Thứ tư 04/03/2026 13:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về thủ tục thay đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã công nhận về nguyên tắc việc chuyển đổi giới tính. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã ghi nhận hai quyền nhân thân liên quan đến xác định giới tính của công dân Việt Nam. Đó là quyền xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, đã gần 05 năm từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, việc thực hiện chuyển đổi giới tính về mặt pháp lý hay cụ thể hơn là vấn đề xác định lại giới tính trên giấy tờ tùy thân, giấy tờ có liên quan đến tài sản đăng ký quyền sở hữu… trên thực tế, vẫn chưa có một cơ chế hỗ trợ thực thi một cách rõ ràng và hiệu quả. Bài viết phân tích quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục thay đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới tại Việt Nam, trên cơ sở quan sát cách làm từ một số quốc gia khác trên thế giới, có sử dụng Lý thuyết pháp luật nữ quyền làm phương pháp luận để đánh giá các quy định pháp luật về bình đẳng giới, bên cạnh các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như phân tích, tổng hợp, bình luận.


Hiện nay, người đã chuyển giới từ nam sang nữ, hoặc từ nữ sang nam, có một cơ thể đã được can thiệp y tế, đang gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình vì hiện nay tại Việt Nam, họ vẫn đang có các giấy tờ pháp lý thể hiện giới tính khác với vẻ ngoài đã được chỉnh sửa (chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu, giấy khai sinh, hộ khẩu). Điều này dẫn tới việc nhiều quyền lợi về giới của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đơn cử như nhu cầu kết hôn hợp pháp[1], nhu cầu nuôi con nuôi chung cho hai vợ chồng[2], dẫn đến các hệ lụy như các quan hệ tình cảm (sự gắn bó về quyền và nghĩa vụ pháp lý tác động nhất định đến quan hệ tình cảm), quan hệ tài sản sẽ kém bền vững hơn những mối quan hệ được pháp luật thừa nhận và điều chỉnh.
Bài viết sẽ phân tích quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục thay đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới tại Việt Nam, trên cơ sở quan sát cách làm từ một số quốc gia khác trên thế giới, có sử dụng Lý thuyết pháp luật nữ quyền[3] làm phương pháp luận để đánh giá các quy định pháp luật về bình đẳng giới, bên cạnh các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như phân tích, tổng hợp, bình luận, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này.
1. Thực trạng quy định pháp luật của Việt Nam
Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) đã ghi nhận hai quyền nhân thân liên quan đến xác định giới tính của công dân Việt Nam. Đó là quyền xác định lại giới tính (Điều 36) và chuyển đổi giới tính (Điều 37).
Cụ thể, Điều 36 BLDS quy định cá nhân có quyền xác định lại giới tính trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính. Khi cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính rồi, họ có quyền và nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật và có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại. Điều này có nghĩa việc xác định lại giới tính chỉ được đặt ra khi bộ phận cơ thể dùng xác định giới tính có khuyết tật bẩm sinh hoặc hình dạng chưa đủ rõ để có thể xác định đúng.
Riêng đối với việc chuyển đổi giới tính được quy định tại Điều 37 thì được quy định khá chung chung khi tuyên bố rằng “việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật”. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật và có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi. Tuy BLDS không giải thích thêm nhưng có thể thấy, việc chuyển đổi giới tính chỉ có thể thực hiện khi có sự can thiệp của y học, giống như trường hợp của quyền xác định lại giới tính. Nhưng lý do, ranh giới và điều kiện thực hiện vẫn còn đang được BLDS bỏ ngỏ và giao về cho luật liên quan.
Tóm lại, cả hai điều luật trên đều cho phép cá nhân sử dụng biện pháp y học can thiệp để có thể tìm lại đúng giới tính theo nghĩa đồng nhất về giới giữa ý chí và thể xác mà bản thân họ mong muốn khao khát. Đây là một quy định hết sức nhân văn và tiến bộ, đáp ứng được khát vọng được chuyển đổi giới tính không chỉ về mặt sinh học mà còn về mặt pháp lý của cá nhân. Tuy nhiên, đã gần 05 năm từ ngày BLDS có hiệu lực, việc thực hiện chuyển đổi giới tính về mặt pháp lý hay cụ thể hơn là vấn đề xác định lại giới tính trên giấy tờ tùy thân, giấy tờ có liên quan đến tài sản đăng ký quyền sở hữu vẫn chưa được thực thi trên thực tế. Ngoài ra, một số quan hệ pháp luật gắn với nhân thân của người này cần được quan tâm giải quyết kèm theo, ví dụ như quan hệ hôn nhân, quan hệ cha con, mẹ con sau khi chuyển giới…
Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính đã được xây dựng từ năm 2017, nhưng hiện nay vẫn chỉ dừng lại ở mức dự thảo. Đồng thời, tại Dự thảo có quy định người chuyển đổi giới tính có nghĩa vụ thay đổi thông tin hộ tịch và các giấy tờ tùy thân sau khi đã chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, Dự thảo không quy định cụ thể phải thực hiện nghĩa vụ trên tại cơ quan hành chính là Ủy ban nhân dân hoặc là thực hiện tại cơ quan tư pháp là Tòa án.
Dưới lăng kính của Lý thuyết pháp luật nữ quyền, có thể thấy rằng, việc chuyển giới từ nam sang nữ hay từ nữ sang nam tại Việt Nam đang được pháp luật đối xử giống nhau giữa hai giới. Tuy nhiên, việc chuyển đổi giới tính hiện nay mới chỉ được ghi nhận về mặt lý thuyết mang tính tuyên ngôn, mà chưa được triển khai trên thực tế, ảnh hưởng đến việc phát triển tự do về giới của cá nhân. Dù chuyển đổi giới tính từ nữ sang nam, hay từ nam sang nữ, theo tác giả, việc thực thi quyền vẫn phải gắn với khía cạnh bình đẳng giới, đối tượng hướng tới của Lý thuyết pháp luật nữ quyền mà mục tiêu cao nhất là tiến tới một xã hội công bằng, tiến bộ, bảo đảm sự phát triển toàn vẹn về giới.
2. Giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Trên thế giới hiện có ba cách cơ bản để thực hiện quyền đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới: Thủ tục hành chính (Bồ Đào Nha), thủ tục tư pháp (Bang Vernont - Hoa Kỳ, Hà Lan) và thủ tục tuyên bố thực tế (Na Uy)[4]. Cụ thể:
Theo Điều 2 và Điều 3 Luật Nhận dạng giới tính 2010[5] của Bồ Đào Nha thì việc thay đổi có thể được yêu cầu bởi cá nhân có quốc tịch Bồ Đào Nha, đủ tuổi trưởng thành không bị hạn chế năng lực vì lý do “có bất thường về tâm thần” và được chẩn đoán có rối loạn nhận dạng giới. Đồng thời, yêu cầu có thể được thực hiện ở bất kỳ cơ quan hộ tịch nào với điều kiện cần cung cấp được các giấy tờ có liên quan.
Theo Luật của Bang Vernont - Hoa Kỳ, việc thay đổi tên và giới tính trên giấy chứng sinh, thẻ căn cước và các giấy tờ định danh khác được thực hiện bằng cách nộp đơn yêu cầu (gọi là Order Changing Name) tại Tòa án. Một trong số các giấy tờ nộp kèm là thư xác nhận có chữ ký của bác sĩ có chuyên môn. Sau khi Tòa án ban hành phán quyết Order Changing Name, người yêu cầu có thể thay đổi thông tin trên các giấy tờ khác của họ một cách dễ dàng và được khuyến khích.
Tại Điều 1:28 Bộ luật Dân sự Hà Lan[6] quy định: Mọi công dân Hà Lan tin rằng mình có giới tính khác với giới tính được ghi nhận trên giấy khai sinh, đã trải qua can thiệp y học về giới tính mong muốn trong chừng mực được chấp nhận về mặt thể chất và tinh thần từ cơ quan y tế. Nếu sau khi can thiệp y học, họ không còn khả năng sinh sản tự nhiên thì có thể yêu cầu Tòa án cấp Quận thay đổi ghi chú về giới tính (Dutch Civil Law, Điều 1:28).
Luật Chuyển đổi giới Na Uy (2016)[7] cho phép trẻ em từ 06 tuổi trở lên có quyền chuyển đổi giới tính theo pháp luật mà không cần phẫu thuật chuyển giới, đồng thời cũng không cần thiết phải tham dự những buổi tư vấn tâm lý như trước đây. Thực hiện bằng cách đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như một thủ tục tuyên bố thực tế (“a simple “self-declaration” procedure”). Thực chất, thủ tục này cũng có thể được xem là thủ tục hành chính do được thực hiện thông qua việc đăng ký tại cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, thủ tục này lại đơn giản hơn thủ tục hành chính được quy định tại Bồ Đào Nha do không cần chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, mà chỉ cần bằng hình thức tuyên bố về giới tính của họ một cách công khai trước cơ quan nhà nước để được thay đổi thông tin hộ tịch về giới tính.
3. Đề xuất về thủ tục thay đổi thông tin hộ tịch cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm thực tế của các nước đã nêu, đối chiếu với tình hình kinh tế - xã hội cũng như pháp luật Việt Nam, nhóm tác giả đề xuất quan điểm giải quyết việc thay đổi thông tin hộ tịch cho người chuyển giới bằng thủ tục tư pháp như giải quyết một việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019 (BLTTDS) do một số thuận lợi như sau:
Thứ nhất, trong bối cảnh chưa có hành lang pháp lý cụ thể cho vấn đề này thì cần nhìn nhận yêu cầu chuyển đổi giới tính về mặt pháp lý như một yêu cầu về việc dân sự. Đây có thể là giải pháp có khả năng áp dụng trên thực tế cả trong hiện tại lẫn tương lai. Cụ thể, đây có thể được xem là yêu cầu khác về dân sự được quy định tại khoản 10 Điều 27 BLTTDS và Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (theo khoản 2 Điều 4 BLTTDS). Đồng thời, khi giải quyết Tòa án có thể áp dụng Mục 3 BLTTDS về giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng.
Thứ hai, các quan hệ pháp luật gắn với nhân thân của người chuyển giới hoàn toàn có thể được Tòa án giải quyết một cách triệt để trong quá trình giải quyết việc dân sự này. Cụ thể, Tòa án có thể triệu tập những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như vợ, chồng, con, cha, mẹ… của họ, để từ đó giải quyết các quan hệ về hôn nhân gia đình, quyền nhân thân và tài sản phù hợp với yêu cầu chuyển đổi giới tính và thay đổi họ tên (nếu có).
Như vậy, trên cơ sở quyết định của Tòa án, người chuyển giới có thể dễ dàng thực hiện các thủ tục về hành chính để thay đổi các giấy tờ tùy thân cho phù hợp với tên gọi và giới tính đã được Tòa án công nhận.

PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung
ThS. Mai Hoàng Phước
Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh




[1]. Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Như vậy, với thông tin hộ tịch không thay đổi sau khi can thiệp y tế về hình thể bên ngoài, người chuyển giới không thể đăng ký kết hôn hợp pháp với người khác giới về ngoại hình để hình thành một gia đình hợp pháp.
[2]. Khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Điều này có nghĩa là, nếu người chuyển giới không được kết hôn hợp pháp với người khác giới về ngoại hình, thì họ vẫn có quyền nhận nuôi con nuôi. Tuy nhiên, đây chỉ là con nuôi riêng của người chuyển giới, chứ không phải là con nuôi chung của cả hai vợ chồng (do quan hệ vợ chồng của họ không được pháp luật thừa nhận).
[3]. Lý thuyết pháp luật nữ quyền đấu tranh cho sự bình đẳng giữa nam và nữ về quyền và nghĩa vụ trong mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội (N Levit, RRM Verchick, M Minow 2016).
[4]. Vũ Công Giao (2018), Khái quát pháp luật về chuyển đổi giới tính trên thế giới và ở Việt Nam. Hà Nội, Vietnam: iSEE.
[5]. Bồ Đào Nha, Quốc hội, Luật Nhận dạng giới tính, https://tgeu.org/portugal-gender-identity-law.
[6]. Hà Lan, Quốc hội, Bộ luật Dân sự, http://www.dutchcivillaw.com/civilcodebook01.htm.
[7]. Dag Robin Simonsen, Senior Advisor, Norwegian Ministry of Children and Equality, The Norwegian gender recognition act - and policies on gender identity, gender expression and intersex, https://www.ilga-europe.org/resources/news/latest-news/norway-introduces-self-determination.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: