Thứ tư 26/08/2026 16:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật trong xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới

Công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật ở tỉnh Quảng Bình trải qua 02 giai đoạn: (i) Giai đoạn 1 là từ tháng 01/2013 đến tháng 5/2017

Công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật ở tỉnh Quảng Bình trải qua 02 giai đoạn: (i) Giai đoạn 1 là từ tháng 01/2013 đến tháng 5/2017, thực hiện theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg); (ii) Giai đoạn 2 là từ tháng 5/2017 đến nay, thực hiện theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 619/QĐ-TTg). Qua 05 năm triển khai thực hiện, công tác chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Giai đoạn 1: Từ tháng 01/2013 đến tháng 5/2017

Theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg, Quảng Bình là một trong 05 địa phương trên cả nước được lựa chọn làm thử về xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tư pháp đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình triển khai thực hiện kịp thời, nghiêm túc. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện như: Quyết định số 1042/QĐ-UBND ngày 20/6/2013 về việc phê duyệt Đề án triển khai thực hiện quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Công văn số 230/UBND-NC ngày 04/3/2014 về việc triển khai thực hiện các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; Công văn số 1109/UBND-NC ngày 10/9/2014 về việc đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; Công văn số 369/UBND-NC ngày 14/4/2015 về việc triển khai đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2015. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã cũng ban hành các văn bản chỉ đạo và triển khai kịp thời. Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao cho Sở Tư pháp tham mưu trực tiếp hoạt động này và chỉ đạo xây dựng bộ máy thực hiện nhiệm vụ ở ba cấp tỉnh, huyện, xã, cụ thể: 01 hội đồng cấp tỉnh, 08 hội đồng cấp huyện, 159 hội đồng cấp xã và đã tiến hành đánh giá địa phương chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định.

Để công tác đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật đi vào thực tiễn, tỉnh Quảng Bình đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền cho cán bộ và nhân dân về hoạt động này, qua đó tạo nên sức lan tỏa sâu rộng. Công tác tuyên truyền, phổ biến được Sở Tư pháp tham mưu thực hiện thường xuyên và sâu rộng đến mọi đối tượng trong toàn tỉnh, thông qua nhiều hình thức như: Tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt; mở lớp tập huấn nghiệp vụ, bồi dưỡng kiến thức pháp luật; thông qua phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài); thông qua Bản tin Tư pháp; phát hành tờ gấp, sách bỏ túi…; lồng ghép tổ chức tập huấn chuyên đề về xây dựng, đánh giá địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật vào các chương trình, đề án, trong bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho hòa giải viên, tuyên truyền viên… Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật mà hoạt động này đã nhận được sự quan tâm ủng hộ của các cấp, các ngành và các địa phương, sự chung tay của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, đặc biệt là nhận được sự đồng tình của nhân dân. Bên cạnh đó, được sự chỉ đạo và hướng dẫn kịp thời, Ủy ban nhân dân cấp huyện đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn về xây dựng, đánh giá và thành lập hội đồng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật. Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn trên địa bàn cũng đã tổ chức triển khai các điều kiện để xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; thành lập hội đồng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật cấp xã, đồng thời phân công cán bộ tham mưu thực hiện các tiêu chí về chuẩn tiếp cận pháp luật; tổ chức tuyên truyền, phổ biến, triển khai xây dựng các tiêu chí chuẩn tiếp cận pháp luật.

Qua 03 năm triển khai ở giai đoạn 1, kết quả đánh giá ở tỉnh Quảng Bình cho thấy, các tiêu chí được đánh giá khá toàn diện và thực chất, phản ánh đúng thực trạng của các địa phương. Về số cấp xã được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật: Năm 2014 có 64/159 xã, phường, thị trấn (chiếm tỷ lệ 40%); năm 2015 có 108/159 xã, phường, thị trấn (chiếm tỷ lệ 68%). Theo kết quả đánh giá thì không có địa phương cấp xã nào dưới 500 điểm. Về số địa phương cấp huyện được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật: Năm 2014 có 01/08 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (thành phố Đồng Hới có 12/16 xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, tỷ lệ 75%); năm 2015 có 03/08 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (thành phố Đồng Hới có 12/16 xã, phường được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, tỷ lệ 75%; huyện Lệ Thủy có 20/28 xã, thị trấn được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, tỷ lệ 71%; huyện Tuyên Hóa có 17/20 xã, thị trấn được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, tỷ lệ 85%). Thành phố Đồng Hới là địa phương được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật 02 năm liên tục. Trong tỉnh, có 08/159 xã, phường, thị trấn được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận là tiêu biểu về tiếp cận pháp luật năm 2015. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đề nghị Bộ Tư pháp công nhận phường Bắc Lý - thành phố Đồng Hới và thành phố Đồng Hới là những địa phương tiêu biểu về tiếp cận pháp luật toàn quốc.

Giai đoạn 2: Từ tháng 5/2017 đến nay

Giai đoạn 2 thực hiện theo Quyết định số 619/QĐ-TTg và đang được tỉnh Quảng Bình tích cực triển khai thực hiện. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục chỉ đạo công tác chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở gắn với việc thực hiện tiêu chí 18.5 trong Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 và Sở Tư pháp tiếp tục được giao nhiệm vụ tham mưu thực hiện công tác này. Sở Tư pháp đã tích cực, chủ động tham mưu thực hiện theo quy định mới với việc kịp thời tham mưu ban hành Kế hoạch số 1002/KH-UBND ngày 09/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg và nhiều văn bản chỉ đạo hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện; tham mưu chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thành lập hội đồng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật và chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc, đúng quy định; tổ chức và lồng ghép tổ chức trong các đề án, các hội nghị tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi đối tượng trong đó chú trọng đến đối tượng người dân ở cơ sở. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật được thực hiện dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng và ngày một đổi mới như tổ chức hội nghị, tọa đàm trao đổi, giải đáp thắc mắc, tổ chức các hội thi sân khấu hóa..., trong đó có nội dung liên quan đến công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Theo đó, Sở Tư pháp đã tổ chức và phối hợp tổ chức 97 lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hơn 11.000 lượt người gồm các đối tượng tại cơ sở như cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã, hòa giải viên, cán bộ Đoàn thanh niên, cán bộ Công đoàn, thanh thiếu niên, tuyên truyền viên, hội viên Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ...

Sở Tư pháp cũng đã tập trung xây dựng, kiện toàn và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về chuẩn tiếp cận pháp luật. Đến nay, cấp xã tổng số có 291 cán bộ tư pháp - hộ tịch (bao gồm cả 20 cán bộ hợp đồng), có trên 83% đơn vị cấp xã có 02 cán bộ tư pháp - hộ tịch; 93,5% cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã đã được đào tạo chuyên môn luật, trình độ từ trung cấp trở lên; 6,2% được đào tạo đại học, trung cấp và nghiệp vụ khác. Định kỳ hàng năm, Sở Tư pháp tổ chức và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện (thông qua Phòng Tư pháp) bồi dưỡng kiến thức pháp luật và tập huấn nghiệp vụ về chuẩn tiếp cận pháp luật cho 100% đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thông qua tổ chức hội nghị, cấp phát tài liệu nghiệp vụ...

Theo quy định tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 thì chuẩn tiếp cận pháp luật là một tiêu chí để đánh giá chuẩn nông thôn mới (tiêu chí 18.5). Vì vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp tích cực chỉ đạo, hướng dẫn triển khai đồng bộ, nghiêm túc Quyết định số 619/QĐ-TTg, trong đó, đặc biệt chú trọng việc đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật đối với các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới. Đến nay, toàn tỉnh có 123/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới hàng năm đều đạt tiêu chí về chuẩn tiếp cận pháp luật ở mức cao (từ 90 điểm trở lên và khảo sát đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ khi thực hiện thủ tục hành chính đạt từ 90% trở lên). Tuy nhiên, vẫn còn 36/159 xã, phường, thị trấn chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, những địa phương này sẽ phấn đấu đạt chuẩn trong năm 2018 và các năm tiếp theo. Các đơn vị cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật chủ yếu là do có cán bộ bị kỷ luật, còn lại số ít là do không đạt điểm.

Kết quả đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật giúp chính quyền các cấp có điều kiện nắm bắt, nhìn nhận toàn diện hơn về thực trạng, những khó khăn, vướng mắc trong triển khai nhiệm vụ về giải quyết các vụ việc hành chính - tư pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; trợ giúp pháp lý; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; hoạt động của các thiết chế tiếp cận pháp luật; thực trạng thực thi pháp luật của người dân tại cơ sở để có biện pháp khắc phục, thực hiện các nhiệm vụ đó hiệu quả hơn. Đồng thời, chính quyền các cấp có điều kiện nhận diện và khắc phục hạn chế, yếu kém trong chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần vào sự phát triển ổn định, bền vững, dân chủ, hiện đại, văn minh và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.

Nhìn lại 05 năm triển khai công tác chuẩn tiếp cận pháp luật ở tỉnh Quảng Bình nhận thấy, công tác này đã được Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nghiêm túc, bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc đánh giá, công nhận, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là một nhiệm vụ mới nên không tránh khỏi những bỡ ngỡ và khó khăn hạn chế nhất định như: Đối với một số Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã thì việc chỉ đạo thực hiện công tác này còn chậm, chưa kịp thời, việc thực hiện các tiêu chí về chuẩn tiếp cận pháp luật còn chưa đảm bảo, chưa chú trọng đến xây dựng các tiêu chí tiếp cận pháp luật mà chỉ chú trọng việc đánh giá các tiêu chí tiếp cận pháp luật; kết quả đánh giá tiếp cận pháp luật ở một số huyện còn chưa thực sự phản ánh sát, đúng với tình hình thực tiễn của địa phương; việc tổ chức triển khai các thiết chế pháp luật chưa cao, còn mang tính hình thức, chưa bám sát yêu cầu của người dân, chưa tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận pháp luật; chưa có sự phối hợp, gắn kết giữa các cơ quan, đơn vị đặc biệt là ở cấp xã để có sự đánh giá, giải quyết một cách toàn diện, tổng thể đối với công tác xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, nhiều địa phương còn coi đây là nhiệm vụ của cơ quan tư pháp; một số công chức cấp xã chưa nắm rõ được những nội dung cơ bản của các tiêu chí đánh giá tiếp cận pháp luật để tham mưu xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật nên việc đánh giá kết quả chính xác chưa cao...

Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, nhất là đối với các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới thì cần có sự chỉ đạo quyết liệt của các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền cấp huyện, cấp xã. Bên cạnh đó, cần thực hiện một số giải pháp đối với các nội dung của tiêu chí về chuẩn tiếp cận pháp luật như sau:

Một là, tăng cường phổ biến, quán triệt về mục đích, ý nghĩa, nội dung tiêu chí, chỉ tiêu và các nhiệm vụ về chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở, qua đó thống nhất về nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, nhân dân, coi đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó chính quyền cơ sở giữ vai trò nòng cốt. Đảm bảo mỗi người dân và mỗi cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ về mục đích, ý nghĩa, vị trí, vai trò của chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, để từ đó thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm có liên quan; tổ chức thực thi tốt các hoạt động công vụ thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, chính quyền cấp huyện cần quyết liệt đối với các xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, các xã trọng điểm về vi phạm pháp luật, bảo đảm các tiêu chí được thực hiện đồng đều, bền vững. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu để xác định tiến độ thực hiện và mức độ đạt được, từ đó tìm ra nguyên nhân chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; tăng cường các hoạt động thông tin, hỗ trợ người dân trong tiếp cận thông tin pháp luật và giám sát chặt chẽ các hoạt động thi hành pháp luật, nhằm phòng ngừa khiếu nại, khiếu kiện kéo dài và tránh xảy ra trọng án, tình hình tội phạm gia tăng.

Ba là, chính quyền các cấp quan tâm bố trí kinh phí, phương tiện và các điều kiện cần thiết khác để triển khai nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật từ nguồn ngân sách địa phương theo phân cấp ngân sách hiện hành. Trong đó, cần ưu tiên bố trí kinh phí để hỗ trợ cấp xã còn nhiều chỉ tiêu, tiêu chí chưa đạt chuẩn, cấp xã trọng điểm về vi phạm pháp luật. Khuyến khích, vận động các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Bốn là, chính quyền cấp huyện cần thực hiện đúng thực chất, đầy đủ các nội dung đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật. Phân công cụ thể nhiệm vụ cho từng cơ quan, đơn vị, công chức theo dõi, đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật phù hợp với lĩnh vực được giao quản lý, đồng thời chú trọng công tác phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ này. Rà soát các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật và căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương. Sau khi đánh giá, đề xuất với cấp có thẩm quyền và thực hiện các giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả thực hiện các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật, bảo đảm xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật bền vững.

Trần Thị Ngọc Hồng

Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: