Thứ tư 11/03/2026 23:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn - Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện

Các yếu tố được xét đến khi phân chia tài sản chung của vợ chồng được quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, về cơ bản, bảo đảm được quyền lợi của các bên, thể hiện tính nhân văn của pháp luật, tuy nhiên, việc vận dụng các quy định này trên thực tế còn gặp những bất cập, vướng mắc, cần được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng hơn.

Tóm tắt: Các yếu tố được xét đến khi phân chia tài sản chung của vợ chồng được quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, về cơ bản, bảo đảm được quyền lợi của các bên, thể hiện tính nhân văn của pháp luật, tuy nhiên, việc vận dụng các quy định này trên thực tế còn gặp những bất cập, vướng mắc, cần được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng hơn.

Abstract: The factors to be considered when piding the common property of husband and wife are specified in Clause 2, Article 59 of the Law on Marriage and Family of 2014, basically, ensuring the interests of the parties, showing humanity of the law. However, the application of these provisions in practice still encounters inadequacies and problems, which need more specific and clearer guidance.

Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn đã có những bước tiến đáng kể so với trước đây. Việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định cụ thể hơn, trong đó, xác định các yếu tố được xét đến khi phân chia tài sản chung của vợ chồng. Mặc dù vậy, việc áp dụng những quy định này trên thực tế vẫn còn khó khăn, vướng mắc nhất định, do đó, cần có quy định hướng dẫn cụ thể hơn.
Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Thông tư liên tịch số 01), về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, tuy nhiên, có xét đến các yếu tố sau nhằm xác định sự chênh lệch về tài sản mà vợ, chồng được chia (nếu có): Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng.
Về cơ bản, những yếu tố xét đến khi phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01 đã bảo đảm được quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng khi phân chia tài sản, tuy nhiên, quy định này còn mang tính chung chung, khái quát, đặc biệt là việc xác định công sức đóng góp của vợ, chồng và xác định lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, gây khó khăn cho thẩm phán khi đưa ra quyết định. Bên cạnh đó, yếu tố “bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” được giải thích tại Thông tư liên tịch số 01 chưa thực sự phù hợp với tinh thần của khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
1. Về xác định công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung
Điều 7 Thông tư liên tịch số 01 giải thích: “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn”. Nếu như việc đóng góp bằng tài sản riêng, thu nhập còn có khả năng xác định được thì việc xác định đóng góp vào công việc gia đình và công sức lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung gần như không thể thực hiện được trên thực tế, bởi đây là yếu tố trừu tượng, khó định lượng.
Đối với khái niệm “công việc gia đình”, đây là một khái niệm mở, nên khó có thể đưa ra những trường hợp cụ thể, do đó, khó có thể áp dụng trên thực tế. Hơn nữa, nhiều công việc có thể được xem là công việc gia đình và không thể đưa ra mức độ quan trọng của từng công việc nên dẫn đến một thực tế là không thể xác định được bên nào có đóng góp nhiều hơn vào công việc gia đình. Chưa kể đến trường hợp, dù không trực tiếp làm những công việc gia đình nhưng vợ, chồng thuê người để làm, thì có được coi là có đóng góp vào việc gia đình hay không? Chính vì pháp luật đưa ra yếu tố phân chia tài sản quá mở và khó xác định nên trong các bản án, “hiếm” có Tòa án nào lại nêu căn cứ này để phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Có quan điểm cho rằng, việc xác định công sức đóng góp nêu trên mới chỉ mang tính chất định tính chứ không có một định lượng rõ ràng dẫn đến cách hiểu, cách áp dụng không thống nhất[1].
Theo quan điểm của tác giả, tuy còn những vướng mắc nhất định khi áp dụng trên thực tế, việc quy định công việc gia đình là một trong các yếu tố được xét đến khi phân chia tài sản chung của vợ chồng đã bảo đảm được quyền lợi của người phụ nữ, thể hiện được tính nhân văn của pháp luật, cho thấy sự tiến bộ trong công tác xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, để quy định này được áp dụng một cách hiệu quả trên thực tế, pháp luật cần quy định rõ yếu tố xác định bên nào có đóng góp vào công việc gia đình nhiều hơn, cụ thể như sau:
Một là, cần đưa ra phạm vi cụ thể cho “công việc gia đình”. Bộ luật Lao động năm 2020 khi quy định về lao động giúp việc trong gia đình có đề cập đến các công việc gia đình bao gồm: Công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại. Vì vậy, cần nghiên cứu, đưa ra phạm vi của “công việc gia đình” phù hợp với quy định của Bộ luật Lao động năm 2020.
Hai là, khi xét đến yếu tố “công việc gia đình” khi phân chia tài sản cần căn cứ vào thời gian đóng góp vào công việc gia đình. Đây là yếu tố có thể xác định được trên thực tế.
Ba là, cần quy định việc đóng góp vào công việc gia đình có thể được vợ, chồng thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp. Đóng góp trực tiếp được hiểu là sử dụng trực tiếp công sức của vợ, chồng đóng góp vào công việc gia đình; đóng góp gián tiếp được hiểu là sử dụng tài sản riêng, công sức của mình để tìm kiếm sự hỗ trợ đối với công việc gia đình (ví dụ như sử dụng tài sản riêng để thuê giúp việc gia đình hoặc dành thời gian để tìm kiếm giúp việc gia đình…). Quy định này sẽ bảo đảm được sự công bằng trong việc xác định công sức đóng góp vào công việc gia đình.
Tương tự như việc xác định đóng góp của vợ, chồng vào công việc gia đình, việc xác định công sức trong việc duy trì, phát triển khối tài sản chung của vợ, chồng cũng gặp những vướng mắc nhất định.
Công sức trong việc tạo lập tài sản chung thường là một quá trình ngắn hạn. Vì vậy, để xem xét ai là người có công nhiều hơn trong việc tạo lập tài sản không gặp quá nhiều trở ngại. Ví dụ: Đối với việc tạo lập tài sản chung là nhà ở, có thể tính đến công sức trong việc tìm kiếm nhà, tham gia giao dịch mua bán nhà (loại nhà ở đã có sẵn) hoặc công sức xây nhà, tìm kiếm nhân công xây dựng, trông coi, đôn đốc việc thi công… (loại nhà xây dựng mới); đối với việc tạo lập quyền sử dụng đất có thể kể đến việc khai khẩn, bồi đắp, tìm kiếm, tham gia giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất… Tuy nhiên, khác việc tạo lập tài sản, việc duy trì, phát triển khối tài sản chung là một quá trình lâu dài. Dù rằng nếu không có sự bảo quản, giữ gìn thì tài sản có thể sẽ không còn hoặc bị giảm giá trị, do có sự quản lý nên tài sản vẫn còn và giữ được giá trị (một phần hoặc toàn bộ) hoặc làm tăng giá trị của tài sản (giá trị tài sản có thể được tăng theo tự nhiên, do trượt giá hoặc do người quản lý có công cải tạo làm giá trị tài sản tăng giá trị) và việc pháp luật quy định đây là căn cứ để phân chia tài sản chung là có cơ sở nhưng việc xác định cụ thể và quy đổi công sức này để làm căn cứ giải quyết tranh chấp về tài sản vẫn gặp nhiều khó khăn. Ví dụ như, trong trường hợp tài sản là căn nhà, có nhiều công việc được xem như là bảo quản, giữ gìn ngôi nhà như sửa chữa, sơn tường, quét dọn… khó có cặp vợ chồng nào lưu lại bằng chứng để chứng minh mình đã thực hiện những công việc này và thông thường thì cả vợ và chồng đều đóng góp công sức vào việc duy trì và phát triển tài sản.
Một nội dung nữa cần phải đề cập tới khi xác định công sức đóng góp là quy định “người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm”. Tác giả cho rằng, việc chăm sóc con, gia đình chỉ có thể đạt đến một mức giá trị nhất định và không thể lúc nào cũng đặt ngang bằng với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Hơn nữa, dù vợ, chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình nhưng không phải người còn lại không làm gì để chăm sóc con, gia đình, vì trên thực tế, ngoài thời gian đi làm thì đa phần vợ, chồng đều về nhà để chăm sóc con, lo một số công việc gia đình nhất định. Ngoài ra, có trường hợp những người đi làm phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, có trường hợp phải mất cực kỳ nhiều thời gian, công sức để kiếm được thu nhập tốt đóng góp vào khối tài sản chung. Bên cạnh đó, khái niệm “ở nhà chăm sóc con, gia đình” là một khái niệm trừu tượng, khó xác định.
Vì vậy, việc quy đổi ngang bằng công sức của người ở nhà và người đi làm là quy định không phù hợp với thực tế, đồng thời, pháp luật về hôn nhân và gia đình đã quy định nguyên tắc chung là chia đôi tài sản nên việc quy định công sức đóng góp của người đi làm ngang bằng với người ở nhà là không cần thiết. Theo đó, pháp luật nên quy định cụ thể để các thẩm phán có thể linh hoạt hơn trong việc quyết định dựa trên một số căn cứ như: Tính chất, thu nhập từ công việc; thời gian dành cho con, gia đình của vợ, chồng.
2. Về xác định lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ hoặc chồng
Một vấn đề khác cũng cần được xem xét khi phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, đó là việc quy định “lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”. Quy định này là một trong những căn cứ để xác định tỷ lệ tài sản phân chia. Nhưng trên thực tế rất khó để áp dụng, bởi lẽ:
- Gần như rất khó có thể xác định cụ thể vợ hay chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản vì thực tế trong mối quan hệ vợ chồng có rất nhiều quyền và nghĩa vụ đối với nhau, đặc biệt những quyền, nghĩa vụ về nhân thân[2] như “thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”[3]. Khi hôn nhân đổ vỡ, lẽ dĩ nhiên là trước đó đã xảy ra những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng và việc thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau… thường không xảy ra. Lúc này, riêng việc xác định ai không quan tâm, chăm sóc ai nhiều hơn đã vô cùng nan giải, bởi đây là những yếu tố trừu tượng, định tính, chưa kể đến việc đặt yếu tố này lên “bàn cân” với những quyền và nghĩa vụ khác.
- Về vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản, khoản 3 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường. Theo đó, có thể thấy, lỗi trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sẽ dẫn đến vấn đề bồi thường dân sự. Như vậy, cùng một hành vi lỗi vừa phải chịu trách nhiệm pháp lý về dân sự lại vừa phải chịu thiệt thòi khi chia tài sản. Về bản chất, việc bồi thường đã được xem lại bù đắp cho phần lỗi mà vợ hoặc chồng gây ra đối với bên còn lại nên có quan điểm cho rằng quy định như vậy là chưa hoàn toàn hợp tình, hợp lý.
Thông tư liên tịch số 01 đưa ra ví dụ để giải thích cụ thể khái niệm “lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” như sau: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên. Ví dụ nêu trên chỉ nhắc đến các yếu tố hiện hữu và dễ xác định. Nhưng nếu đặt trường hợp người vợ cũng có lỗi dẫn đến hành vi bạo lực gia đình, phá tán tài sản của người chồng hoặc những lỗi khác nhưng khó xác định hơn dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng như xúc phạm danh dự, nhân phẩm, không tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của chồng thì sẽ giải quyết như thế nào? Trên thực tế, những lỗi này khó để xác định và khó thu thập chứng cứ.
Nhìn chung, quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về xác định yếu tố lỗi trong phân chia tài sản của vợ, chồng còn chung chung, chưa nêu rõ được các tiêu chí nhận diện lỗi, lỗi nào là lỗi có thể được xem xét để khấu trừ một phần tài sản khi chia và cách thức để khấu trừ trong khối tài sản chung như thế nào? Do đó, trong quá trình giải quyết các vụ án, Tòa án các cấp khi áp dụng pháp luật vào giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn còn gặp nhiều lúng túng khi phân chia và nhiều trường hợp còn chưa mạnh dạn để áp dụng[4].
Chính bởi sự bất cập trong quy định “lỗi” là một trong những căn cứ được xem xét để phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, có quan điểm cho rằng, nên bãi bỏ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về “lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định”. Đồng thời, bãi bỏ điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01 và ví dụ hướng dẫn điểm khoản này, cụ thể bãi bỏ hướng dẫn: “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn và bãi bỏ ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên[5].
Theo quan điểm của tác giả, mặc dù có những hạn chế, vướng mắc nhất định, tuy nhiên, không nhất thiết phải bỏ quy định này, vì trên thực tế, lỗi của các bên thường là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ly hôn nên cần phải xem xét đến yếu tố này khi phân chia tài sản để bảo đảm quyền lợi cho bên bị ảnh hưởng nhiều hơn. Đối với quan điểm cho rằng, người có lỗi đã phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình và các luật liên quan khác nên không cần thiết xét đến yếu tố lỗi khi phân chia tài sản, tác giả cho rằng, trường hợp lỗi ở đây cần phải được hiểu có tác động rộng hơn, không chỉ đến cá nhân bị chịu tác động mà còn ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân, kéo theo đó là các hệ lụy xã hội khác như sự phát triển của con cái, gia đình hai bên. Vì vậy, việc quy định lỗi là một trong các yếu tố xét đến khi phân chia tài sản là hợp lý và cần thiết.
Tại Hoa Kỳ, đa phần các tiểu bang đều chọn cách chia tài sản theo tỷ lệ thay vì chia đôi tuyệt đối (chỉ có 09 tiểu bang quy định cách chia bình đẳng 50/50). Thẩm phán được linh hoạt xét đến các yếu tố để phân chia tài sản chung của vợ chồng và yếu tố lỗi là một trong những yếu tố được xem xét, ảnh hưởng đến tỷ lệ phân chia tài sản (kể cả ở những bang cho phép ly hôn không cần chứng minh lỗi).
Từ những phân tích, luận giải nêu trên, tác giả cho rằng, pháp luật chỉ nên xem xét đến những lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trực tiếp dẫn đến ly hôn từ đó làm căn cứ phân chia tài sản. Trong các quyết định về việc giải quyết ly hôn của Tòa án đều có phần nguyên nhân dẫn đến ly hôn và chỉ nêu những nguyên nhân chính như hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy... vì thường lỗi vi phạm này mới có thể dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, không thể cứu vãn. Chính vì lẽ đó, nếu pháp luật quy định chỉ xét đến những lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trực tiếp dẫn đến ly hôn làm căn cứ để phân chia tài sản thì sẽ hợp lý và có thể áp dụng được trên thực tế. Để vừa bảo đảm sự công bằng cho các bên, vừa bớt gặp khó khăn trong việc xác định lỗi của vợ, chồng để phân chia tài sản, tác giả đề xuất sửa đổi điểm khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trực tiếp dẫn đến ly hôn”, đồng thời, sửa đổi điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01 như sau: “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trực tiếp dẫn đến ly hôn là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ly hôn”.
3. Về yếu tố bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập
Theo tinh thần tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các yếu tố được đưa ra nhằm xác định phần chênh lệch giá trị tài sản của vợ, chồng nhận được, tuy nhiên, theo điểm c khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01 giải thích điểm c khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì quy định chỉ đặt ra nhằm bảo đảm việc vợ, chồng sẽ nhận tài sản như thế nào để bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh, bên còn lại phải trả phần chênh lệch giá trị tài sản, chứ không đặt ra vấn đề chia cho bên nào giá trị tài sản nhiều hơn. Do đó, theo tác giả, việc đặt yếu tố này vào quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là chưa phù hợp. Cần cân nhắc tách điểm c khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thành một khoản riêng tại Điều 59 quy định về một trong các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn, đồng thời, tách điểm c khoản 4 Điều 7 tại Thông tư liên tịch số 01 thành một khoản riêng tại Điều 7.
Ngoài yếu tố được xét đến khi phân chia tài sản chung của vợ chồng được quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần xem xét bổ sung yếu tố về quyền nuôi con để tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, cụ thể, người nào nuôi con sau khi ly hôn sẽ được hưởng phần tài sản nhiều hơn.
Quy định về tỷ lệ phân chia tài sản có xét đến các yếu tố liên quan đến con chung được pháp luật tại nhiều quốc gia ghi nhận, tuy nhiên, tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yếu tố này chưa được thể hiện rõ nét mà chỉ được thể hiện qua nguyên tắc chung tại khoản 5 Điều 59 “bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, người vợ hoặc chồng nào nuôi con sẽ được hưởng phần tài sản nhiều hơn; tại Malaysia, khi Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng sẽ xét đến nhu cầu của con chưa thành niên để xác định tỷ lệ hợp lý[6]; tại Úc, các khoản hỗ trợ cho con chung trong tương lai được tính đến khi xác định tỷ lệ phân chia tài sản chung của vợ chồng[7].
Đây là quy định mang tính nhân văn, phù hợp với thực tiễn và bảo đảm nguyên tắc tại khoản 5 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khi ly hôn, lợi ích của con là vấn đề cần phải được xem xét kĩ càng, đặc biệt là con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình vì ly hôn sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của con sau này, không chỉ về yếu tố tinh thần mà còn về yếu tố vật chất. Mặc dù, pháp luật đã có quy định về việc cấp dưỡng sau khi ly hôn nhưng thực tế, việc một mình trực tiếp chăm sóc con vẫn tốn nhiều công sức hơn so với việc cấp dưỡng, nên theo tác giả, cần bổ sung yếu tố “người được quyền nuôi con” vào khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nhìn chung, quy định về các yếu tố được xét đến khi phân chia tài sản chung của vợ chồng tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01 đã tương đối chi tiết hơn so với các quy định trước đây, giúp các thẩm phán dễ dàng hơn trong việc áp dụng pháp luật, bảo đảm được sự công bằng cho các bên khi tiến hành phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các quy định hiện hành vẫn cần phải tiếp tục được nghiên cứu, xem xét sửa đổi bảo đảm phù hợp hơn với thực tiễn xét xử. Qua đó, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về hôn nhân, gia đình nói chung và các quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nói riêng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác triển khai, thực thi pháp luật về hôn nhân và gia đình trên thực tế.

ThS. Nguyễn Tùng
Bộ Khoa học và Công nghệ


[1]. Lê Hồng Hiển, Xác định, phân chia tài sản khi ly hôn: Một số bất cập và kiến nghị,
https://lsvn.vn/xac-dinh-phan-chia-tai-san-khi-ly-hon-mot-so-bat-cap-va-kien-nghi.html, truy cập ngày 17/01/2022.
[2]. Từ Điều 17 đến Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4]. Trương Thị Đông, Nguyễn Thị Hải An, Trao đổi về yếu tố lỗi trong phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, http://toaandaklak.gov.vn/trao-doi-nghiep-vu/trao-doi-ve-yeu-to-loi-trong-phan-chia-tai-san-chung-cua-vo-chong-khi-ly-hon-4936.html, truy cập ngày 17/01/2022.
[5]. Trương Thanh Hòa, Yếu tố lỗi ảnh hưởng đến tỉ lệ tài sản được chia khi vợ chồng ly hôn, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xay-dung-phat-luat/yeu-to-loi-anh-huong-den-ti-le-tai-san-duoc-chia-khi-vo-chong-ly-hon, truy cập ngày 17/01/2022
[6]. Khoản 2 Điều 58 Luật Gia đình Hồi giáo Malaysia.
[7]. Khoản 4 Điều 79 Luật Gia đình năm 1975 của Úc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: