Thứ ba 26/05/2026 05:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về thủ tục thay đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã công nhận về nguyên tắc việc chuyển đổi giới tính. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã ghi nhận hai quyền nhân thân liên quan đến xác định giới tính của công dân Việt Nam. Đó là quyền xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, đã gần 05 năm từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, việc thực hiện chuyển đổi giới tính về mặt pháp lý hay cụ thể hơn là vấn đề xác định lại giới tính trên giấy tờ tùy thân, giấy tờ có liên quan đến tài sản đăng ký quyền sở hữu… trên thực tế, vẫn chưa có một cơ chế hỗ trợ thực thi một cách rõ ràng và hiệu quả. Bài viết phân tích quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục thay đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới tại Việt Nam, trên cơ sở quan sát cách làm từ một số quốc gia khác trên thế giới, có sử dụng Lý thuyết pháp luật nữ quyền làm phương pháp luận để đánh giá các quy định pháp luật về bình đẳng giới, bên cạnh các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như phân tích, tổng hợp, bình luận.


Hiện nay, người đã chuyển giới từ nam sang nữ, hoặc từ nữ sang nam, có một cơ thể đã được can thiệp y tế, đang gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình vì hiện nay tại Việt Nam, họ vẫn đang có các giấy tờ pháp lý thể hiện giới tính khác với vẻ ngoài đã được chỉnh sửa (chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu, giấy khai sinh, hộ khẩu). Điều này dẫn tới việc nhiều quyền lợi về giới của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đơn cử như nhu cầu kết hôn hợp pháp[1], nhu cầu nuôi con nuôi chung cho hai vợ chồng[2], dẫn đến các hệ lụy như các quan hệ tình cảm (sự gắn bó về quyền và nghĩa vụ pháp lý tác động nhất định đến quan hệ tình cảm), quan hệ tài sản sẽ kém bền vững hơn những mối quan hệ được pháp luật thừa nhận và điều chỉnh.
Bài viết sẽ phân tích quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục thay đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới tại Việt Nam, trên cơ sở quan sát cách làm từ một số quốc gia khác trên thế giới, có sử dụng Lý thuyết pháp luật nữ quyền[3] làm phương pháp luận để đánh giá các quy định pháp luật về bình đẳng giới, bên cạnh các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như phân tích, tổng hợp, bình luận, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này.
1. Thực trạng quy định pháp luật của Việt Nam
Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) đã ghi nhận hai quyền nhân thân liên quan đến xác định giới tính của công dân Việt Nam. Đó là quyền xác định lại giới tính (Điều 36) và chuyển đổi giới tính (Điều 37).
Cụ thể, Điều 36 BLDS quy định cá nhân có quyền xác định lại giới tính trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính. Khi cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính rồi, họ có quyền và nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật và có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại. Điều này có nghĩa việc xác định lại giới tính chỉ được đặt ra khi bộ phận cơ thể dùng xác định giới tính có khuyết tật bẩm sinh hoặc hình dạng chưa đủ rõ để có thể xác định đúng.
Riêng đối với việc chuyển đổi giới tính được quy định tại Điều 37 thì được quy định khá chung chung khi tuyên bố rằng “việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật”. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật và có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi. Tuy BLDS không giải thích thêm nhưng có thể thấy, việc chuyển đổi giới tính chỉ có thể thực hiện khi có sự can thiệp của y học, giống như trường hợp của quyền xác định lại giới tính. Nhưng lý do, ranh giới và điều kiện thực hiện vẫn còn đang được BLDS bỏ ngỏ và giao về cho luật liên quan.
Tóm lại, cả hai điều luật trên đều cho phép cá nhân sử dụng biện pháp y học can thiệp để có thể tìm lại đúng giới tính theo nghĩa đồng nhất về giới giữa ý chí và thể xác mà bản thân họ mong muốn khao khát. Đây là một quy định hết sức nhân văn và tiến bộ, đáp ứng được khát vọng được chuyển đổi giới tính không chỉ về mặt sinh học mà còn về mặt pháp lý của cá nhân. Tuy nhiên, đã gần 05 năm từ ngày BLDS có hiệu lực, việc thực hiện chuyển đổi giới tính về mặt pháp lý hay cụ thể hơn là vấn đề xác định lại giới tính trên giấy tờ tùy thân, giấy tờ có liên quan đến tài sản đăng ký quyền sở hữu vẫn chưa được thực thi trên thực tế. Ngoài ra, một số quan hệ pháp luật gắn với nhân thân của người này cần được quan tâm giải quyết kèm theo, ví dụ như quan hệ hôn nhân, quan hệ cha con, mẹ con sau khi chuyển giới…
Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính đã được xây dựng từ năm 2017, nhưng hiện nay vẫn chỉ dừng lại ở mức dự thảo. Đồng thời, tại Dự thảo có quy định người chuyển đổi giới tính có nghĩa vụ thay đổi thông tin hộ tịch và các giấy tờ tùy thân sau khi đã chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, Dự thảo không quy định cụ thể phải thực hiện nghĩa vụ trên tại cơ quan hành chính là Ủy ban nhân dân hoặc là thực hiện tại cơ quan tư pháp là Tòa án.
Dưới lăng kính của Lý thuyết pháp luật nữ quyền, có thể thấy rằng, việc chuyển giới từ nam sang nữ hay từ nữ sang nam tại Việt Nam đang được pháp luật đối xử giống nhau giữa hai giới. Tuy nhiên, việc chuyển đổi giới tính hiện nay mới chỉ được ghi nhận về mặt lý thuyết mang tính tuyên ngôn, mà chưa được triển khai trên thực tế, ảnh hưởng đến việc phát triển tự do về giới của cá nhân. Dù chuyển đổi giới tính từ nữ sang nam, hay từ nam sang nữ, theo tác giả, việc thực thi quyền vẫn phải gắn với khía cạnh bình đẳng giới, đối tượng hướng tới của Lý thuyết pháp luật nữ quyền mà mục tiêu cao nhất là tiến tới một xã hội công bằng, tiến bộ, bảo đảm sự phát triển toàn vẹn về giới.
2. Giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Trên thế giới hiện có ba cách cơ bản để thực hiện quyền đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới: Thủ tục hành chính (Bồ Đào Nha), thủ tục tư pháp (Bang Vernont - Hoa Kỳ, Hà Lan) và thủ tục tuyên bố thực tế (Na Uy)[4]. Cụ thể:
Theo Điều 2 và Điều 3 Luật Nhận dạng giới tính 2010[5] của Bồ Đào Nha thì việc thay đổi có thể được yêu cầu bởi cá nhân có quốc tịch Bồ Đào Nha, đủ tuổi trưởng thành không bị hạn chế năng lực vì lý do “có bất thường về tâm thần” và được chẩn đoán có rối loạn nhận dạng giới. Đồng thời, yêu cầu có thể được thực hiện ở bất kỳ cơ quan hộ tịch nào với điều kiện cần cung cấp được các giấy tờ có liên quan.
Theo Luật của Bang Vernont - Hoa Kỳ, việc thay đổi tên và giới tính trên giấy chứng sinh, thẻ căn cước và các giấy tờ định danh khác được thực hiện bằng cách nộp đơn yêu cầu (gọi là Order Changing Name) tại Tòa án. Một trong số các giấy tờ nộp kèm là thư xác nhận có chữ ký của bác sĩ có chuyên môn. Sau khi Tòa án ban hành phán quyết Order Changing Name, người yêu cầu có thể thay đổi thông tin trên các giấy tờ khác của họ một cách dễ dàng và được khuyến khích.
Tại Điều 1:28 Bộ luật Dân sự Hà Lan[6] quy định: Mọi công dân Hà Lan tin rằng mình có giới tính khác với giới tính được ghi nhận trên giấy khai sinh, đã trải qua can thiệp y học về giới tính mong muốn trong chừng mực được chấp nhận về mặt thể chất và tinh thần từ cơ quan y tế. Nếu sau khi can thiệp y học, họ không còn khả năng sinh sản tự nhiên thì có thể yêu cầu Tòa án cấp Quận thay đổi ghi chú về giới tính (Dutch Civil Law, Điều 1:28).
Luật Chuyển đổi giới Na Uy (2016)[7] cho phép trẻ em từ 06 tuổi trở lên có quyền chuyển đổi giới tính theo pháp luật mà không cần phẫu thuật chuyển giới, đồng thời cũng không cần thiết phải tham dự những buổi tư vấn tâm lý như trước đây. Thực hiện bằng cách đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như một thủ tục tuyên bố thực tế (“a simple “self-declaration” procedure”). Thực chất, thủ tục này cũng có thể được xem là thủ tục hành chính do được thực hiện thông qua việc đăng ký tại cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, thủ tục này lại đơn giản hơn thủ tục hành chính được quy định tại Bồ Đào Nha do không cần chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, mà chỉ cần bằng hình thức tuyên bố về giới tính của họ một cách công khai trước cơ quan nhà nước để được thay đổi thông tin hộ tịch về giới tính.
3. Đề xuất về thủ tục thay đổi thông tin hộ tịch cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm thực tế của các nước đã nêu, đối chiếu với tình hình kinh tế - xã hội cũng như pháp luật Việt Nam, nhóm tác giả đề xuất quan điểm giải quyết việc thay đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới bằng thủ tục tư pháp như giải quyết một việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019 (BLTTDS) do một số thuận lợi như sau:
Thứ nhất, trong bối cảnh chưa có hành lang pháp lý cụ thể cho vấn đề này thì cần nhìn nhận yêu cầu chuyển đổi giới tính về mặt pháp lý như một yêu cầu về việc dân sự. Đây có thể là giải pháp có khả năng áp dụng trên thực tế cả trong hiện tại lẫn tương lai. Cụ thể, đây có thể được xem là yêu cầu khác về dân sự được quy định tại khoản 10 Điều 27 BLTTDS và Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (theo khoản 2 Điều 4 BLTTDS). Đồng thời, khi giải quyết Tòa án có thể áp dụng Mục 3 BLTTDS về giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng.
Thứ hai, các quan hệ pháp luật gắn với nhân thân của người chuyển giới hoàn toàn có thể được Tòa án giải quyết một cách triệt để trong quá trình giải quyết việc dân sự này. Cụ thể, Tòa án có thể triệu tập những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như vợ, chồng, con, cha, mẹ… của họ, để từ đó giải quyết các quan hệ về hôn nhân gia đình, quyền nhân thân và tài sản phù hợp với yêu cầu chuyển đổi giới tính và thay đổi họ tên (nếu có).
Như vậy, trên cơ sở quyết định của Tòa án, người chuyển giới có thể dễ dàng thực hiện các thủ tục về hành chính để thay đổi các giấy tờ tùy thân cho phù hợp với tên gọi và giới tính đã được Tòa án công nhận.

PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung
ThS. Mai Hoàng Phước
Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh




[1]. Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Như vậy, với thông tin hộ tịch không thay đổi sau khi can thiệp y tế về hình thể bên ngoài, người chuyển giới không thể đăng ký kết hôn hợp pháp với người khác giới về ngoại hình để hình thành một gia đình hợp pháp.
[2]. Khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Điều này có nghĩa là, nếu người chuyển giới không được kết hôn hợp pháp với người khác giới về ngoại hình, thì họ vẫn có quyền nhận nuôi con nuôi. Tuy nhiên, đây chỉ là con nuôi riêng của người chuyển giới, chứ không phải là con nuôi chung của cả hai vợ chồng (do quan hệ vợ chồng của họ không được pháp luật thừa nhận).
[3]. Lý thuyết pháp luật nữ quyền đấu tranh cho sự bình đẳng giữa nam và nữ về quyền và nghĩa vụ trong mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội (N Levit, RRM Verchick, M Minow 2016).
[4]. Vũ Công Giao (2018), Khái quát pháp luật về chuyển đổi giới tính trên thế giới và ở Việt Nam. Hà Nội, Vietnam: iSEE.
[5]. Bồ Đào Nha, Quốc hội, Luật Nhận dạng giới tính, https://tgeu.org/portugal-gender-identity-law.
[6]. Hà Lan, Quốc hội, Bộ luật Dân sự, http://www.dutchcivillaw.com/civilcodebook01.htm.
[7]. Dag Robin Simonsen, Senior Advisor, Norwegian Ministry of Children and Equality, The Norwegian gender recognition act - and policies on gender identity, gender expression and intersex, https://www.ilga-europe.org/resources/news/latest-news/norway-introduces-self-determination.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Theo dõi chúng tôi trên: