Thứ sáu 23/01/2026 12:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật hiện hành về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, so sánh với các quy định pháp luật liên quan, bài viết đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về tiêu chí này.

Abstract: On the basis of the analysis of the current legal regulations on the criteria for determining enterprises or cooperatives which fall into the state of bankruptcy, comparing them with the relevant legal regulations, the article proposes orientations for improvement of law about that criteria.

Để xác định tình trạng phá sản của một doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (được gọi chung là hợp tác xã theo Luật Phá sản năm 2014) có xảy ra hay không thì cần phải dựa vào những tiêu chí đã được quy định trong pháp luật về phá sản. Luật Phá sản năm 2014 đã xác định những tiêu chí cơ bản tại khoản 1 Điều 4 là: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”.

So với Luật Phá sản năm 20041, Luật Phá sản năm 2014 thay thế quy định “lâm vào tình trạng phá sản” bằng “mất khả năng thanh toán” để thể hiện đúng bản chất của đối tượng được điều chỉnh bởi Luật này là doanh nghiệp, hợp tác xã có dấu hiệu cụ thể hơn ở điểm “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. Quy định này khẳng định đối tượng trên không phải là chỉ có con đường bị phá sản mà còn có con đường (khả năng) khác trong những trường hợp nhất định, như là phục hồi hoạt động kinh doanh, tái cơ cấu...

Luật Phá sản năm 2014 cũng xác định chính xác hơn tiêu chí “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” so với “không có khả năng thanh toán” ở Luật Phá sản năm 2004, tức là bao gồm cả hai trường hợp không có khả năng thanh toán hoặc có khả năng thanh toán (hiện tại hoặc sau này) nhưng chưa thanh toán; thời điểm được xác định là trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà không phải là “khi chủ nợ có yêu cầu”. Như vậy, Luật Phá sản năm 2014 đã định hình rõ ràng hơn đối tượng áp dụng của Luật đối với doanh nghiệp, hợp tác xã với các tiêu chí cơ bản.

Bên cạnh khái niệm về doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản năm 2014 cũng đã xác định rõ hơn các thuộc tính của vấn đề “không có khả năng thanh toán”. Để mở thủ tục phá sản, Chương II Luật Phá sản năm 2014 đã quy định về đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn, đó là 06 nhóm đối tượng được quy định tại Điều 5 của Luật này: (i) Chủ nợ (Điều 26); (ii) Người lao động, đại diện công đoàn (Điều 27); (iii&iv) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán (Điều 28); (v&vi) Cổ đông hoặc nhóm cổ đông của công ty cổ phần, thành viên hợp tác xã hoặc hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã (Điều 29). Trong đó, nội dung đơn yêu cầu tuyên bố phá sản được quy định ở điểm cuối các khoản 2 của các điều trên về nguyên nhân hay là tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản liên quan đến từng nhóm đối tượng có đơn (như là khoản nợ đến hạn đối với chủ nợ; tổng số tiền lương và các khoản nợ khác đã đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không trả cho người lao động đối với nhóm chủ thể “ii”; hay chỉ là căn cứ chung về yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định tại các điều liên quan đối với các nhóm chủ thể còn lại (từ iii đến vi).

Như vậy, Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 xác định khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán “là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” được phân tích ở những nội dung sau:

1. Về khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã

Khi xác định một tổ chức kinh tế lâm vào tình trạng phá sản, các Luật Phá sản trước đây[2] và Luật Phá sản năm 2014 đã đưa nội dung nợ vào tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhưng chưa lý giải cụ thể thế nào là nợ.

- Về khái niệm: Trong từ điển tiếng Việt, “nợ” (danh từ) là “cái vay phải trả mà chưa trả” chưa thể hiện hết được mối quan hệ dân sự hiện hành (như nghĩa vụ phải thanh toán đối với hành vi tự ý thực hiện công việc cho người khác…). Trên cơ sở Bộ luật Dân sự (năm 2005 và năm 2015), khái niệm “nợ” được xác định như là “nghĩa vụ dân sự” phải thực hiện, như là “nợ lương”, “nợ thuế”[3] hay cụ thể như nợ do vay tài sản, các khoản nợ nói chung khác. Bộ luật Dân sự là đạo luật gốc, không xác định khái niệm “nợ” và từ đó, khái niệm “nợ” được hiểu như một thuật ngữ chung có phạm vi bao hàm rộng như đã nêu trên, đặc biệt thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và có một số phân loại trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Ðiều 280 Bộ luật Dân sự năm 2005 xác định khái niệm: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”[4].

Nghiên cứu rộng hơn trên các lĩnh vực khác cho thấy, “nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất. Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó”[5]. Các khoản nợ hay các nghĩa vụ dân sự theo pháp luật của một doanh nghiệp, hợp tác xã nảy sinh trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh và sẽ được thanh toán thông qua việc chuyển giao các lợi ích kinh tế bao gồm tiền, hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh lĩnh vực tài chính và kế toán, thuật ngữ này đơn giản được sử dụng cho tất cả các khoản tiền hoặc dịch vụ mà hiện nay đang được sở hữu bởi một bên khác hay nghĩa vụ nợ là thuế tài sản mà người sở hữu là Chính phủ.

So sánh với quy định chung của pháp luật dân sự, tài chính với pháp luật phá sản cho thấy, khái niệm “nợ” chưa được quy định thống nhất trong Luật Phá sản trước đây và trong Luật năm 2014. “Nợ” vừa là tiêu chí chung để xác định mọi nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện mà không thực hiện được (trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn) để xác định đối tượng lâm vào tình trạng phá sản; “nợ” cũng được hiểu là nghĩa vụ trả lương (khoản 2 Điều 5) hay “nợ lương” theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, dường như Luật Phá sản chỉ xác định người lao động là một thành phần tham gia thủ tục phá sản mà không có quy định cụ thể nào xác định rõ rệt hơn nữa họ cũng có thể là chủ nợ (chủ nợ không có bảo đảm) ngoài trường hợp họ yêu cầu mở thủ tục phá sản (trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ lương). Điều đó còn thể hiện ở khoản 2 Điều 77 Luật Phá sản năm 2014 khi quy định: “Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền; trường hợp này đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ”.

Thực tế hiện nay cho thấy, đa số các doanh nghiệp nợ lương, có những trường hợp nợ lương kéo dài cũng không bị người lao động hay đại diện của họ khởi kiện yêu cầu tuyên bố phá sản và người lao động luôn luôn chịu thiệt trong quan hệ về tiền lương, lợi ích hợp pháp khác; đặc biệt là tình trạng doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đang trở thành vấn đề “nhức nhối” của xã hội. Việc xác định “nợ” là điều kiện đặc biệt quan trọng để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào tình trạng phá sản có khả năng phục hồi hay không khi xác định phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Về định lượng tiêu chí nợ: Luật Phá sản năm 2014 vẫn quy định chung về doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn mà chưa xác định cụ thể khoản nợ đó là bao nhiêu để bị coi là lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Pháp luật phá sản ở nhiều nước đều quy định về mức nợ để làm căn cứ yêu cầu phá sản doanh nghiệp, như Điều 123 Luật Mất khả năng thanh toán năm 1986 của Vương quốc Anh quy định một công ty không có khả năng thanh toán nợ khi có một trong số các điều kiện là “nợ của chủ nợ số tiền vượt quá 750 bảng”[6].

Luật Phá sản năm 2014 cũng như các Luật Phá sản trước đó[7] không đưa ra các yếu tố định lượng, mà chỉ đưa ra các yếu tố định tính, tức là căn cứ vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã vào thời điểm chủ nợ yêu cầu. Điều này có thể dẫn tới hai khả năng: (i) Chủ nợ lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đang gặp khó khăn tạm thời chứ không phải mất khả năng thanh toán một cách tràn lan, nhất là đặt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các DN; (ii) Doanh nghiệp, hợp tác xã cố ý mập mờ trong các khoản nợ để chủ nợ, người lao động không thể biết chính xác khả năng thanh toán của nó.

2. Về thời hạn khoản nợ chưa được thanh toán kể từ ngày đến hạn thanh toán

Luật Phá sản năm 2014 đã khắc phục sự thiếu sót trong kỹ thuật lập pháp và giải thích thuật ngữ pháp lý trong Luật Phá sản năm 2004 về việc xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Cụ thể, Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 quy định về doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản khi “không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”. Điều này cho thấy sự không rõ ràng, cụ thể khiến việc đánh giá các doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán thực tế gặp nhiều khó khăn. Chính việc bổ sung điều kiện “khi chủ nợ có yêu cầu” làm tăng sự phức tạp trong tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Luật Phá sản năm 2014 đã xác định một thời hạn rõ ràng hơn đối với việc không thanh toán khoản nợ là 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà không cần tính kể từ khi chủ nợ có yêu cầu. Việc tạo ra một thời hạn nhất định cho doanh nghiệp, hợp tác xã thu xếp thanh toán các khoản nợ là cơ hội để doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ nợ có thể thay đổi lại yêu cầu của mình (chẳng hạn có thể chuyển việc tuyên bố phá sản sang mua bán, sáp nhập doanh nghiệp hay chuyển các khoản nợ thành vốn góp…). Nếu sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn không thanh toán được các khoản nợ đến hạn thì doanh nghiệp, hợp tác xã đó đủ điều kiện là đối tượng lâm vào tình trạng phá sản và có thể được thực hiện thủ tục phá sản theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, việc quy định doanh nghiệp, hợp tác xã “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng” có thể là một thời gian quá ngắn. Trong Báo cáo tài chính mà các doanh nghiệp phải lập theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, thì nợ ngắn hạn “là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường”[8]. Như vậy, khoản nợ trong thời hạn 03 tháng được xem là rất ngắn hạn. Thực tế hoạt động kinh doanh ở Việt Nam cho thấy, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ hay để những khoản nợ quá nhiều tháng, có trường hợp cả năm khi “tổng kết” hoạt động mới thanh toán. Chính việc thu xếp để thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã khá phức tạp, đòi hỏi một thời gian dài, thậm chí có thể được gia hạn nhiều lần hoặc chuyển đổi khoản nợ thành loại tài sản khác (như góp vốn vào doanh nghiệp, hợp tác xã[9]). Chính vì thực tế ít doanh nghiệp và chủ nợ quan tâm đến quy định này của Luật nên việc thanh toán trong vòng 03 tháng kể từ ngày đến hạn không thực sự đi vào thực tế, chủ nợ cần một tiêu chí cụ thể hơn để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và không thể bảo đảm quyền lợi của họ.

3. Về nội dung doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ

Luật Phá sản năm 2014 cũng xác định rõ hơn thuật ngữ “không thực hiện” nghĩa vụ thanh toán nợ, tức là có thể mất khả năng thanh toán nợ dẫn đến không thực hiện (như trường hợp của Luật Phá sản năm 2004) và có thể có khả năng thanh toán nợ nhưng không thực hiện. Như vậy, đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản rộng hơn và phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Tuy nhiên, về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ “doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” không bao hàm hết nghĩa “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán”[10], do đó, cần thiết có sự sửa đổi Luật Phá sản năm 2014 theo hướng là “doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” là đối tượng lâm vào tình trạng phá sản. Khi tiến hành thủ tục phá sản, yếu tố mất khả năng thanh toán cần được xem xét ở những mức độ khác nhau khi xem xét khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Luật Phá sản năm 2014 cũng đã phân biệt rõ hơn đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản - chủ thể đầu vào và doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản - chủ thể đầu ra là phải có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Thông thường, điều này chỉ diễn ra sau khi Tòa án đã xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán các khoản nợ đã đến hạn và không còn giải pháp nào khác tối ưu hơn là việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Trong trường hợp này, việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã được Tòa án xác định rõ hơn là do doanh nghiệp, hợp tác xã mất (hoàn toàn) khả năng thanh toán.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung của tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, việc hoàn thiện pháp luật về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cần được xem xét ở những nội dung sau:

- Xây dựng quy phạm giải thích tiêu chí “nợ” trong Luật Phá sản bao gồm những nghĩa vụ dân sự nào liên quan đến tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là đối tượng phải thực hiện theo quy định của pháp luật, qua đó bảo đảm tốt hơn nữa quyền lợi của các chủ nợ, người lao động khi thực hiện quyền yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Nghiên cứu việc sửa đổi thời hạn không thanh toán khoản nợ làm căn cứ yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo hướng tăng thời gian hơn nữa như đã phân tích ở trên. Có thể xây dựng mối liên hệ tỷ lệ nghịch giữa mức nợ và thời gian nợ để bảo đảm tính hợp lý giữa bảo đảm quyền lợi của chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Nghiên cứu gộp hai quy định tại khoản 1, 2 Điều 4 Luật Phá sản thành một khoản về: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”

- Nghiên cứu hướng dẫn chi tiết nội hàm khái niệm mất khả năng thanh toán làm cơ sở cho quá trình thực hiện thủ tục phá sản doanh nghiệp, bao gồm cả thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.

ThS. Trần Thị Thu Hà

TS. Đỗ Trung Hiếu

Đại học Kinh tế Nghệ An

Học viện Chính trị khu vực I

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”.

[2]. Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật Phá sản năm 2004.

[3]. Xem Điều 94 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không định nghĩa về “nghĩa vụ dân sự”.

[5]. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nợ.

[6]. Theo quy định của khoản 3 Điều 123 Luật mất khả năng thanh toán Vương quốc Anh thì số tiền này có thể tăng hoặc giảm theo quy định tại Chương 15 Điều 416; Bộ trưởng Bộ Kinh doanh, đổi mới và kỹ năng (Secretary of State for business, innovation and skills) có thể ra quyết định tăng hoặc giảm số tiền tùy theo thời điểm được cụ thể. Nguồn trích dẫn: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/02/12/khi-niem-ph-san-thu-tuc-php-san-v-nhung-lin-he-den-luat-ph-san-nam-2014/.

[7]. Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật Phá sản năm 2004.

[8]. Điều 126 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp.

[9. Ví dụ như hình thức chuyển đổi trái phiếu đến hạn thành vốn góp, mua cổ phần thường được các công ty cổ phần, nhà đầu tư thường xuyên thực hiện, đặc biệt như trường hợp của CTCP Nông nghiệp Hoàng Anh Gia Lai (HAGL Agrico - HNG) trong năm 2016 - 2017 đã thỏa thuận được với các ngân hàng, chủ nợ hoán đổi các khoản nợ, trái phiếu thành cổ phiếu để tránh rời vào tình trạng phá sản do kinh doanh thua lỗ (nguồn: http://www.hagl.com.vn/).

[10]. Bản thân thuật ngữ này đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: