Thứ tư 28/10/2026 14:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vai trò của Luật tục Ê-đê trong thực tiễn thi hành pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu mối tương quan giữa Luật tục Ê-đê với pháp luật đất đai hiện hành, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm phát huy vai trò của Luật tục Ê-đê trong thực tiễn thi hành pháp luật đất đai.

Abstract: The article studies the correlation between the Ede customary law and the current land law, thereby proposing some measures to promote the role of the Ede customary law in the practice of land law implementation.

1. Luật tục Ê-đê trong mối tương quan với pháp luật về đất đai hiện nay

Trong 236 điều của Luật tục Ê-đê, chỉ có 08 điều nằm ở Chương XI đề cập đến đất đai và người chủ đất. Nếu so sánh với số lượng các quy định về hôn nhân (48 điều) thì có một sự khác biệt rất lớn. Nghiên cứu Luật tục của đồng bào Ê-đê cho thấy, vấn đề đất đai được đề cập ở những nội dung cơ bản sau đây:

1.1. Vấn đề sở hữu đất đai

Đồng bào Ê-đê coi đất đai là tài sản chung của cộng đồng buôn làng. Đó là sự kết nối thiêng liêng giữa các thế hệ từ ông, bà tổ tiên trước đây truyền lại cho các thế hệ sinh sống trong buôn làng: “Đất đai, sông suối, cây rừng (là) cái nong, cái nia, cái lưng của ông (bà)”[1]. “Đất này là của bà xưa ông cũ để lại, điều đó người ta đã truyền miệng lại cho nhau (đời này qua đời khác)”[2]. Quan niệm này chưa phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai năm 2013.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai năm 2013 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Bên cạnh đó, với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước là chủ thể đại diện của quyền sở hữu toàn dân về đất đai.

Quyền sở hữu đại diện của Nhà nước mang tính chất duy nhất và tuyệt đối. Tính duy nhất thể hiện, pháp luật không cho phép tồn tại bất cứ hình thức sở hữu nào khác ngoài hình thức sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là người đại diện. Tính tuyệt đối thể hiện, toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước dù đã được giao hay chưa được giao cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào sử dụng đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Hơn nữa, dù đất đai do bất cứ ai sử dụng và sử dụng vào bất kỳ mục đích gì thì cũng đều phải tuân theo các quy định của Nhà nước[3].

Vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên người dân chỉ có thể chiếm hữu, sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất. Chính vì vậy, cộng đồng buôn làng chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng đất hợp pháp khi được Nhà nước giao đất; cá nhân, hộ gia đình chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất. Điều này hoàn toàn “xa lạ” với quan niệm của đồng bào Ê-đê về sở hữu đất đai. Đặc biệt là, trong bối cảnh vùng Tây Nguyên, người dân tộc thiểu số ở đây vẫn tự phát lấy đất rừng làm rẫy mà không cần quan tâm đất đai đó đang thuộc sở hữu toàn dân. Khi người dân đặt chân tới, lao động và hưởng lợi từ một mảnh đất thì điều đó có nghĩa là họ đã sở hữu mảnh đất đó. Nhiều khu vực tưởng như “vô chủ” trong quan niệm của người dân, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng tự nhiên thuộc diện bảo tồn, trên giấy tờ lại thuộc diện quản lý của Nhà nước[4].

Bên cạnh đó, người Ê-đê cũng quan niệm đất rẫy thuộc quyền sở hữu của người khai phá đầu tiên. Nếu họ chết, đất đó được truyền cho con cháu. Cộng đồng buôn làng khẳng định quyền sở hữu của họ. Những người thừa kế không có quyền bán đất đó cho người khác mà chỉ có thể để thừa kế lại cho con cháu, coi đất rẫy là tài sản của gia tộc được lưu truyền từ đời này sang đời khác[5].

Như vậy, rõ ràng khoảng cách trong quan niệm của đồng bào Ê-đê về sở hữu đất đai với chế độ sở hữu toàn dân được Hiến pháp quy định là khá lớn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên.

1.2. Giải quyết tranh chấp đất đai

Luật tục Ê-đê không quy định phương thức riêng mà tranh chấp đất đai được giải quyết giống như các loại tranh chấp khác. Người giải quyết tranh chấp là người có uy tín, tài đức, khả năng ăn nói thuyết phục, am hiểu Luật tục, thường là những người già trong buôn hoặc trong dòng họ, được mọi người kính nể. Xã hội Ê-đê cổ truyền tôn trọng những lệ tục và trong mỗi buôn đều có Pô Phát Kđi (người xử kiện) đứng ra trông coi công việc này[6].

Cơ chế phân xử các tranh chấp được chia thành nhiều cấp độ:

Thứ nhất, nếu tranh chấp nhỏ giữa những người trong cùng một gia đình hay một dòng họ thì người phân xử thường là những người có uy tín, hiểu biết, được kính nể trong dòng họ đứng ra giải quyết bằng phương thức hòa giải. “Mỗi dòng họ (Djuê) Ê-đê bao gồm 03 thành phần: (i) Dăm dei, gồm những người cùng dòng họ với Ana go và được Ana go gọi là bác trai, cậu, em trai, cháu trai; (ii) Ana go gồm bà nội (dòng nữ), bác gái, mẹ, em gái, cháu gái, chắt gái... đây là giới nữ cùng dòng họ với Dăm dei; (iii) Ung rông, gồm chồng của bà nội, bác gái, mẹ, dì... Khi ông bà, cha mẹ qua đời, nếu giữa Ana go và Ung rông xảy ra tranh chấp của cải, tài sản thì Dăm dei đứng ra giải quyết trong nội bộ dòng họ. Nếu Dăm dei không giải quyết được thì mới nhờ tới thầy xử kiện (Pô Phát Kđi) xét xử theo Luật tục”[7].

Thứ hai, nếu tranh chấp giữa hai người trong cộng đồng không cùng một gia đình, dòng họ thì Dăm dei sẽ đứng ra hòa giải, nếu không hòa giải được thì sẽ nhờ Pô Phát Kđi xét xử. “Trường hợp Ana go hoặc Ung rông có xích mích, mâu thuẫn với hàng xóm, Dăm dei đứng ra dàn xếp, hòa giải. Nếu xảy ra xung đột, hai bên không tự giải quyết được, phải nhờ tới thầy xử kiện phân xử”[8].

Như vậy, đa phần các tranh chấp trong cộng đồng buôn làng được giải quyết theo phương thức hòa giải (ví dụ: Xích mích trong gia đình, mất trộm lợn, gà, tranh chấp đất đai...)[9]. Trường hợp không thể hòa giải được thì sẽ nhờ Pô Phát Kđi giải quyết theo Luật tục với các thủ tục chặt chẽ và mang tính nghi lễ cao hơn. Diễn biến của phiên xử được thực hiện qua các bước mô tả như sau:

Bước 1: Pô Phát Kđi điểm xem những người cần phải có mặt đã đầy đủ chưa, nếu thiếu ai thì cho người đi gọi.

Bước 2: Người xử kiện yêu cầu hai bên đương sự tháo vòng tay cho mình cầm. Khi đã thực hiện như vậy tức là hai đương sự đã thừa nhận và chấp thuận cho người xử kiện quyền chất vấn, chỉ ra phải trái, quyết định ai đúng, ai sai và xử phạt theo Luật tục.

Bước 3: Người xử kiện dùng lời nói vần để khai mạc buổi hòa giải.

Bước 4: Pô Phát Kđi yêu cầu người khởi kiện tường thuật lại sự việc mà người đó nhờ “Tòa án phong tục” phân xử. Trường hợp tranh cãi nhau khó ngã ngũ, người xử kiện mời nhân chứng hóa giải tình hình. Tiếp đến ông ta hỏi họ hàng hai bên đương sự có ý kiến gì không? Nếu không có ai có ý kiến gì thì Pô Phát Kđi tham khảo ý kiến của Dăm dei hai dòng họ lần cuối để đưa ra quyết định cuối cùng là ai đúng, ai sai. Pô Phát Kđi dùng lời thơ Luật tục để kết thúc phần “nghị án”.

Bước 5: Nếu người thắng kiện yêu cầu phạt người thua kiện nặng quá (không theo quy định của Luật tục thì người xử kiện động viên người đó giảm bớt để thể hiện tình làng nghĩa xóm. Ngược lại, nếu thấy người thắng kiện chỉ đòi phạt nhẹ hơn nhiều quy định của Luật tục thì người xử kiện yêu cầu đương sự mời họ hàng ra ngồi ở một góc riêng để bàn bạc thống nhất. Thông thường, họ hàng đều tôn trọng, đồng tình với ý kiến của người thân khi thắng kiện. Mỗi khi sự việc đã có sự thống nhất của mọi người trong buổi phân xử thì người xử kiện mới tuyên bố mức phạt. Sau khi đã thống nhất mức phạt đền một cách công khai, dân chủ như trên, người xử kiện đề nghị hai bên đương sự đưa tay ra đeo vòng đồng và chạm vòng đồng vào nhau. Hành động này được coi như là lời cam kết thực hiện theo sự phán xét của người xử kiện[10].

Theo quy định của pháp luật hiện hành, giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện thông qua một số hình thức cơ bản sau đây: (i) Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hình thức hòa giải (hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở; hòa giải tranh chấp đất đai do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp thực hiện[11]); (ii) Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường hành chính; (iii) Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường tố tụng (Tòa án nhân dân giải quyết).

Như vậy, giữa Luật tục Ê-đê và Luật Đất đai năm 2013 có điểm tương đồng là đều đề cao tinh thần thương lượng, hòa giải giữa các bên tranh chấp đất đai; người tiến hành thủ tục hòa giải thường là những người có kinh nghiệm, sự hiểu biết và có uy tín trong cộng đồng. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, các bên tranh chấp và người phân xử đều tôn trọng chứng cứ.

2. Một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy những giá trị của Luật tục Ê-đê trong quá trình thi hành pháp luật đất đai

Thứ nhất, hình thức sở hữu đất đai của cộng đồng đã xuất hiện hàng trăm năm nay ở Tây Nguyên. Với hình thức này, mọi thành viên đều có trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ đất đai. Do vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng hợp lý đất đai, Nhà nước cần tiếp tục thực hiện việc giao đất cho cộng đồng buôn làng sử dụng bên cạnh việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng. Mặt khác, việc giao quyền sử dụng đất cho buôn, làng quản lý cũng khắc phục tâm lý mất đất của người dân. Kinh nghiệm của một số địa phương hiện nay, thực hiện việc giao đất giao rừng phải thừa kế nhân tố cơ bản của sở hữu truyền thống là kết hợp chặt chẽ quyền quản lý của cộng đồng buôn với quyền sử dụng, chiếm hữu của mỗi hộ gia đình trong cộng đồng ấy[12].

Thứ hai, trong việc xây dựng cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, cần chú trọng giải pháp tăng cường nhận thức về vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của rừng đối với cuộc sống của đồng bào Ê-đê để góp phần làm giảm các xung đột. Trước hết, cần đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò toàn diện của rừng đối với đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Việc mất đất, thiếu đất sản xuất, đất ở không chỉ làm cho cuộc sống của người dân bản địa khó khăn hơn mà còn có nguy cơ sẽ làm tan vỡ truyền thống văn hóa làng ở Tây Nguyên. Điều này rất dễ dẫn tới vấn đề dân tộc, nhất là khi có bàn tay can thiệp của các thế lực dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Vì vậy, cần có chính sách cương quyết bảo vệ và phát triển rừng[13].

Thứ ba, Luật tục đề cao vai trò của người có uy tín, am hiểu Luật tục trong quá trình giải quyết tranh chấp, trong đó có tranh chấp liên quan đến lĩnh vực đất đai. Vì vậy, để phát huy hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai của đồng bào Ê-đê, cần chú trọng bồi dưỡng, trang bị kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải tranh chấp cho người có uy tín trong cộng đồng cũng như xây dựng chế độ, chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích họ thêm phấn khởi, có trách nhiệm với công việc chung.

Thứ tư, tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai cho đồng bào Ê-đê: Thay đổi quan niệm đất đai là của tổ tiên để lại và sự kế thừa của con cháu là điều tự nhiên, đẩy lùi tình trạng du canh, du cư, xóa bỏ tình trạng đốt rừng làm rẫy…

Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn để thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thực tế tại tỉnh Đắk Lắk cho thấy, đồng bào Ê-đê hiểu rõ sở hữu cộng đồng về đất rừng truyền thống nhưng lại ít hiểu biết về Luật Đất đai và sở hữu đất rừng toàn dân. Do vậy, cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng để tăng cường công tác tiếp công dân, đối thoại, hòa giải để nắm rõ bản chất vụ việc và có biện pháp giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở, hạn chế khiếu nại đông người, vượt cấp khi có tranh chấp đất đai xảy ra.

Thứ sáu, rà soát lại diện tích đất của các nông, lâm trường sử dụng không hiệu quả, giao về cho địa phương quản lý, bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào Ê-đê nhằm giảm bớt tình trạng phá rừng, đốt nương làm rẫy cũng như nâng cao đời sống kinh tế của người dân.

Thứ bảy, tiếp tục có chính sách phát triển kinh tế, xã hội cho đồng bào Ê-đê để người dân thoát nghèo, nâng cao đời sống kinh tế, giảm du canh, tăng thâm canh, từ đó giảm áp lực đến tài nguyên đất đai và tài nguyên rừng. “Phải nhận thức rõ tầm quan trọng của việc kết hợp nông - lâm nghiệp trong hoạt động sản xuất nhằm sử dụng đất đai và bảo vệ đất một cách có hiệu quả. Chẳng hạn, giúp đỡ người dân nơi đây xác định từng loại đất trong vùng nên trồng loại cây gì và có những biện pháp canh tác nào hợp lý; đồng thời áp dụng những biện pháp bảo vệ đất, chống xói mòn; bảo vệ rừng và tái sinh rừng; hạn chế tối đa việc canh tác cây hàng năm ở những khu vực nguy hiểm về xói mòn; tăng tỷ lệ che phủ của rừng; yêu cầu thâm canh trong sử dụng đất để tăng năng suất cây trồng và bảo đảm bền vững cho sản xuất...”[14]. Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ đất và sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số để các chương trình này thực sự trở thành cơ hội thoát nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Để bảo đảm thực hiện các chương trình này hiệu quả, Ủy ban nhân dân tỉnh cần ban hành văn bản hướng dẫn quy trình rà soát và đăng ký hỗ trợ thống nhất, đồng bộ áp dụng cho tất cả các huyện trên địa bàn tỉnh nhằm tránh tình trạng phải rà soát đối tượng thụ hưởng nhiều lần gây ảnh hưởng đến tiến bộ thực hiện các chương trình hỗ trợ. Xây dựng chính sách ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tám, cần sửa đổi một số vấn đề còn bất cập, chồng chéo, chưa thống nhất liên quan đến vấn đề giao đất, giao rừng được quy định trong Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, Bộ luật Dân sự… theo hướng: Công nhận cộng đồng dân cư là chủ rừng có quyền lợi và nghĩa vụ như các chủ rừng khác; công nhận diện tích rừng thiêng, rừng tâm linh, rừng đầu nguồn nước… gắn với phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa của các dân tộc là đất tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc giống như đất đền chùa, nhà thờ, miếu mạo[15]…

ThS. Nguyễn Thị Thảo

Phân hiệu Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk

(Ảnh: Internet)

[1]. Xem: Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, Điều 231 Luật tục Ê-đê (tập quán pháp), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2012, tr. 410.

[2]. Xem: Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, Điều 231 Luật tục Ê-đê (tập quán pháp), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2012, tr. 414.

[3]. Trần Quang Huy (Chủ biên), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2019, tr. 72, 73.

[4]. Tô Văn Hòa, Đậu Công Hiệp, “Các yếu tố tác động đến giải quyết tranh chấp đất đai bảo đảm phát triển bền vững vùng Tây Nguyên”, Tạp chí Luật học, số 08/2019, tr. 39.

[5]. Tô Văn Hòa, Đậu Công Hiệp, “Các yếu tố tác động đến giải quyết tranh chấp đất đai bảo đảm phát triển bền vững vùng Tây Nguyên”, Tạp chí Luật học, tr. 40.

[6]. Luật tục Ê-đê, xem: Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, tlđd, tr. 25.

[7]. Đỗ Hồng Kỳ, Ứng xử văn hóa trong xã hội Ê-đê, Gia-rai, Thông tin pháp luật dân sự, https://phapluatdansu.edu.vn/2010/08/24/15/29/%E1%BB%A9ng-x%E1%BB%AD-van-ha-trong-x-h%E1%BB%99i-d-gia-rai/, truy cập 18/02/2022.

[8]. Đỗ Hồng Kỳ, Ứng xử văn hóa trong xã hội Ê-đê, Gia-rai, tlđd, truy cập 18/2/2022.

[9]. Huỳnh Thủy, Quan tòa dân gian, Báo điện tử Tiền Phong, https://tienphong.vn/quan-toa-dan-gian-post905692.tpo, truy cập ngày 09/5/2021.

[10]. Tô Văn Hòa, “Những giá trị của Luật tục về đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai vùng Tây Nguyên”, tlđd, tr. 38, 39.

[11]. Nguyễn Quang Tuyến, “Đặc thù của tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai từ góc nhìn đa chiều”, Kỷ yếu Hội thảo đánh giá thực trạng tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên hiện nay, tr. 16.

[12]. Ngô Đức Thịnh, Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam, tr. 315, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2014.

[13]. Vũ Văn Phúc (chủ biên) (2014), Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai gắn với xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh Tây Nguyên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 133.

[14]. Vũ Văn Phúc (chủ biên) (2014), Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai gắn với xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh Tây Nguyên, tlđd, tr. 133.

[15]. Bích Lan, Chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số cần được kết hợp với nhiều giải pháp đồng bộ khác, https://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintuc/Lists/News&ItemID=60664, truy cập ngày 07/3/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 377), tháng 3/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.

Theo dõi chúng tôi trên: