Thứ tư 26/08/2026 14:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ngành Tư pháp với mục tiêu và giải pháp về bình đẳng giới đến năm 2020

Hiện nay, mục tiêu bình đẳng giới là mối lưu tâm hàng đầu của mỗi quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Từ năm 1955, Liên Hợp Quốc đã thống nhất quan điểm và thông qua Chương trình hành động giới

Hiện nay, mục tiêu bình đẳng giới là mối lưu tâm hàng đầu của mỗi quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Từ năm 1955, Liên Hợp Quốc đã thống nhất quan điểm và thông qua Chương trình hành động giới, lồng ghép giới tại Hội nghị quốc tế về phụ nữ, lần thứ tư tại Bắc Kinh (Trung Quốc); năm 1979, tiếp tục thông qua Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ và mục tiêu thiên niên kỷ thứ ba cũng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Bên cạnh đó, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng đã quyết định đặt ra nhiều ngày lễ quốc tế, nhiều sự kiện trọng đại vì mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Điều này cho thấy sự ưu tiên đặc biệt của cộng đồng quốc tế về vấn đề bình đẳng giới.

Ở Việt Nam, vấn đề bình đẳng giới và bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định. Cụ thể, trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập đến quyền bình đẳng nam, nữ, theo đó, “đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Điều này tiếp tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp sau này và được thể chế hóa thành các văn bản luật như: Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020... để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong gia đình của họ. Dựa trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch hành động về bình đẳng giới phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và yêu cầu bình đẳng giới của đơn vị mình.

1. Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới

Nhằm góp phần giảm khoảng cách giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020, ngày 02/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1696/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020. Chương trình bao gồm những nội dung cụ thể như:

1.1. Truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới

Một là, nâng cao năng lực truyền thông về bình đẳng giới cho các cơ quan truyền thông, đội ngũ báo cáo viên, phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên, đội ngũ cán bộ thông tin cơ sở; xây dựng mô hình thí điểm áp dụng Bộ chỉ số về giới trong truyền thông ở một số cơ quan báo chí.

Hai là, mở rộng việc thực hiện các hình thức truyền thông nâng cao nhận thức về bình đẳng giới phù hợp với đặc thù từng nhóm đối tượng, địa bàn dân cư dưới hình thức văn hóa, nghệ thuật và nhiều hình thức khác; thí điểm lồng ghép nội dung về bình đẳng giới vào nội dung sinh hoạt của các câu lạc bộ tại cấp xã, phường và trong trường học, các doanh nghiệp, các khu công nghiệp tại một số địa phương; xây dựng, duy trì và phát triển đa dạng các chương trình, sản phẩm truyền thông về bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó chú trọng chương trình thông tin cơ sở; tổ chức các chiến dịch truyền thông thu hút nam giới và trẻ em trai tham gia thúc đẩy bình đẳng giới, chia sẻ trách nhiệm gia đình, xóa bỏ bất bình đẳng giới trong cộng đồng và xã hội...

Ba là, triển khai thực hiện “Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới” từ ngày 15/11 đến ngày 15/12 hằng năm với các hoạt động chính như: Xây dựng chủ đề và thông điệp truyền thông cho tháng hành động; tuyên truyền, biểu dương, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới.

Bốn là, triển khai các cuộc nghiên cứu, khảo sát nhận thức của xã hội về bình đẳng giới.

1.2. Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Một là, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, cộng tác viên làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp, cán bộ hoạch định chính sách: Phát triển chương trình và tài liệu tập huấn nâng cao kiến thức nghiệp vụ về hoạt động bình đẳng giới và lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; tổ chức đào tạo ngắn hạn và dài hạn; tập huấn, bồi dưỡng định kỳ; tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác thống kê, báo cáo số liệu tách biệt giới trong các lĩnh vực: Rà soát, sửa đổi Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới quốc gia; tập huấn và đào tạo kỹ năng thu thập, tổng hợp, phân tích sử dụng số liệu tách biệt giới trong các lĩnh vực.

1.3. Nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ đại biểu dân ccác cấp, nữ cán bộ quản lý, nữ lãnh đạo các cấp, nữ cán bộ thuộc diện quy hoạch

Một là, khảo sát, đánh giá định kỳ về thực trạng tình hình đội ngũ nữ cán bộ quản lý, nữ lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương; kiến nghị kịp thời các biện pháp, chính sách có liên quan đến công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ nữ bao gồm cả đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hai là, nâng cao năng lực cho các cơ quan tham mưu trong công tác hoạch định, tổ chức triển khai các chính sách tác động trực tiếp đến công tác cán bộ nữ.

Ba là, mở rộng quy mô và nội dung các hoạt động về nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo các cấp và năng lực của đội ngũ cán bộ trong diện quy hoạch vào các chức danh quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp; tạo nguồn tham gia các cấp ủy Đảng, các cơ quan dân cử và tổ chức chính trị - xã hội.

Bốn là, hỗ trợ thực hiện lồng ghép giới trong hoạt động bầu cử cho các thành viên hội đồng bầu cử các cấp.

Năm là, phát triển tài liệu và tổ chức tập huấn cập nhật kiến thức về bình đẳng giới phù hợp với từng đối tượng cụ thể.

Sáu là, tổ chức hội thảo, tọa đàm, đối thoại về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quản lý, lãnh đạo.

Bảy là, thường xuyên rà soát và nghiên cứu các quy định và chính sách đối với cán bộ nữ, đề xuất nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

1.4. Khuyến khích các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức xây dựng, thực hiện các mô hình tăng cường sự tham gia của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới trong những lĩnh vực, có nguy cơ bất bình đẳng giới cao như: Sửa đổi quy ước, hương ước bảo đảm các nguyên tắc bình đẳng giới, mô hình “Câu lạc bộ nữ công nhân nhà trọ” tại khu công nghiệp, khu chế xuất; mô hình “Vận dụng các nguyên tắc trao quyền cho phụ nữ trong thực hiện bình đẳng giới” tại doanh nghiệp; Trung tâm công tác xã hội thực hiện cung cấp dịch vụ về bình đẳng giới và các mô hình khác phù hợp với tình hình thực tế và xu thế hội nhập quốc tế.

2. Kế hoạch hành động bình đẳng giới của Ngành Tư pháp

Để triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả Quyết định số 1696/QĐ-TTg ngày 02/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020; kịp thời khắc phục tồn tại, hạn chế nhằm nâng cao hơn nữa bình đẳng giới trong ngành Tư pháp, ngày 27/4/2016, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 975/QĐ-BTP phê duyệt Kế hoạch hành động về bình đẳng giới của Ngành Tư pháp giai đoạn 2016 - 2020 với những yêu cầu cụ thể là: (i) Cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp của Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020 phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và yêu cầu bình đẳng giới của Bộ, Ngành Tư pháp giai đoạn 2016 - 2020; (ii) Các mục tiêu, giải pháp thực hiện Kế hoạch phải bám sát và có tác động tích cực tới việc thực hiện các định hướng phát triển chiến lược của Ngành trong giai đoạn 2016 - 2020 và đến năm 2035; (iii) Các nhiệm vụ, giải pháp phải mang tính khả thi, rõ trách nhiệm giải trình, khắc phục trực tiếp những khó khăn, tồn tại về bình đẳng giới hiện nay của Ngành.

2.1. Mục tiêu

Bộ Tư pháp xác định mục tiêu tổng quát của kế hoạch bình đẳng giới là thúc đẩy bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ trong tham gia lãnh đạo, quản lý; trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ và trong thụ hưởng các chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp; thực hiện hiệu quả các quy định về lồng ghép giới và bình đẳng giới và các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020 trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của Bộ Tư pháp.

Để thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, cần thực hiện những mục tiêu cụ thể như: (i) Mục tiêu 1: Thực hiện hiệu quả các quy định về bình đẳng giới trong xây dựng, thực thi pháp luật và các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, Ngành Tư pháp; (ii) Mục tiêu 2: Tăng cường sự tham gia của công chức, viên chức nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo tương xứng với tỷ lệ và năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ trong toàn Ngành; (iii) Mục tiêu 3: Chất lượng nguồn nhân lực nữ được nâng cao, bảo đảm sự bình đẳng giữa nam và nữ trong thụ hưởng đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của toàn Ngành.

2.2. Giải pháp và hoạt động để đạt mục tiêu

2.2.1. Đối với mục tiêu về thực hiện hiệu quả các quy định về bình đẳng giới trong xây dựng, thực thi pháp luật và các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, Ngành Tư pháp

Một là, nâng cao năng lực lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp.

- Xây dựng và thực hiện Kế hoạch tập huấn kiến thức về giới và lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho cán bộ chủ chốt và cán bộ, công chức, viên chức của Ngành Tư pháp.

- Hình thành đội ngũ chuyên gia về lồng ghép giới (tối thiểu là 03 chuyên gia) trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các nhiệm vụ của bộ, ngành về bình đẳng giới và hỗ trợ các bộ, ngành khác thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

- Kịp thời hướng dẫn, đôn đốc kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ ở các đơn vị, Sở Tư pháp và cơ quan thi hành án dân sự địa phương nhằm nâng cao hiệu quả công tác tham mưu lồng ghép giới vào hoạt động chuyên môn của các đơn vị.

Hai là, chuẩn hóa quy trình lồng ghép giới vào công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Xây dựng và phát hành bộ tài liệu hướng dẫn về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thẩm định chính sách, pháp luật dành cho cán bộ, công chức Ngành Tư pháp trực tiếp làm công tác xây dựng pháp luật.

- Xây dựng và ban hành quy trình lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong công tác truyền thông, phổ biến và giáo dục pháp luật.

Ba là, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về bình đẳng giới cũng như việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ, của Ngành Tư pháp.

- Định kỳ hàng năm tổ chức kiểm tra, rà soát theo thẩm quyền của Bộ, Ngành Tư pháp các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến vấn đề giới, từ đó sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung đảm bảo phù hợp với Luật Bình đẳng giới và quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

- Các đơn vị thuộc Ngành Tư pháp chủ động lồng ghép báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về bình đẳng giới theo thẩm quyền và tại đơn vị trong các báo cáo sơ, tổng kết của đơn vị; kịp thời thực hiện các giải pháp để đảm bảo đạt hiệu quả tối đa các chỉ tiêu đã đề ra.

- Ban Vì sự tiến bộ Ngành Tư pháp duy trì chế độ kiểm tra định kỳ về tổ chức, hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tại các đơn vị thuộc Bộ và các Sở Tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự địa phương; đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về bình đẳng giới tại các đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp, đặc biệt ưu tiên kiểm tra việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý.

Bốn là, củng cố chế độ thống kê và cơ sở dữ liệu có tách biệt về giới của Ngành Tư pháp để có thể khai thác, sử dụng hiệu quả phục vụ công tác hoạch định chính sách.

- Khảo sát, đánh giá chế độ báo cáo và hệ thống bảng biểu thống kê hiện hành của Ngành Tư pháp từ góc độ giới.

- Ban hành quy chế báo cáo và thực hiện bảng biểu thống kê có tách biệt về giới.

Năm là, huy động tối đa các nguồn lực, đặc biệt hỗ trợ kỹ thuật của quốc tế để thực hiện có hiệu quả Kế hoạch hành động về bình đẳng giới của Ngành Tư pháp giai đoạn 2016 - 2020.

- Bố trí kinh phí cho những hoạt động chuyên đề về bình đẳng giới hoặc vì sự tiến bộ phụ nữ.

- Phối hợp với các dự án hiện có để tận dụng triệt để những hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho những hoạt động bình đẳng giới hoặc hoạt động chuyên môn có lồng ghép vấn đề giới.

2.2.2. Đối với mục tiêu về tăng cường sự tham gia của công chức, viên chức nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo tương xứng với tỷ lệ và năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ trong toàn Ngành

Một là, đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt và bổ nhiệm công chức, viên chức nữ để nâng cao vai trò và tăng cường sự tham gia của họ vào các chức danh chủ chốt và chức danh lãnh đạo của Ngành.

- Khảo sát, đánh giá những rào cản (công việc và gia đình) đối với cán bộ, công chức, viên chức nữ Ngành Tư pháp trong tham gia các vị trí quản lý, lãnh đạo.

- Rà soát, sửa đổi Quy hoạch cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2021, trong đó chú trọng lựa chọn, đề xuất, quy hoạch cán bộ, công chức, viên chức nữ tương xứng với tỷ lệ cán bộ nữ trong cơ quan, đơn vị.

- Tổ chức các khóa đào tạo quản lý nhà nước, lý luận chính trị cho công chức, viên chức nữ để đủ điều kiện tham gia các vị trí quản lý, lãnh đạo; thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng kỹ năng quản lý, lãnh đạo cấp phòng, cấp vụ cho công chức, viên chức nữ.

Hai là, tích cực quan tâm bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ nữ tham gia các cấp ủy Đảng tại các đơn vị thuộc Bộ.

- Quan tâm, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ đảng viên để tạo nguồn tham gia cấp ủy tại đơn vị.

- Ưu tiên giới thiệu nữ đảng viên ứng cử tham gia ban chấp hành chi bộ tại các kỳ bầu cử nhằm duy trì tỷ lệ 47% nữ công chức, viên chức tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2016 - 2020.

2.2.3. Đối với mục tiêu về chất lượng nguồn nhân lực nữ được nâng cao, bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong thụ hưởng đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của toàn Ngành

Một là, xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng sát với thực tiễn, yêu cầu công việc và phù hợp với điều kiện tham gia của công chức, viên chức nữ.

- Quy định tỷ lệ hợp lý đối với nữ công chức, viên chức trong kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm của Bộ Tư pháp.

- Đa dạng hóa hình thức tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tin học và ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứu sắp xếp, tổ chức các khóa học đảm bảo phù hợp với đặc thù về công việc và gia đình của công chức, viên chức nữ, đặc biệt là trong thời gian mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

- Khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức nữ tự thực hiện bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tin học và ngoại ngữ (đặc biệt đối với nâng cao trình độ ngoại ngữ, thạc sỹ và tiến sỹ).

Hai là, tăng cường tuyên truyền phổ biến các chế độ, chính sách của Nhà nước về đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực đối với cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức nữ.

- Phổ biến kịp thời và đầy đủ các chế độ, chính sách của Nhà nước về đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực đối với cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức nữ.

- Tổ chức các hội thảo, tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm, bài học và các sáng kiến hay về cân bằng công việc và gia đình với sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức nam.

Ba là, đảm bảo thực hiện đầy đủ chế độ thống kê giới trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng: Hướng dẫn, tổ chức thực hiện thống kê phân theo giới tính đối với học viên tại tất cả các lớp đào tạo, bồi dưỡng bằng ngân sách và do Bộ Tư pháp chọn cử.

2.3. Tổ chức thực hiện mục tiêu về bình đẳng giới

2.3.1. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, phát huy vai trò tích cực của các tổ chức chính trị xã hội thuộc cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như:

Thứ nhất, các đơn vị thuộc Bộ xây dựng Kế hoạch hành động về bình đẳng giới 05 năm và hàng năm của đơn vị mình nhằm thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ được quy định tại Kế hoạch này. Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng Kế hoạch hành động về bình đẳng giới 05 năm và hàng năm trên cơ sở Kế hoạch hành động về bình đẳng giới của Ngành Tư pháp, yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương và sát với yêu cầu thực tiễn hoạt động của cơ quan mình.

Thứ hai, chỉ đạo thường xuyên và kịp thời các hoạt động nhằm thực hiện Kế hoạch hành động về bình đẳng giới đã xây dựng, nội dung hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới phải được đưa vào chương trình, kế hoạch công tác 06 tháng và hàng năm của các cơ quan, đơn vị và tổ chức thực hiện lồng ghép với các hoạt động chuyên môn khác của cơ quan, đơn vị.

Thứ ba, bố trí cán bộ phụ trách và thực hiện công tác bình đẳng giới; cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn về kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về giới và lồng ghép giới đảm bảo đủ năng lực giúp thủ trưởng đơn vị triển khai thực hiện có hiệu quả hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới.

Thứ tư, bố trí kinh phí hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính để triển khai thực hiện các hoạt động theo Kế hoạch hành động đề ra.

Thứ năm, tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch hành động về bình đẳng giới, tiến độ thực hiện và dự kiến hoàn thành các chỉ tiêu và gửi báo cáo định kỳ trước ngày 15 tháng 6 (đối với báo cáo sơ kết 06 tháng) và trước ngày 30 tháng 11 (đối với báo cáo tổng kết cuối năm) về Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ Ngành Tư pháp.

2.3.2. Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Ngành Tư pháp

Thứ nhất, tham mưu với Lãnh đạo Bộ tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020 trong toàn Ngành.

Thứ hai, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ cơ quan thi hành án dân sự, các đơn vị thuộc Bộ xây dựng và thực hiện Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 05 năm và hàng năm; tổng hợp, theo dõi, kiểm tra Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và thực hiện Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 05 năm và hàng năm.

Thứ ba, hàng năm, xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch hành động về bình đẳng giới Ngành Tư pháp trên cơ sở cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu của giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, phối hợp với các đơn vị chức năng trong nghiên cứu, phát hiện và đề xuất giải quyết vấn đề giới trong các chương trình, nội dung công tác của Ngành.

Thứ năm, phối hợp với Văn phòng Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới và các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020.

Thứ sáu, hướng dẫn Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ của các đơn vị thuộc Bộ tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch hành động và tiến độ thực hiện các chỉ tiêu được đặt ra.

Thứ bảy, tổ chức sơ kết, tổng kết hàng năm và báo cáo Lãnh đạo Bộ, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam về việc thực hiện Kế hoạch hành động về bình đẳng giới của Ngành Tư pháp giai đoạn 2016 - 2020.

Huyền Bùi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: