Thứ ba 25/08/2026 05:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả triển khai thi hành công tác tư pháp được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao

Thực hiện Quy chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao ban hành kèm theo Quyết định số 42/2014/QĐ-TTg ngày 27/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ và được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 23/2018/QĐ-TTg ngày 15/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Quy chế 42)

Thực hiện Quy chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao ban hành kèm theo Quyết định số 42/2014/QĐ-TTg ngày 27/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ và được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 23/2018/QĐ-TTg ngày 15/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Quy chế 42), Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2478/QĐ-BTP ngày 02/10/2019 kèm theo Quy chế cập nhật, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Bộ giao. Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, việc triển khai thực hiện Quy chế 42 đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của công chức trong thực hiện nhiệm vụ được giao, qua đó góp phần giúp Lãnh đạo Bộ kịp thời nắm bắt thông tin, nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành.
1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 9 tháng đầu năm 2022[1]
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiếp nhận nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao thông qua 02 kênh thông tin chủ yếu, bao gồm: Nhiệm vụ giao trên Hệ thống quản lý văn bản và điều hành; Hệ thống Quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao (sử dụng mạng dùng riêng kết nối từ Văn phòng Chính phủ đến Bộ Tư pháp).
Sau khi tiếp nhận, nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao đều được Lãnh đạo Bộ phân công đơn vị chủ trì trên Hệ thống quản lý văn bản và điều hành. Đồng thời, để đảm bảo việc cập nhật tiến độ kết quả thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, hiện nay, Văn phòng Bộ đang thực hiện việc theo dõi, cập nhật kết quả thực hiện thông qua hình thức trao đổi trực tiếp với Thủ trưởng các đơn vị, chuyên viên trực tiếp thực hiện nhiệm vụ được giao chủ trì thực hiện.
Theo số liệu trên Hệ thống theo dõi nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao của Văn phòng Chính phủ, từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/9/2022, Bộ Tư pháp đã nhận được 153 nhiệm vụ (tăng 106,7% so với cùng kỳ năm 2021) do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao (trong đó có 85 nhiệm vụ có thời hạn, 68 nhiệm vụ không có thời hạn). Kết quả, Bộ Tư pháp đã hoàn thành 115 nhiệm vụ (trong đó có 74 nhiệm vụ có thời hạn, 41 nhiệm vụ không có thời hạn hoàn thành) và hiện đang tiếp tục thực hiện 38 nhiệm vụ từ nay đến hết năm 2022.
Qua theo dõi trên Hệ thống theo dõi nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao của Văn phòng Chính phủ, một số đơn vị thuộc Bộ có số lượng nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao nhiều như: Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế; Vụ Pháp luật hình sự - hành chính; Vụ Pháp luật quốc tế… Đối với nhiệm vụ được giao trên Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao khi đã hoàn thành đều được cập nhật đầy đủ kết quả, sản phẩm thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhiệm vụ được giao đến thời hạn phải hoàn thành hoặc phải báo cáo, phải trình theo đúng quy định của Quy chế 42; đối với các nhiệm vụ đang thực hiện hoặc nhiệm vụ giao không có thời hạn đều được cập nhật tình hình thực hiện chung, dự kiến thời gian hoàn thành. Bên cạnh đó, việc thực hiện chế độ báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao cũng được Bộ Tư pháp thực hiện nghiêm túc, định kỳ nội dung tình hình thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao đều được lồng ghép vào Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP, kết quả công tác chỉ đạo điều hành gửi Văn phòng Chính phủ. Đồng thời, định kỳ hàng tháng Văn phòng Bộ đều có báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao phục vụ Bộ trưởng tham dự phiên họp Chính phủ thường kỳ.
Bên cạnh đó, ngày 18/4/2022, Bộ Tư pháp đã có Báo cáo số 79/BC-BTP tình hình thực hiện Quy chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao ban hành kèm theo Quyết định số 42/2014/QĐ-TTg ngày 27/7/2014 và được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 23/2018/QĐ-TTg ngày 15/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 3285/BTP-VP ngày 06/9/2022 về việc phát triển và triển khai Nền tảng hỗ trợ theo dõi, điều hành thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao để tiếp tục tham gia đóng góp ý kiến với Văn phòng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung dự thảo Quy chế sửa đổi quy chế 42 và tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp hệ thống theo dõi.
Đồng thời, với vai trò là thành viên Tổ công tác của Chính phủ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Bộ Tư pháp đã tham gia tích cực, đóng góp có chất lượng vào hoạt động của Tổ công tác của Chính phủ, nhất là các nội dung liên quan công tác hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật.
2. Một số khó khăn, vướng mắc
Qua quá trình triển khai thực hiện Quy chế do Thủ tướng Chính phủ ban hành về vệc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và Quy chế do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành về việc cập nhật, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Bộ giao, Văn phòng Bộ nhân thấy, Quy chế cập nhật, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Bộ giao đã phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và hình thành cơ chế phối hợp, chia sẻ, kết nối thông tin giữa Văn phòng Bộ với các đơn vị thuộc Bộ; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị; một số đơn vị thực hiện tốt việc theo dõi, cập nhật tiến độ đối với các nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, kỷ luật, kỷ cương hành chính[2]. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể như sau:
- Qua theo dõi, Văn phòng Bộ nhận thấy số lượng nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướn Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì ngày càng nhiều, cần có thời gian nghiên cứu, rà soát, trong khi đó, các nhiệm vụ này thường được giao thời hạn hoàn thành tương đối ít[3] gây khó khăn cho đơn vị chủ trì tham mưu thực hiện nhiệm vụ.
- Một số nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì thường mang tính đột xuất, giao ngoài Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi đa phần các nhiệm vụ đều có tính chất phức tạp, yêu cầu triển khai công việc khẩn trương, đẩy nhanh tiến độ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao như: Xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự; xây dựng Báo cáo chuyên đề “Thực trạng kiểm soát quyền lực, phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật thuộc lĩnh vực Chính phủ phụ trách; kiến nghị các nội dung cần đưa vào Quy định của Bộ Chính trị”; tham gia xây dựng Quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống “lợi ích nhóm”; xây dựng Báo cáo: “Thực trạng kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng và thẩm định văn bản; quy định hoạt động thanh tra, kiểm toán và quản lý nhà nước về thi hành án; đề xuất, kiến nghị và giải pháp khắc phục”; tổ chức Hội nghị của Chính phủ về công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế…
- Việc phân quyền cho trên Hệ thống theo dõi nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao mới chỉ dừng lại ở đầu mối duy nhất của Bộ thực hiện việc theo dõi, cập nhật tình hình thực hiện chung của toàn Bộ; chưa thực hiện việc mở rộng phân quyền cập nhật đến từng đơn vị trực thuộc và chuyên viên trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, do đó một số nhiệm vụ đôi khi còn chưa mang tính cập nhật chính xác;
- Hiện nay, Bộ Tư pháp đang vận hành tách biệt các Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao với Hệ thống văn bản và điều hành (trên trục liên thông văn bản quốc gia) cũng như Phần mềm phòng họp không giấy tờ của Chính phủ (eCabinet) dẫn đến việc chưa có sự thống nhất trong quản lý thực hiện nhiệm vụ cũng như đầu mối theo dõi chung của từng đơn vị;
- Một số nhiệm vụ trên Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao chỉ là nhiệm vụ để biết, nhiệm vụ phối hợp (không phải chủ trì); nhiệm vụ có tính chất định hướng thường xuyên, liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành; nhiệm vụ không xác định rõ thời hạn hoàn thành, dẫn đến việc khó khăn cho đầu mối phụ trách cập nhật tình hình thực hiện nhiệm vụ.
3. Nguyên nhân những khó khăn, vướng mắc
3.1. Nguyên nhân khách quan
- Một số nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao trên Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi chưa thực sự rõ ràng, chưa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành; dẫn đến việc các Bộ, ngành tiếp tục phải rà soát, phân loại để tìm ra đúng nhiệm vụ của Bộ, ngành mình; một số nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao thường là các nhiệm vụ có liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương; khi thực hiện cần lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương theo đúng quy định. Tuy nhiên, một số bộ, ngành, địa phương được lấy ý kiến trả lời không đúng hạn đã ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành nhiệm vụ được giao là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng số lượng nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoàn thành nhưng quá hạn ngày càng nhiều[4].
- Đối với nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, hiện nay các cơ quan nhà nước, trong đó có Bộ Tư pháp, đang phải xử lý nhiều vụ việc cụ thể, sự vụ; chưa thực sự tập trung vào làm chính sách. Thậm chí, trong một số trường hợp, các cơ quan quản lý nhà nước đang cùng “hành chính hóa” các tranh chấp, các quan hệ dân sự, kinh tế.
- Hiện nay, với khối lượng nhiệm vụ Chính phủ, Chính phủ và Lãnh đạo Bộ giao các đơn vị ngày càng nhiều, yêu cầu đặt ra đối với nhiệm vụ giao ngày càng cao, tuy nhiên, một số đơn vị số lượng biên chế so với nhu cầu, khối lượng công việc được giao cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ.
3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Trong thời gian qua, việc triển khai Hệ thống Quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi nhiệm vụ đã được đẩy mạnh, triển khai đồng bộ từ Lãnh đạo Bộ xuống đến các đơn vị. Tuy nhiên, việc sử dụng hệ thống còn chưa triệt để, toàn diện.
- Quyết định số 2478/QĐ-BTP ngày 02/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy chế cập nhật, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Bộ giao các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị và cập nhật tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ vào Hệ thống theo dõi; đồng thời hiện nay, các đơn vị thuộc Bộ đều phân công đầu mối thực hiện nhiệm vụ theo dõi, cập nhật, báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, tuy nhiên, một số đơn vị còn chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo, bám sát tiến độ thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng số lượng nhiệm vụ quá hạn chưa hoàn thành trên Hệ thống ngày càng nhiều.
4. Đề xuất, kiến nghị
Thứ nhất, Lãnh đạo Bộ Tư pháp tiếp tục quan tâm, chỉ đạo sát sao, có định hướng, phân công thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc của từng đơn vị; hiện đại hóa phương thức chỉ đạo, điều hành, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới phương pháp, tiến độ, chất lượng và hiệu quả công việc; giúp hoạt động chỉ đạo, điều hành đến từng cấp được bảo đảm tính kỷ luật, kỷ cương hành chính; giúp quản lý, theo dõi, kiểm soát được tiến độ, chất lượng giải quyết công việc; gắn theo dõi, đôn đốc với kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, trên cơ sở xem xét, phân tích các điều kiện, bối cảnh thực tế và khối lượng công việc được giao để đánh giá một cách khách quan, toàn diện, qua đó kịp thời đôn đốc, chỉ đạo các đơn vị, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ được giao bảo đảm đúng thời gian quy định, rõ việc, rõ trách nhiệm, làm cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng tập thể, cá nhân một cách công khai, minh bạch.
Thứ hai, đối với các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp:
- Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ tiếp tục quan tâm, thường xuyên theo dõi, rà soát, đôn đốc, kiểm tra, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị và chỉ đạo cập nhật tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Bộ giao;
- Tăng cường công tác phối hợp giữa các đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm thời gian, tiến độ, chất lượng công việc;
- Kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc để Lãnh đạo Bộ chỉ đạo, có giải pháp tháo gỡ trong quá trình thực hiện;
- Đề nghị Cục Công nghệ thông tin tiếp tục tham mưu cho Lãnh đạo Bộ trong việc xây dựng, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ; đổi mới phương thức làm việc, nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin; tăng cường sử dụng và khai thác tối đa lợi ích của việc chuyển đổi số trong xu thế mới. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Bộ, các đơn vị thuộc Bộ để tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện Hệ thống về mặt nội dung, kỹ thuật; đồng thời xem xét việc tích hợp Hệ thống theo dõi nhiệm vụ với Cổng thông tin điện tử của Bộ để phục vụ cho công tác chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo Bộ cũng như đảm bảo sự thống nhất trong việc theo dõi nhiệm vụ, thống nhất việc sử dụng một hệ thống trong quản lý, điều hành công việc./.

ThS. Nguyễn Hữu Quảng
Văn phòng Bộ Tư pháp
ThS. Nguyễn Tiến Dũng
Học viện chính trị khu vực I


[1] Số liệu báo cáo từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/9/2022.

[2] Như: Cục Đăng ký Quốc gia giao dịch bảo đảm, Cục Bồi thường nhà nước, Học viện Tư pháp…

[3] Như: Công văn số 6429/VPCP-CN ngày 28/9/2022 của Văn phòng Chính phủ về việc dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về Quy hoạch tổng thể quốc gia (Cho ý kiến về nội dung và trình tự, thủ tục đối với dự thảo Nghị quyết về Quy hoạch tổng thể quốc gia, báo cáo Thủ tướng Chính phủ ngay trong ngày 28 tháng 9 năm 2022); Thông báo số 141/TB-VPCP ngày 13/5/2022 của Văn phòng Chính phủ Thông báo Kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về phương án xử lý đối với việc điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án nhóm A do địa phương quản lý (Báo cáo TTg phương án xử lý đối với các dự án nhóm A do địa phương quản lý đối với thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư); Công văn số 4694/VPCP-CN ngày 26/7/2022 của Văn phòng Chính phủ về việc lấy ý kiến về báo cáo và các nội dung xin ý kiến Thường trực Chính phủ về Quy hoạch điện VIII (Đề nghị các Bộ/cơ quan có ý kiến về báo cáo và các nội dung xin ý kiến Thường trực Chính phủ tại văn bản nêu trên của Bộ Công Thương đối với những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ/cơ quan, gửi về Văn phòng Chính phủ trước 12h00 ngày 28 tháng 7 năm 2022 để tổng hợp báo cáo Thường trực Chính phủ theo quy định)

[4] Như: Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật: Trả lời vướng mắc khi thực hiện chính quyền đô thị tại TP. Hồ Chí Minh (Công văn 5547/VPCP-TCCV ngày 25/8/2022 của Văn phòng Chính phủ); Vụ Pháp luật quốc tế: góp ý hoàn thiện hồ sơ về cơ chế tài chính của Trường Đại học Việt Đức (Công văn 5486/VPCP-KTTH ngày 24/8/2022 của Văn phòng Chính phủ); Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế: Cho ý kiến đối với nội dung tiếp thu, giải trình dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ (Công văn 4716/VPCP-CN ngày 03/8/2022 của Văn phòng Chính phủ), Đề nghị góp ý kiến về báo cáo và các nội dung xin ý kiến Thường trực Chính phủ về Quy hoạch điện VIII (Công văn 4694/VPCP-CN ngày 26/7/2022 của Văn phòng Chính phủ), Đề nghị góp ý kiến về đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ về “Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới (giai đoạn từ 1986 đến nay, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045) do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đề xuất (Công văn 4206/VPCP-KGVX ngày 06/7/2022 của Văn phòng Chính phủ), Báo cáo TTg phương án xử lý đối với các dự án nhóm A do địa phương quản lý đối với thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư (Thông báo kết luận số 141/TB-VPCP ngày 13/5/2022 của Văn phòng Chính phủ)…

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: