Thứ hai 21/09/2026 09:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phải tạo điều kiện thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo

Đây là một trong những ý kiến kết luận của Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam tại phiên họp ngày 09/4/2025. Đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì phiên họp thẩm định.

Toàn cảnh phiên họp thẩm định.

Tham dự phiên họp thẩm định gồm các thành viên đại diện của các cơ quan: Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Chính phủ; Bộ Ngoại giao; Bộ Công an; Bộ Nội vụ; Bộ Tài chính; Sở Tư pháp thành phố Hà Nội… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Tại phiên họp thẩm định, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo về dự thảo Luật và cho biết, trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhất là sự hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… các quốc gia trên thế giới đều đang có xu hướng mở rộng và linh hoạt hơn trong chính sách quốc tịch. Hiện nay, trên thế giới có 78 quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch (trong đó có 51 quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch triệt để và 27 quốc gia chấp nhận trường hợp công dân có hai quốc tịch trong các trường hợp ngoại lệ); có khoảng 66 quốc gia không có quy định về nguyên tắc một quốc tịch.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 06 triệu người, sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, tính đến tháng 03/2025, có 229.336 người được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam. Việc thay đổi chính sách pháp luật quốc tịch của một số nước (cho phép công dân có thể mang 02 quốc tịch) trong thời gian gần đây dẫn đến các trường hợp trước đây đã xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài bày tỏ nguyện vọng xin trở lại quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ quốc tịch nước ngoài có dấu hiệu tăng.

Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo tại phiên họp thẩm định.

Tính đến tháng 03/2025, Chủ tịch nước đã cho trở lại quốc tịch Việt Nam đối với 311 trường hợp, trong đó có 20 trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam, đồng thời giữ quốc tịch nước ngoài; cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với 7.014 trường hợp, trong đó có 60 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời giữ quốc tịch nước ngoài.

Sau 17 năm triển khai thi hành, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã thể chế hóa các định hướng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về quốc tịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới, Bộ Tư pháp nhận thấy, một số quy định hiện hành liên quan đến thủ tục nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam chưa thực sự tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ quốc tịch nước ngoài; chưa thu hút được nhiều nguồn nhân lực chất lượng cao để đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, trong đó “nới lỏng” chính sách cho nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam nhằm tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về nước đầu tư, sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số… góp phần thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới là thực sự cần thiết.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam gồm một số nội dung chính như: (i) sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Nam; (ii) sửa đổi, bổ sung quy định về trở lại quốc tịch Việt Nam; (iii) sửa đổi, bổ sung quy định đáp ứng yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân.

Tại phiên họp thẩm định, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luật và có ý kiến góp ý trực tiếp đối với một số nội dung trong Tờ trình dự án Luật và dự thảo Luật như: (i) bổ sung quy định liên quan đến “biên chế nhà nước” tại khoản 1 Điều 1 dựa thảo Luật theo hướng: “Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài khi thực hiện các quyền ứng cử, tuyển dụng vào các chức danh, làm việc trong “biên chế” tổ chức bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tham gia lực lượng vũ trang của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài và phải thường trú tại Việt Nam” nhằm phân định rõ ràng giữa đối tượng làm việc trong khu vực Nhà nước và ngoài Nhà nước, qua đó góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý và phù hợp với yêu cầu quản lý hiện nay; (ii) rà soát, đánh giá sự thống nhất, đồng bộ quy định của dự thảo Luật với hệ thống pháp luật chuyên ngành liên quan đến việc quy định việc tuyển dụng đối với người là công dân Việt Nam và có thêm quốc tịch nước ngoài làm việc trong hệ thống bộ máy nhà nước tại Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Cơ yếu; Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân; Luật Công an nhân dân; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; (iii) dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 và 2a Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam theo hướng “Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có các điều kiện quy định tại các điểm c, đ, e khoản 1 Điều này nếu có vợ, chồng, con đẻ là công dân Việt Nam”, bên cạnh đó, dự thảo Luật còn mở rộng thêm đối tượng được có thể được nhập tịch nếu “Có cha hoặc mẹ hoặc ông bà nội hoặc ông bà ngoại là công dân Việt Nam”. Quy định này là quá rộng so với quy định hiện hành và tiềm ẩn những hệ lụy nếu không có cơ chế kiểm soát phù hợp. Việc mở quá nhiều đối với điều kiện nhập quốc tịch có thể dẫn đến tình trạng lợi dụng chính sách, gây khó khăn cho công tác quản lý dân cư và bảo đảm an ninh quốc gia. Vì vậy, cần cân nhắc thận trọng, đánh giá tác động toàn diện và làm rõ tiêu chí xác định các mối quan hệ nhân thân, nhằm bảo đảm chính sách vừa nhân văn, linh hoạt, vừa chặt chẽ và phù hợp với yêu cầu thực tiễn; (iii) bổ sung phần tính toán, đánh giá về tác động nguồn lực tài chính đối với ngân sách nhà nước khi luật được ban hành và làm tăng số lượng hồ sơ xin nhập quốc tịch. Bên cạnh đó, cần đánh giá về cơ sở vật chất, hạ tầng hiện tại và nhu cầu đầu tư thêm cho việc xử lý hồ sơ (kể cả hồ sơ điện tử); (iv) cần rà soát, đánh giá tính tương thích của dự thảo Luật với các điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên; (v) cân nhắc bỏ nội dung trong dự thảo Tờ trình “việc xin giữ quốc tịch nước ngoài của người đó khi nhập quốc tịch Việt Nam là phù hợp với pháp luật của nước ngoài đó” vì vấn đề quốc tịch hoàn toàn là vấn đề chủ quyền của Việt Nam và do các cơ quan chức năng của Việt Nam xem xét quyết định mà không phải phụ thuộc vào pháp luật của nước ngoài.

Đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu kết luận phiên họp thẩm định.

Phát biểu kết luận phiên họp thẩm định, đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp nhất trí về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam, xuất phát từ bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thu hút nguồn lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, Thứ trưởng đề nghị, việc mở rộng các quy định của Luật phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh mở rộng “tràn lan”, thiếu kiểm soát. Việc sửa đổi phải được đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành và trong khuôn khổ khả năng thực thi của các cơ quan quản lý nhà nước. Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ lưỡng và giải trình đầy đủ về những khó khăn, vướng mắc có thể phát sinh trong quá trình triển khai luật, nhất là trong các quy định mở mới liên quan đến nhập, trở lại quốc tịch, người có yếu tố nước ngoài, người có hai quốc tịch.

Về tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Thứ trưởng đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa quy định tại dự thảo Luật với các luật chuyên ngành như Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Cơ yếu; Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Công an nhân dân... Trong đó, cần xác định rõ ràng, bảo đảm không mâu thuẫn giữa Luật Quốc tịch Việt Nam và các luật khác, đồng thời, không tạo ra khoảng trống pháp lý trong công tác tổ chức cán bộ và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng yêu cầu cần tiếp tục rà soát về thẩm quyền và kỹ thuật lập pháp, đặc biệt, các nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết phải bảo đảm đúng thẩm quyền theo Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Về cải cách thủ tục hành chính, Thứ trưởng đề nghị tiếp thu đầy đủ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 22/CĐ-TTg ngày 09/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cắt giảm tối thiểu 30% thủ tục không cần thiết, đồng thời, đẩy mạnh số hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các thủ tục về quốc tịch. Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú cũng đề nghị cần hoàn thiện hồ sơ trình dự án Luật, đặc biệt, Tờ trình, Báo cáo giải trình và các phụ lục, bảo đảm tuân thủ đúng quy định tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Hồ sơ cần thể hiện rõ nội dung giữ nguyên, nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và các lý do cụ thể kèm theo, tránh tình trạng thiếu minh bạch trong quá trình thẩm tra và thảo luận tại Quốc hội.

Về các nội dung còn ý kiến khác nhau trong dự thảo Luật như quy định sửa đổi, bổ sung Điều 19, Điều 22 và khoản 5 Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam, Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng, lắng nghe ý kiến chuyên gia và các bộ, ngành liên quan, đặc biệt là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Nội vụ và Bộ Ngoại giao để hoàn thiện nội dung dự thảo bảo đảm đồng bộ, chặt chẽ, phù hợp thực tiễn./.

Hoàng Trung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Chiều ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với các đơn vị có liên quan về việc triển khai Trang Thông tin điện tử Hiến kế xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới trên Cổng Pháp luật quốc gia (Trang Hiến kế).
Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1774/QĐ-TTg ngày 14/9/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (Kế hoạch). Việc ban hành Kế hoạch nhằm bảo đảm Luật được triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất và hiệu quả; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính thực chất trong tổ chức thi hành pháp luật.
Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hôn nhân và gia đình, ly thân pháp lý cấu thành cơ chế mà theo đó, các bên vợ chồng được phép sống riêng nhưng vẫn duy trì giá trị pháp lý của hôn nhân, gắn với các quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng. Tại Việt Nam, dù trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, song, ly thân hiện chưa được pháp luật điều chỉnh, làm cho các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng trong thời gian ly thân thiếu căn cứ pháp lý để xác định. Khoảng trống pháp lý này tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cũng như của chủ thể thứ ba do thiếu biện pháp pháp lý bảo đảm tương xứng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ khoảng trống pháp lý thông qua các số liệu thực tế, kinh nghiệm quốc tế và nền tảng lý luận về quyền con người, từ đó, đề xuất xây dựng chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Đề xuất mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Đề xuất mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Chiều ngày 11/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: