hoạt động hợp nhất văn bản. Theo ý kiến này, mặc dù hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật là cần thiết, nhằm tạo sự minh bạch, dễ tiếp cận trong hệ thống pháp luật, song, hoạt động này lại làm phát sinh thêm văn bản quy phạm pháp luật, làm cho hệ thống pháp luật trở nên cồng kềnh; thêm nữa, hoạt động hợp nhất văn bản chỉ là hoạt động mang tính kỹ thuật thuần túy, quá trình thực hiện nó tiềm ẩn nguy cơ làm sai lệch, mất tính chính xác của các nội dung quy phạm pháp luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật đã được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành. Ý kiến này cũng cho rằng, thực tiễn xây dựng pháp luật cần đến hoạt động hợp nhất là do có văn bản sửa đổi, bổ sung; nếu trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền không ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung nữa thì sẽ không phải thực hiện hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật. Khi cần điều chỉnh một quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền có thể ban hành văn bản mới thay thế văn bản cũ, trong đó, đã có quy định pháp luật mới được điều chỉnh và những quy định được giữ nguyên.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, quy định về hợp nhất văn bản đã được Quốc hội ghi nhận tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể tại Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động này được triển khai hiệu quả, ngày càng có ý nghĩa trong thực tiễn pháp lý hiện nay, chứng minh sự cần thiết của hoạt động hợp nhất văn bản. Trong phạm vi bài viết này, tác giả lý giải sự cần thiết của hoạt động hợp nhất văn bản trên ba khía cạnh sau:

Thứ nhất, xét từ bản chất của pháp luật, khoa học pháp lý đã chỉ rõ bản chất của pháp luật mang tính giai cấp và tính xã hội2. Bản chất này tạo cho pháp luật giá trị mang tính lịch sử trong từng quy định. C.Mác đã chỉ rõ: “Xã hội không lấy pháp luật làm cơ sở. Đó chỉ là ảo tưởng của những nhà luật học. Ngược lại, pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra mà không phải là do ý muốn tùy tiện của một cá nhân… Chừng nào bộ luật không còn thích hợp với quan hệ xã hội nữa thì nó sẽ biến thành một mớ giấy lộn ngay”3. Trong quá trình phát triển của một Nhà nước thống nhất, về cơ bản, chính sách pháp luật có tính ổn định do một trong những đặc trưng cơ bản của luật thành văn là tính khái quát và tổng quát cao4. Tuy vậy, quan hệ xã hội vận động không ngừng theo quy luật của nó đã làm cho từng quy định pháp luật cụ thể trở nên lạc hậu. Khi đó, những quy định không còn phù hợp cần phải được điều chỉnh sửa đổi, thay thế ngay. Mỗi quy phạm pháp luật (dù mới hay cũ, đã bị sửa đổi, thay thế hay đang được áp dụng) đều thể hiện giá trị lịch sử, ghi nhận thực tiễn quan hệ xã hội vào thời kỳ mà quy phạm pháp luật đó điều chỉnh.

Thứ hai, pháp luật là một trong những biểu hiện của văn hóa5, nó mang các thuộc tính là tính kế thừa và tính kết nối của văn hóa trong quá trình phát triển; việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế một phần văn bản là biểu hiện tập trung và đầy đủ của các thuộc tính này.

Thứ ba, trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, với mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, điều chỉnh toàn diện và đầy đủ các mối quan hệ xã hội; cùng với việc đặt trong bối cảnh vận động không ngừng của thế giới trong xu thế toàn cầu hóa thì việc các quy định pháp luật phải thường xuyên được hoàn thiện, điều chỉnh là một tất yếu khách quan. Những điều chỉnh này là hiệu quả nhất khi nó vừa kế thừa và phát huy những quy định đã được ban hành trước đó, vừa bổ sung những quy định mới bằng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế từng phần nội dung văn bản quy phạm pháp luật. Bằng cách này, Nhà nước cũng thể hiện được vai trò của mình trong việc điều chỉnh, điều hòa các quan hệ xã hội trong sự ổn định và phát triển.

Từ những phân tích trên cho thấy, việc ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế từng phần nội dung văn bản quy phạm pháp luật mà đồng thời với nó là hoạt động hợp nhất văn bản là một tất yếu khách quan của quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật phục vụ phát triển đất nước và hội nhập toàn cầu, bảo đảm tính thực thi và hiệu lực, hiệu quả của pháp luật.

2. Đối tượng hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, đối tượng của hoạt động hợp nhất văn bản là văn bản được sửa đổi, bổ sung và văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành hoặc liên tịch ban hành, bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng.

Tuy nhiên, đây là vấn đề mà khoa học pháp lý cần tiếp tục nghiên cứu. Mặc dù tại điều khoản quy định khái niệm hợp nhất văn bản đã xác định đối tượng của hoạt động hợp nhất văn bản như trên đã dẫn nhưng ngay chính trong Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, khi hướng dẫn về kỹ thuật hợp nhất văn bản, phần phụ lục của văn bản này đã hướng dẫn hợp nhất đối với cả nội dung văn bản quy phạm pháp luật được thay thế một phần6. Như vậy, xét ở khía cạnh bảo đảm yêu cầu về tính thống nhất trong nội dung văn bản thì giữa nội dung văn bản và phụ lục kèm theo Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật đã không bảo đảm được yêu cầu này.

Hơn nữa, theo Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, việc hợp nhất văn bản cũng không được thực hiện đối với văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương các cấp ban hành vì cho rằng, trên thực tế, số lượng văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của địa phương không nhiều, việc sửa đổi, bổ sung văn bản thường chỉ tập trung vào những nội dung cụ thể có phạm vi điều chỉnh hẹp nên ít ảnh hưởng đến việc tra cứu, tìm hiểu và áp dụng văn bản. Mặt khác, đa số các trường hợp, khi cần sửa đổi, bổ sung thì chính quyền địa phương thường ban hành văn bản thay thế.

Qua nghiên cứu cho thấy, vì ở các cấp chính quyền địa phương, việc sửa đổi, bổ sung văn bản thường chỉ tập trung vào những nội dung cụ thể có phạm vi điều chỉnh hẹp nên việc phải xây dựng, ban hành toàn văn một văn bản trong khi văn bản đó chỉ khác so với văn bản cũ một vài chi tiết cụ thể đã gây ra sự tốn kém thời gian, nhân lực, vật lực cho những nội dung không cần thiết, làm cho việc ban hành văn bản mang tính hình thức, làm giảm hiệu quả thi hành. Đặc biệt, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 không hạn chế chính quyền địa phương ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức là văn bản sửa đổi, bổ sung.

Chẳng hạn, năm 2021, do kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 nên tại tỉnh A, các mức trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội được xác định ở mức là 360.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, năm 2022, khi dịch bệnh được kiểm soát, tình hình kinh tế địa phương được khôi phục, Hội đồng nhân dân tỉnh A muốn điều chỉnh mức trợ giúp xã hội cao hơn nhằm bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người dân thì chỉ ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung nội dung về mức trợ giúp xã hội trong văn bản đã ban hành trong năm 2021. Tuy nhiên, nội dung mới này lại không được hợp nhất vào văn bản đã ban hành nên tại tỉnh A, khi áp dụng pháp luật, phải cùng lúc áp dụng 02 văn bản đã được ban hành về vấn đề này. Khi đó, tính minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của địa phương không được bảo đảm.

3. Nguyên tắc hợp nhất văn bản

Theo quy định pháp luật hiện hành, văn bản hợp nhất được sử dụng chính thức trong việc áp dụng và thi hành pháp luật. Vì vậy, để nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thực hiện việc hợp nhất trong việc bảo đảm tính chính xác của nội dung văn bản hợp nhất, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật7 quy định các nguyên tắc hợp nhất văn bản rất chặt chẽ, trong đó một trong các nguyên tắc này yêu cầu: “Chỉ hợp nhất văn bản do cùng một cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành”. Đồng thời, kết hợp với điều khoản khái niệm hợp nhất dẫn đến một trong các cách hiểu về nguyên tắc này là chỉ hợp nhất văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản được sửa đổi, bổ sung8.

Tuy nhiên, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã ghi nhận hình thức một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng cơ quan ban hành9. Theo đó, một văn bản quy phạm pháp luật có thể sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật và khi đó, tên của văn bản sửa đổi, bổ sung sẽ thay đổi10, không còn được cấu trúc gồm thuật ngữ “sửa đổi, bổ sung” ghép với tên của văn bản được sửa đổi bổ sung11. Do vậy, khi đặt quy định nêu trên của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật với quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cho thấy “độ vênh” nhất định mà cơ quan, người có thẩm quyền cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và tính toàn diện của quy định.

4. Sử dụng văn bản hợp nhất

Theo quy định pháp luật hiện hành thì: “Văn bản hợp nhất được sử dụng chính thức trong việc áp dụng và thi hành pháp luật”12. Đồng thời, hợp nhất là hoạt động đưa nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản đã được ban hành trước đó vào văn bản được sửa đổi, bổ sung. Các quy định này dẫn tới các quan điểm khác nhau về giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc tồn tại văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều là không cần thiết vì khi thực hiện kỹ thuật hợp nhất, toàn bộ nội dung sửa đổi, bổ sung đã được đưa vào văn bản được sửa đổi, bổ sung để hình thành nên văn bản hợp nhất. Khi đó, sẽ sử dụng văn bản hợp nhất trong áp dụng và thi hành pháp luật. Nói cách khác, văn bản hợp nhất sẽ thay thế văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản được sửa đổi, bổ sung.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật là một kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, hợp nhất văn bản chỉ đơn thuần là việc chuyển những nội dung sửa đổi, bổ sung của văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều vào văn bản được sửa đổi, bổ sung và không ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản được sửa đổi, bổ sung và văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều. Với quan điểm này, hợp nhất văn bản là một kỹ thuật sao chép có tính chính xác cao và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận theo trình tự, thủ tục theo quy định. Hơn nữa, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật cũng không quy định văn bản hợp nhất thay thế văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản được sửa đổi bổ sung. Do vậy, việc tra cứu, tìm kiếm quy định pháp luật sẽ được thực hiện trên 03 nguồn gồm: Văn bản được sửa đổi, bổ sung, văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản hợp nhất.

Quan điểm thứ ba cho rằng, mặc dù Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật quy định đưa nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản đã được ban hành trước đó vào văn bản được sửa đổi, bổ sung để sử dụng văn bản hợp nhất chính thức trong áp dụng và thi hành pháp luật nhưng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 với quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ) quy định, khi một văn bản hoặc nội dung văn bản được sửa đổi, bổ sung thì cơ quan có thẩm quyền phải công bố hết hiệu lực đối với phần văn bản đã được sửa đổi, bổ sung đó13. Như vậy, việc hợp nhất văn bản không thể thực hiện được trên phần nội dung đã được công bố hết hiệu lực. Phải chăng, có sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật?

Có thể thấy, mặc dù hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật chỉ là hoạt động kỹ thuật thuần túy, song, đó là hoạt động kỹ thuật trong quy trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, với yêu cầu chính xác tuyệt đối và được xác thực bởi cơ quan, người có thẩm quyền và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước (vì được ghi nhận giá trị sử dụng chính thức trong việc áp dụng và thi hành pháp luật) nên nó cần được tiếp tục nghiên cứu, xem xét nâng giá trị sử dụng ở mức độ thay thế văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản được sửa đổi, bổ sung để dễ dàng trong áp dụng mà vẫn bảo đảm ghi nhận tính lịch sử cụ thể của quy định pháp luật. Hơn nữa, với lập luận tương tự như quan điểm thứ ba, quy định được sửa đổi, bổ sung trong văn bản được sửa đổi, bổ sung đã hết hiệu lực, nội dung có hiệu lực là quy định mới được ban hành trong văn bản sửa đổi, bổ sung và nội dung này đã được thực hiện hợp nhất, đứng vào vị trí của quy định trong văn bản được sửa đổi, bổ sung. Chính vì vậy, ở đây không tồn tại sự không thống nhất giữa Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 với Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật mà ngược lại, luôn bảo đảm tính thống nhất. Khi đó, quá trình tra cứu và áp dụng pháp luật được dẫn chiếu đến quy định có tên cũ nhưng nội dung mới và gắn với thuật ngữ “đã được sửa đổi, bổ sung”.

Như vậy, đánh giá từ các khía cạnh pháp lý và thực tế pháp lý như trên đều cho thấy, việc quy định giá trị sử dụng của văn bản hợp nhất như quy định tại Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật là chưa tương xứng với giá trị thực tế của văn bản này trong đời sống pháp lý.

5. Việc đăng văn bản hợp nhất trên Công báo, Trang thông tin điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

Nhằm phổ biến văn bản trên diện rộng, nhanh chóng, bảo đảm đơn giản, thuận tiện, hiệu quả khi sử dụng, giúp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể dễ dàng tiếp cận, tra cứu và tìm hiểu văn bản, góp phần tạo thuận lợi cho công tác thi hành pháp luật, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật quy định văn bản hợp nhất phải được đăng đồng thời với văn bản sửa đổi, bổ sung trên cùng một số Công báo (Công báo in và Công báo điện tử) và đăng trên Trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan nhà nước thực hiện hợp nhất văn bản. Quy định này xuất phát từ giá trị áp dụng của văn bản hợp nhất được xác định tại Điều 4 Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời khẳng định sự bảo đảm của Nhà nước về độ chính xác, độ tin cậy và tính chính thức của văn bản hợp nhất. Theo đó, văn bản hợp nhất đòi hỏi phải có độ tin cậy cao về tính chính xác và phải được công bố, công khai mang tính chính thức từ phía cơ quan nhà nước. Như vậy, cơ quan, tổ chức, cá nhân hoàn toàn có thể tin tưởng khi trích dẫn, sử dụng các quy định của văn bản hợp nhất có được từ nguồn Công báo.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 13 Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015 của Chính phủ về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật quy định: “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Thủ trưởng cơ quan nhà nước khác ở Trung ương có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cập nhật văn bản hợp nhất thuộc thẩm quyền hợp nhất theo quy định của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Thủ trưởng cơ quan nhà nước khác ở Trung ương có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cập nhật văn bản hợp nhất của Quốc hội do mình chủ trì soạn thảo”.

Như vậy, ngoài Công báo và Trang thông tin điện tử, văn bản hợp nhất phải được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật theo quy định. Tuy nhiên, xem xét các quy định pháp luật nêu trên cho thấy, những quy định về cùng một yêu cầu công bố không khai văn bản hợp nhất lại đang được quy định ở hai văn bản có giá trị pháp lý khác nhau, thể hiện sự tản mát, thiếu nhất quán của quy định pháp luật. Nguyên nhân của thực trạng này có thể do quá trình phát triển và vận động không ngừng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi, mở ra những cách tiếp cận, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật mới trong thực tế xã hội mà pháp luật ghi nhận; Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được ban hành từ năm 2012 đã chưa dự liệu được vấn đề này, đã trở nên lạc hậu. Vì vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng cần nghiên cứu, quy định các nội dung này thống nhất trong một văn bản có hiệu lực pháp lý cao để bảo đảm thực thi.

Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành và đi vào triển khai trên thực tế từ năm 2012 đã phát huy giá trị thực tiễn trong việc làm tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, làm cho một quy phạm pháp luật đang có hiệu lực được tiếp cận chính xác, đầy đủ, nhất là đối với những văn bản qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Tuy vậy, 10 năm qua, với sự phát triển của kỹ thuật xây dựng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật và đặc biệt là sự phát triển của khoa học, công nghệ đã làm cho nhiều quy định của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật trở nên lạc hậu hoặc tạo ra những “điểm chênh”, “độ vênh” không cần thiết, không đáng có trong hệ thống pháp luật. Vì vậy, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần có nghiên cứu tổng thể, toàn diện, đầy đủ nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.

Nguyễn Thị Thu Hòe
Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp



1. Điều 168 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:

“1. Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung phải được hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

2. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”.

2. Xem: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1993, tr. 215; Đào Trí Úc, Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1997, tr. 306; Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Tư pháp, năm 2007, tr. 65.

3. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 332 - 333.

4. TS. Nguyễn Văn Quân, Nhà nước và pháp luật trong bối cảnh toàn cầu, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, năm 2021.

5. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, năm 2011).

6. Ví dụ thứ 9 trong Phần IV. Trình bày nội dung được sửa đổi trong văn bản hợp nhất Phụ lục kèm theo Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.

7. Điều 3 Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.

8. Ví dụ: Chỉ hợp nhất Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

9. Khoản 3 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

10. Như: Luật sửa đổi, bổ sung 37 Luật về quy hoạch.

11. Như: Luật sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản.

12. Điều 4 Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.

13. Điều 157 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Theo dõi chúng tôi trên: