Thứ tư 23/09/2026 05:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vướng mắc trong việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là một trong những công cụ pháp lý quan trọng của các cơ quan thực thi pháp luật trong công tác đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai áp dụng, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các nghị định hướng dẫn thi hành đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, gây khó khăn cho công tác thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có vấn đề về tổ chức cưỡng chế để thi hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Ngày 12/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) (Nghị định số 166/2013/NĐ-CP). Nghị định đã quy định tương đối cụ thể về nguyên tắc, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế cũng như thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế, tạo cơ sở pháp lý quan trọng và điều kiện thuận lợi cho các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp trong việc thực hiện nghiêm túc các quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC của các bộ, ngành, UBND các cấp thời gian qua đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc, nhiều nội dung cần phải bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn như về lực lượng, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ việc cưỡng chế; về chi phí dành cho công tác cưỡng chế; về cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong tổ chức cưỡng chế và một số bất cập trong các biện pháp cưỡng chế, cụ thể:

Thứ nhất, quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành cưỡng chế quyết định xử phạt VPHC còn bất cập, không rõ ràng, không thống nhất với các quy định của các ngành luật khác.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 43 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020: “Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong các trường hợp sau đây: a) Cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 73 của Luật này…”; khoản 1 Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định việc thi hành quyết định xử phạt VPHC như sau: “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt VPHC; trường hợp quyết định xử phạt VPHC có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó. Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt VPHC thì vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật này. Việc khiếu nại, khởi kiện được giải quyết theo quy định của pháp luật” và khoản 3 Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử lý VPHC bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật”. Như vậy, về nguyên tắc của pháp luật xử lý VPHC, khi quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành, người vi phạm phải tự nguyện thi hành quyết định xử phạt, nếu không tự nguyện thi hành thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành ra quyết định cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt đó, trừ trường hợp khi có quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định xử phạt VPHC của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, khởi kiện.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, có nhiều trường hợp cá nhân, tổ chức VPHC không tự nguyện thi hành quyết định đúng thời hạn sẽ bị đề nghị cưỡng chế, nhưng cũng trong thời gian đó, họ thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt VPHC và thời hiệu, thời hạn, trình tự, thủ tục khiếu nại, khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Luật Khiếu nại hoặc Luật Tố tụng hành chính. Do đó, trên thực tế, để tổ chức thi hành quyết định xử phạt VPHC trong những trường hợp này là khó khăn vì nhiều tổ chức, cá nhân cho rằng khi họ đang thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện và đã được các cơ quan đang tiến hành thụ lý giải quyết nên cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt VPHC không được tổ chức cưỡng chế đối với việc xử phạt đó mà phải chờ kết quả giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố tụng hành chính.

Qua một số vụ việc trên thực tế, các cơ quan đang thụ lý giải quyết vụ việc theo thủ tục, thẩm quyền nhưng lại không ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định bị khiếu nại, khởi kiện vì nhiều lý do khác nhau, do đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành cưỡng chế không có cơ sở để tạm dừng hoặc dừng việc cưỡng chế theo quy định. Bên cạnh đó, pháp luật cũng chưa quy định rõ là người có thẩm quyền có được tiến hành cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt VPHC hay không hay phải chờ đến khi có kết quả giải quyết. Trên thực tế, nếu chờ kết quả giải quyết thì có một số trường hợp sẽ bị kéo dài thời hạn mất vài năm, nhất là các vụ việc khởi kiện hành chính cần phải chờ kết quả xét xử theo thủ tục phúc thẩm hoặc có khi là giám đốc thẩm nếu như người vi phạm tiếp tục thực hiện quyền kháng cáo theo quy định. Điều này đặt ra yêu cầu phải sửa đổi pháp luật về xử lý VPHC để có cơ sở pháp lý rõ ràng và bảo đảm tính thống nhất với các ngành luật khác có liên quan như Luật Khiếu nại, Luật Tố tụng hành chính.

Thứ hai, một số quy định về trình tự, thủ tục tiến hành cưỡng chế còn thiếu tính khả thi, không phù hợp với thực tiễn.

Một vấn đề vướng mắc trong hình thức là việc pháp luật quy định người thi hành quyết định cưỡng chế phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục xác minh tài khoản để khấu trừ theo đúng mẫu biên bản số 09 ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trong đó, biên bản xác minh tài sản để xác định điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế theo phương thức khấu trừ tiền từ tài khoản phải có cả cá nhân, người đại diện của tổ chức có thông tin phải xác minh; cá nhân, người đại diện của tổ chức cung cấp thông tin xác minh phải cùng ký vào biên bản xác minh là không phù hợp trên thực tế. Bởi vì, việc xác minh thông tin về tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế là hoạt động nghiệp vụ của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế. Trường hợp nếu thực hiện theo quy định, hướng dẫn như trên sẽ dẫn đến việc cá nhân, tổ chức biết được mục đích của việc xác minh, những người vi phạm có thể sẽ rút hết tiền trong tài khoản trước khi người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC. Còn nếu như biên bản xác minh không đúng theo yêu cầu, thành phần như hướng dẫn thì việc xác minh đó là không đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, có một số trường hợp tổ chức, cá nhân cố tình không cung cấp thông tin về tài khoản của mình, còn tổ chức tín dụng, ngân hàng vì lý do bảo mật khách hàng nên cũng không cung cấp thông tin của khách hàng nên việc xác minh là hết sức khó khăn và pháp luật chưa có quy định về trường hợp cá nhân, đại diện tổ chức vi phạm không đến tham gia lập biên bản xác minh thì xử lý như thế nào. Bên cạnh đó, việc xác minh tài khoản cũng khá phức tạp, mất nhiều thời gian trong trường hợp cá nhân hoặc tổ chức VPHC có nhiều tài khoản ở nhiều tổ chức tín dụng có trụ sở/chi nhánh/phòng giao dịch ở nhiều tỉnh, thành phố khác nhau hoặc như vấn đề vướng mắc về trách nhiệm phối hợp, cung cấp thông tin của Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại với cơ quan được giao thi hành quyết định cưỡng chế phải thực hiện theo cơ chế như thế nào pháp luật vẫn chưa quy định cụ thể nên gần như người tiến hành xác minh chưa thể thực hiện được.

Thứ ba, có tài sản, điều kiện nhưng không thể cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt.

Dưới đây là một ví dụ về trường hợp này dựa trên thực tiễn:

Ngày 12/4/2023, khi tuần tra, cơ quan công an tỉnh B phát hiện ông L thường trú tại số nhà 40 đường C thành phố Q tỉnh B có hành vi vi phạm điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 10 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực đường bộ và đường sắt. Sau khi hoàn thiện hồ sơ, cơ quan công an tỉnh B đã trình Chủ tịch UBND tỉnh B ra quyết định xử phạt đối với ông L với số tiền là 35 triệu đồng, còn chiếc xe là ông thuê của dịch vụ Y nên cơ quan đã trả lại.

Sau khi quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành, cơ quan công an nhiều lần mời ông L lên làm việc, động viên ông tự nguyện thi hành quyết định xử phạt là nộp số tiền 35 triệu đồng vào tài khoản Kho bạc nhà nước như trong quyết định đã ghi. Tuy nhiên, ông L không những không thi hành mà còn tỏ vẻ thách thức với người giải quyết vụ việc. Do không tự nguyện thi hành nên cơ quan công an tỉnh B đã tiến hành các thủ tục để thi hành quyết định xử phạt.

Qua xác minh, ông L không có nghề nghiệp ổn định chỉ phụ vợ bán hải sản tươi sống tại nhà, không có thu nhập cố định, không mở tài khoản ở bất kỳ ngân hàng, tổ chức tín dụng nào, về tài sản thì gia đình ông có vựa hải sản lớn nhưng do vợ ông đứng tên kinh doanh và một ngôi nhà mặt tiền đường C trị giá trên 10 tỷ đồng. Tuy nhiên, cơ quan công an vẫn chưa thể thi hành quyết định xử phạt được, bởi, vấn đề vướng mắc ở đây là việc quy định của pháp luật đối với trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành quyết định cưỡng chế. Tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định: “Chỉ được kê biên tài sản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế tương ứng với số tiền đã ghi trong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và chi phí cho việc tổ chức thi hành cưỡng chế”. Trong tình huống này, ông L là đối tượng phải thi hành quyết định xử phạt VPHC có tài sản và tài sản đó có giá trị lớn hơn mức tiền phạt nhiều lần nhưng cơ quan có thẩm quyền cũng không thể kê biên được do không xác định được giá trị tương ứng là bao nhiêu, trong phạm vi nào của khối tài sản đó; đồng thời, tài sản của ông L lại là tài sản chung trong khối tài sản chung của cha, mẹ, vợ, con nên cơ quan công an không biết phải xử lý như thế nào, đo đó, việc áp dụng hình thức này để tiến hành cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC là thiếu tính khả thi, không thể thực hiện.

Những khó khăn, vướng mắc trên đã dẫn đến tỷ lệ và hiệu quả cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC còn hạn chế, thậm chí ảnh hưởng đến tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật. Vì vậy, trong thời gian tới cần phải khẩn trương sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xử phạt VPHC; đồng thời, để phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020. Với quan điểm nghiên cứu trên, tác giả kiến nghị một số nội dung liên quan đến việc thi hành cưỡng chế quyết định xử phạt VPHC cần hoàn thiện như sau:

Một là, sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục, quy trình cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC bị khiếu nại, khởi kiện trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) theo hai hướng:

(i) Cần quy định trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện về quyết định xử phạt VPHC vẫn có thể bị cưỡng chế thi hành nếu hết thời hạn thi hành nhưng không thực hiện mà không nhất thiết phải có thêm điều kiện là phải có “quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật” của người giải quyết khiếu nại, khởi kiện như quy định hiện hành.

(ii) Phải quy định rõ trong trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện và cơ quan, người có thẩm quyền đã thụ lý giải quyết thì phải tạm dừng ngay việc thi hành quyết định xử phạt VPHC cho đến khi quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan, người có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành để có cơ sở pháp lý cho người có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC thực hiện và nhất là bảo đảm tính thống nhất, tương thích với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật, tránh trường hợp áp dụng tùy nghi, gây nhiều tranh cãi như quy định hiện hành.

Hai là, khẩn trương sửa đổi và thay thế Nghị định số 166/2013/NĐ-CP, trong đó cần chú trọng nội dung quy định cụ thể, rõ ràng hơn về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế (quy định về đối tượng bị áp dụng trong từng biện pháp cưỡng chế, xác minh thông tin về tiền, tiền lương, thu nhập, tài khoản, tài sản; quyết định cưỡng chế, tỷ lệ khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập đối với cá nhân, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị khấu trừ; trách nhiệm của tổ chức tín dụng nơi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế mở tài khoản; những tài sản không được kê biên; tài sản trong khối tài sản chung với các tổ chức, cá nhân khác; tổ chức thi hành các biện pháp cưỡng chế cụ thể; biên bản thi hành các biện pháp cưỡng chế cụ thể; giao bảo quản tài sản kê biên; định giá tài sản kê biên; chuyển giao tài sản đã kê biên để đấu giá; chuyển giao quyền sở hữu tài sản); bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế hành chính (quy định về các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện quyết định cưỡng chế hành chính; chuyển việc thi hành quyết định cưỡng chế để bảo đảm thi hành và cưỡng chế đối với cá nhân, tổ chức vừa bị áp dụng xử phạt hành chính vừa bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả); chi phí cưỡng chế hành chính (quy định về xác định chi phí cưỡng chế; tạm ứng, hoàn trả chi phí cưỡng chế; lập dự toán, chấp hành và thanh toán chi phí cưỡng chế)...

Ba là, nghiên cứu, bổ sung quy định về xử phạt VPHC đối với những trường hợp có điều kiện thi hành nhưng cố tình không tự nguyện thi hành và có hành vi cản trở, gây khó khăn cho việc thi hành các quyết định xử phạt VPHC để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật./.

Lê Kim Chinh

Sở Tư pháp Bình Định

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: