Chủ nhật 25/10/2026 22:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật hiện hành về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, so sánh với các quy định pháp luật liên quan, bài viết đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về tiêu chí này.

Abstract: On the basis of the analysis of the current legal regulations on the criteria for determining enterprises or cooperatives which fall into the state of bankruptcy, comparing them with the relevant legal regulations, the article proposes orientations for improvement of law about that criteria.

Để xác định tình trạng phá sản của một doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (được gọi chung là hợp tác xã theo Luật Phá sản năm 2014) có xảy ra hay không thì cần phải dựa vào những tiêu chí đã được quy định trong pháp luật về phá sản. Luật Phá sản năm 2014 đã xác định những tiêu chí cơ bản tại khoản 1 Điều 4 là: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”.

So với Luật Phá sản năm 20041, Luật Phá sản năm 2014 thay thế quy định “lâm vào tình trạng phá sản” bằng “mất khả năng thanh toán” để thể hiện đúng bản chất của đối tượng được điều chỉnh bởi Luật này là doanh nghiệp, hợp tác xã có dấu hiệu cụ thể hơn ở điểm “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. Quy định này khẳng định đối tượng trên không phải là chỉ có con đường bị phá sản mà còn có con đường (khả năng) khác trong những trường hợp nhất định, như là phục hồi hoạt động kinh doanh, tái cơ cấu...

Luật Phá sản năm 2014 cũng xác định chính xác hơn tiêu chí “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” so với “không có khả năng thanh toán” ở Luật Phá sản năm 2004, tức là bao gồm cả hai trường hợp không có khả năng thanh toán hoặc có khả năng thanh toán (hiện tại hoặc sau này) nhưng chưa thanh toán; thời điểm được xác định là trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà không phải là “khi chủ nợ có yêu cầu”. Như vậy, Luật Phá sản năm 2014 đã định hình rõ ràng hơn đối tượng áp dụng của Luật đối với doanh nghiệp, hợp tác xã với các tiêu chí cơ bản.

Bên cạnh khái niệm về doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản năm 2014 cũng đã xác định rõ hơn các thuộc tính của vấn đề “không có khả năng thanh toán”. Để mở thủ tục phá sản, Chương II Luật Phá sản năm 2014 đã quy định về đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn, đó là 06 nhóm đối tượng được quy định tại Điều 5 của Luật này: (i) Chủ nợ (Điều 26); (ii) Người lao động, đại diện công đoàn (Điều 27); (iii&iv) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán (Điều 28); (v&vi) Cổ đông hoặc nhóm cổ đông của công ty cổ phần, thành viên hợp tác xã hoặc hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã (Điều 29). Trong đó, nội dung đơn yêu cầu tuyên bố phá sản được quy định ở điểm cuối các khoản 2 của các điều trên về nguyên nhân hay là tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản liên quan đến từng nhóm đối tượng có đơn (như là khoản nợ đến hạn đối với chủ nợ; tổng số tiền lương và các khoản nợ khác đã đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không trả cho người lao động đối với nhóm chủ thể “ii”; hay chỉ là căn cứ chung về yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định tại các điều liên quan đối với các nhóm chủ thể còn lại (từ iii đến vi).

Như vậy, Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 xác định khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán “là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” được phân tích ở những nội dung sau:

1. Về khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã

Khi xác định một tổ chức kinh tế lâm vào tình trạng phá sản, các Luật Phá sản trước đây[2] và Luật Phá sản năm 2014 đã đưa nội dung nợ vào tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhưng chưa lý giải cụ thể thế nào là nợ.

- Về khái niệm: Trong từ điển tiếng Việt, “nợ” (danh từ) là “cái vay phải trả mà chưa trả” chưa thể hiện hết được mối quan hệ dân sự hiện hành (như nghĩa vụ phải thanh toán đối với hành vi tự ý thực hiện công việc cho người khác…). Trên cơ sở Bộ luật Dân sự (năm 2005 và năm 2015), khái niệm “nợ” được xác định như là “nghĩa vụ dân sự” phải thực hiện, như là “nợ lương”, “nợ thuế”[3] hay cụ thể như nợ do vay tài sản, các khoản nợ nói chung khác. Bộ luật Dân sự là đạo luật gốc, không xác định khái niệm “nợ” và từ đó, khái niệm “nợ” được hiểu như một thuật ngữ chung có phạm vi bao hàm rộng như đã nêu trên, đặc biệt thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và có một số phân loại trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Ðiều 280 Bộ luật Dân sự năm 2005 xác định khái niệm: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”[4].

Nghiên cứu rộng hơn trên các lĩnh vực khác cho thấy, “nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất. Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó”[5]. Các khoản nợ hay các nghĩa vụ dân sự theo pháp luật của một doanh nghiệp, hợp tác xã nảy sinh trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh và sẽ được thanh toán thông qua việc chuyển giao các lợi ích kinh tế bao gồm tiền, hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh lĩnh vực tài chính và kế toán, thuật ngữ này đơn giản được sử dụng cho tất cả các khoản tiền hoặc dịch vụ mà hiện nay đang được sở hữu bởi một bên khác hay nghĩa vụ nợ là thuế tài sản mà người sở hữu là Chính phủ.

So sánh với quy định chung của pháp luật dân sự, tài chính với pháp luật phá sản cho thấy, khái niệm “nợ” chưa được quy định thống nhất trong Luật Phá sản trước đây và trong Luật năm 2014. “Nợ” vừa là tiêu chí chung để xác định mọi nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện mà không thực hiện được (trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn) để xác định đối tượng lâm vào tình trạng phá sản; “nợ” cũng được hiểu là nghĩa vụ trả lương (khoản 2 Điều 5) hay “nợ lương” theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, dường như Luật Phá sản chỉ xác định người lao động là một thành phần tham gia thủ tục phá sản mà không có quy định cụ thể nào xác định rõ rệt hơn nữa họ cũng có thể là chủ nợ (chủ nợ không có bảo đảm) ngoài trường hợp họ yêu cầu mở thủ tục phá sản (trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ lương). Điều đó còn thể hiện ở khoản 2 Điều 77 Luật Phá sản năm 2014 khi quy định: “Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền; trường hợp này đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ”.

Thực tế hiện nay cho thấy, đa số các doanh nghiệp nợ lương, có những trường hợp nợ lương kéo dài cũng không bị người lao động hay đại diện của họ khởi kiện yêu cầu tuyên bố phá sản và người lao động luôn luôn chịu thiệt trong quan hệ về tiền lương, lợi ích hợp pháp khác; đặc biệt là tình trạng doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đang trở thành vấn đề “nhức nhối” của xã hội. Việc xác định “nợ” là điều kiện đặc biệt quan trọng để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào tình trạng phá sản có khả năng phục hồi hay không khi xác định phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Về định lượng tiêu chí nợ: Luật Phá sản năm 2014 vẫn quy định chung về doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn mà chưa xác định cụ thể khoản nợ đó là bao nhiêu để bị coi là lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Pháp luật phá sản ở nhiều nước đều quy định về mức nợ để làm căn cứ yêu cầu phá sản doanh nghiệp, như Điều 123 Luật Mất khả năng thanh toán năm 1986 của Vương quốc Anh quy định một công ty không có khả năng thanh toán nợ khi có một trong số các điều kiện là “nợ của chủ nợ số tiền vượt quá 750 bảng”[6].

Luật Phá sản năm 2014 cũng như các Luật Phá sản trước đó[7] không đưa ra các yếu tố định lượng, mà chỉ đưa ra các yếu tố định tính, tức là căn cứ vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã vào thời điểm chủ nợ yêu cầu. Điều này có thể dẫn tới hai khả năng: (i) Chủ nợ lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đang gặp khó khăn tạm thời chứ không phải mất khả năng thanh toán một cách tràn lan, nhất là đặt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các DN; (ii) Doanh nghiệp, hợp tác xã cố ý mập mờ trong các khoản nợ để chủ nợ, người lao động không thể biết chính xác khả năng thanh toán của nó.

2. Về thời hạn khoản nợ chưa được thanh toán kể từ ngày đến hạn thanh toán

Luật Phá sản năm 2014 đã khắc phục sự thiếu sót trong kỹ thuật lập pháp và giải thích thuật ngữ pháp lý trong Luật Phá sản năm 2004 về việc xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Cụ thể, Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 quy định về doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản khi “không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”. Điều này cho thấy sự không rõ ràng, cụ thể khiến việc đánh giá các doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán thực tế gặp nhiều khó khăn. Chính việc bổ sung điều kiện “khi chủ nợ có yêu cầu” làm tăng sự phức tạp trong tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Luật Phá sản năm 2014 đã xác định một thời hạn rõ ràng hơn đối với việc không thanh toán khoản nợ là 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà không cần tính kể từ khi chủ nợ có yêu cầu. Việc tạo ra một thời hạn nhất định cho doanh nghiệp, hợp tác xã thu xếp thanh toán các khoản nợ là cơ hội để doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ nợ có thể thay đổi lại yêu cầu của mình (chẳng hạn có thể chuyển việc tuyên bố phá sản sang mua bán, sáp nhập doanh nghiệp hay chuyển các khoản nợ thành vốn góp…). Nếu sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn không thanh toán được các khoản nợ đến hạn thì doanh nghiệp, hợp tác xã đó đủ điều kiện là đối tượng lâm vào tình trạng phá sản và có thể được thực hiện thủ tục phá sản theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, việc quy định doanh nghiệp, hợp tác xã “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng” có thể là một thời gian quá ngắn. Trong Báo cáo tài chính mà các doanh nghiệp phải lập theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, thì nợ ngắn hạn “là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường”[8]. Như vậy, khoản nợ trong thời hạn 03 tháng được xem là rất ngắn hạn. Thực tế hoạt động kinh doanh ở Việt Nam cho thấy, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ hay để những khoản nợ quá nhiều tháng, có trường hợp cả năm khi “tổng kết” hoạt động mới thanh toán. Chính việc thu xếp để thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã khá phức tạp, đòi hỏi một thời gian dài, thậm chí có thể được gia hạn nhiều lần hoặc chuyển đổi khoản nợ thành loại tài sản khác (như góp vốn vào doanh nghiệp, hợp tác xã[9]). Chính vì thực tế ít doanh nghiệp và chủ nợ quan tâm đến quy định này của Luật nên việc thanh toán trong vòng 03 tháng kể từ ngày đến hạn không thực sự đi vào thực tế, chủ nợ cần một tiêu chí cụ thể hơn để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và không thể bảo đảm quyền lợi của họ.

3. Về nội dung doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ

Luật Phá sản năm 2014 cũng xác định rõ hơn thuật ngữ “không thực hiện” nghĩa vụ thanh toán nợ, tức là có thể mất khả năng thanh toán nợ dẫn đến không thực hiện (như trường hợp của Luật Phá sản năm 2004) và có thể có khả năng thanh toán nợ nhưng không thực hiện. Như vậy, đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản rộng hơn và phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Tuy nhiên, về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ “doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” không bao hàm hết nghĩa “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán”[10], do đó, cần thiết có sự sửa đổi Luật Phá sản năm 2014 theo hướng là “doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” là đối tượng lâm vào tình trạng phá sản. Khi tiến hành thủ tục phá sản, yếu tố mất khả năng thanh toán cần được xem xét ở những mức độ khác nhau khi xem xét khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Luật Phá sản năm 2014 cũng đã phân biệt rõ hơn đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản - chủ thể đầu vào và doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản - chủ thể đầu ra là phải có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Thông thường, điều này chỉ diễn ra sau khi Tòa án đã xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán các khoản nợ đã đến hạn và không còn giải pháp nào khác tối ưu hơn là việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Trong trường hợp này, việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã được Tòa án xác định rõ hơn là do doanh nghiệp, hợp tác xã mất (hoàn toàn) khả năng thanh toán.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung của tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, việc hoàn thiện pháp luật về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cần được xem xét ở những nội dung sau:

- Xây dựng quy phạm giải thích tiêu chí “nợ” trong Luật Phá sản bao gồm những nghĩa vụ dân sự nào liên quan đến tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là đối tượng phải thực hiện theo quy định của pháp luật, qua đó bảo đảm tốt hơn nữa quyền lợi của các chủ nợ, người lao động khi thực hiện quyền yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Nghiên cứu việc sửa đổi thời hạn không thanh toán khoản nợ làm căn cứ yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo hướng tăng thời gian hơn nữa như đã phân tích ở trên. Có thể xây dựng mối liên hệ tỷ lệ nghịch giữa mức nợ và thời gian nợ để bảo đảm tính hợp lý giữa bảo đảm quyền lợi của chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Nghiên cứu gộp hai quy định tại khoản 1, 2 Điều 4 Luật Phá sản thành một khoản về: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”

- Nghiên cứu hướng dẫn chi tiết nội hàm khái niệm mất khả năng thanh toán làm cơ sở cho quá trình thực hiện thủ tục phá sản doanh nghiệp, bao gồm cả thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.

ThS. Trần Thị Thu Hà

TS. Đỗ Trung Hiếu

Đại học Kinh tế Nghệ An

Học viện Chính trị khu vực I

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”.

[2]. Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật Phá sản năm 2004.

[3]. Xem Điều 94 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không định nghĩa về “nghĩa vụ dân sự”.

[5]. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nợ.

[6]. Theo quy định của khoản 3 Điều 123 Luật mất khả năng thanh toán Vương quốc Anh thì số tiền này có thể tăng hoặc giảm theo quy định tại Chương 15 Điều 416; Bộ trưởng Bộ Kinh doanh, đổi mới và kỹ năng (Secretary of State for business, innovation and skills) có thể ra quyết định tăng hoặc giảm số tiền tùy theo thời điểm được cụ thể. Nguồn trích dẫn: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/02/12/khi-niem-ph-san-thu-tuc-php-san-v-nhung-lin-he-den-luat-ph-san-nam-2014/.

[7]. Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật Phá sản năm 2004.

[8]. Điều 126 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp.

[9. Ví dụ như hình thức chuyển đổi trái phiếu đến hạn thành vốn góp, mua cổ phần thường được các công ty cổ phần, nhà đầu tư thường xuyên thực hiện, đặc biệt như trường hợp của CTCP Nông nghiệp Hoàng Anh Gia Lai (HAGL Agrico - HNG) trong năm 2016 - 2017 đã thỏa thuận được với các ngân hàng, chủ nợ hoán đổi các khoản nợ, trái phiếu thành cổ phiếu để tránh rời vào tình trạng phá sản do kinh doanh thua lỗ (nguồn: http://www.hagl.com.vn/).

[10]. Bản thân thuật ngữ này đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: