Chủ nhật 15/03/2026 15:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phải tạo điều kiện thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo

Đây là một trong những ý kiến kết luận của Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam tại phiên họp ngày 09/4/2025. Đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì phiên họp thẩm định.

Toàn cảnh phiên họp thẩm định.

Tham dự phiên họp thẩm định gồm các thành viên đại diện của các cơ quan: Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Chính phủ; Bộ Ngoại giao; Bộ Công an; Bộ Nội vụ; Bộ Tài chính; Sở Tư pháp thành phố Hà Nội… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Tại phiên họp thẩm định, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo về dự thảo Luật và cho biết, trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhất là sự hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… các quốc gia trên thế giới đều đang có xu hướng mở rộng và linh hoạt hơn trong chính sách quốc tịch. Hiện nay, trên thế giới có 78 quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch (trong đó có 51 quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch triệt để và 27 quốc gia chấp nhận trường hợp công dân có hai quốc tịch trong các trường hợp ngoại lệ); có khoảng 66 quốc gia không có quy định về nguyên tắc một quốc tịch.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 06 triệu người, sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, tính đến tháng 03/2025, có 229.336 người được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam. Việc thay đổi chính sách pháp luật quốc tịch của một số nước (cho phép công dân có thể mang 02 quốc tịch) trong thời gian gần đây dẫn đến các trường hợp trước đây đã xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài bày tỏ nguyện vọng xin trở lại quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ quốc tịch nước ngoài có dấu hiệu tăng.

Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo tại phiên họp thẩm định.

Tính đến tháng 03/2025, Chủ tịch nước đã cho trở lại quốc tịch Việt Nam đối với 311 trường hợp, trong đó có 20 trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam, đồng thời giữ quốc tịch nước ngoài; cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với 7.014 trường hợp, trong đó có 60 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời giữ quốc tịch nước ngoài.

Sau 17 năm triển khai thi hành, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã thể chế hóa các định hướng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về quốc tịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới, Bộ Tư pháp nhận thấy, một số quy định hiện hành liên quan đến thủ tục nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam chưa thực sự tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ quốc tịch nước ngoài; chưa thu hút được nhiều nguồn nhân lực chất lượng cao để đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, trong đó “nới lỏng” chính sách cho nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam nhằm tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về nước đầu tư, sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số… góp phần thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới là thực sự cần thiết.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam gồm một số nội dung chính như: (i) sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Nam; (ii) sửa đổi, bổ sung quy định về trở lại quốc tịch Việt Nam; (iii) sửa đổi, bổ sung quy định đáp ứng yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân.

Tại phiên họp thẩm định, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luật và có ý kiến góp ý trực tiếp đối với một số nội dung trong Tờ trình dự án Luật và dự thảo Luật như: (i) bổ sung quy định liên quan đến “biên chế nhà nước” tại khoản 1 Điều 1 dựa thảo Luật theo hướng: “Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài khi thực hiện các quyền ứng cử, tuyển dụng vào các chức danh, làm việc trong “biên chế” tổ chức bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tham gia lực lượng vũ trang của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài và phải thường trú tại Việt Nam” nhằm phân định rõ ràng giữa đối tượng làm việc trong khu vực Nhà nước và ngoài Nhà nước, qua đó góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý và phù hợp với yêu cầu quản lý hiện nay; (ii) rà soát, đánh giá sự thống nhất, đồng bộ quy định của dự thảo Luật với hệ thống pháp luật chuyên ngành liên quan đến việc quy định việc tuyển dụng đối với người là công dân Việt Nam và có thêm quốc tịch nước ngoài làm việc trong hệ thống bộ máy nhà nước tại Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Cơ yếu; Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân; Luật Công an nhân dân; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; (iii) dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 và 2a Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam theo hướng “Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có các điều kiện quy định tại các điểm c, đ, e khoản 1 Điều này nếu có vợ, chồng, con đẻ là công dân Việt Nam”, bên cạnh đó, dự thảo Luật còn mở rộng thêm đối tượng được có thể được nhập tịch nếu “Có cha hoặc mẹ hoặc ông bà nội hoặc ông bà ngoại là công dân Việt Nam”. Quy định này là quá rộng so với quy định hiện hành và tiềm ẩn những hệ lụy nếu không có cơ chế kiểm soát phù hợp. Việc mở quá nhiều đối với điều kiện nhập quốc tịch có thể dẫn đến tình trạng lợi dụng chính sách, gây khó khăn cho công tác quản lý dân cư và bảo đảm an ninh quốc gia. Vì vậy, cần cân nhắc thận trọng, đánh giá tác động toàn diện và làm rõ tiêu chí xác định các mối quan hệ nhân thân, nhằm bảo đảm chính sách vừa nhân văn, linh hoạt, vừa chặt chẽ và phù hợp với yêu cầu thực tiễn; (iii) bổ sung phần tính toán, đánh giá về tác động nguồn lực tài chính đối với ngân sách nhà nước khi luật được ban hành và làm tăng số lượng hồ sơ xin nhập quốc tịch. Bên cạnh đó, cần đánh giá về cơ sở vật chất, hạ tầng hiện tại và nhu cầu đầu tư thêm cho việc xử lý hồ sơ (kể cả hồ sơ điện tử); (iv) cần rà soát, đánh giá tính tương thích của dự thảo Luật với các điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên; (v) cân nhắc bỏ nội dung trong dự thảo Tờ trình “việc xin giữ quốc tịch nước ngoài của người đó khi nhập quốc tịch Việt Nam là phù hợp với pháp luật của nước ngoài đó” vì vấn đề quốc tịch hoàn toàn là vấn đề chủ quyền của Việt Nam và do các cơ quan chức năng của Việt Nam xem xét quyết định mà không phải phụ thuộc vào pháp luật của nước ngoài.

Đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu kết luận phiên họp thẩm định.

Phát biểu kết luận phiên họp thẩm định, đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp nhất trí về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam, xuất phát từ bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thu hút nguồn lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, Thứ trưởng đề nghị, việc mở rộng các quy định của Luật phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh mở rộng “tràn lan”, thiếu kiểm soát. Việc sửa đổi phải được đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành và trong khuôn khổ khả năng thực thi của các cơ quan quản lý nhà nước. Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ lưỡng và giải trình đầy đủ về những khó khăn, vướng mắc có thể phát sinh trong quá trình triển khai luật, nhất là trong các quy định mở mới liên quan đến nhập, trở lại quốc tịch, người có yếu tố nước ngoài, người có hai quốc tịch.

Về tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Thứ trưởng đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa quy định tại dự thảo Luật với các luật chuyên ngành như Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Cơ yếu; Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Công an nhân dân... Trong đó, cần xác định rõ ràng, bảo đảm không mâu thuẫn giữa Luật Quốc tịch Việt Nam và các luật khác, đồng thời, không tạo ra khoảng trống pháp lý trong công tác tổ chức cán bộ và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng yêu cầu cần tiếp tục rà soát về thẩm quyền và kỹ thuật lập pháp, đặc biệt, các nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết phải bảo đảm đúng thẩm quyền theo Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Về cải cách thủ tục hành chính, Thứ trưởng đề nghị tiếp thu đầy đủ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 22/CĐ-TTg ngày 09/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cắt giảm tối thiểu 30% thủ tục không cần thiết, đồng thời, đẩy mạnh số hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các thủ tục về quốc tịch. Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú cũng đề nghị cần hoàn thiện hồ sơ trình dự án Luật, đặc biệt, Tờ trình, Báo cáo giải trình và các phụ lục, bảo đảm tuân thủ đúng quy định tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Hồ sơ cần thể hiện rõ nội dung giữ nguyên, nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và các lý do cụ thể kèm theo, tránh tình trạng thiếu minh bạch trong quá trình thẩm tra và thảo luận tại Quốc hội.

Về các nội dung còn ý kiến khác nhau trong dự thảo Luật như quy định sửa đổi, bổ sung Điều 19, Điều 22 và khoản 5 Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam, Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng, lắng nghe ý kiến chuyên gia và các bộ, ngành liên quan, đặc biệt là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Nội vụ và Bộ Ngoại giao để hoàn thiện nội dung dự thảo bảo đảm đồng bộ, chặt chẽ, phù hợp thực tiễn./.

Hoàng Trung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm hoạt động của cơ quan, đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước hoạt động hiệu quả sau sắp xếp tổ chức bộ máy

Bảo đảm hoạt động của cơ quan, đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước hoạt động hiệu quả sau sắp xếp tổ chức bộ máy

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Phòng, chống rửa tiền gồm 03 điều, tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 và Luật Phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15 nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đáp ứng sự phát triển của đất nước, Bộ, ngành Tư pháp

Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đáp ứng sự phát triển của đất nước, Bộ, ngành Tư pháp

Ngày 11/3/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức Hội nghị gặp mặt đầu Xuân Bính Ngọ và lấy ý kiến vào Đề án “Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2040” theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế

Tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số luật thuộc lĩnh vực y tế được xây dựng nhằm triển khai thực hiện quy định của Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế; đồng thời giải quyết những nội dung còn vướng mắc trong quá trình thực hiện theo đề xuất, kiến nghị của các địa phương, đơn vị.
Tháo gỡ

Tháo gỡ 'nút thắt' trong việc viện dẫn văn bản quy phạm pháp luật

Chiều ngày 04/3/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh làm việc với Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật về dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh hợp nhất văn bản (dự thảo Pháp lệnh).
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: