Thứ hai 20/04/2026 07:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vai trò của Luật tục Ê-đê trong thực tiễn thi hành pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu mối tương quan giữa Luật tục Ê-đê với pháp luật đất đai hiện hành, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm phát huy vai trò của Luật tục Ê-đê trong thực tiễn thi hành pháp luật đất đai.

Abstract: The article studies the correlation between the Ede customary law and the current land law, thereby proposing some measures to promote the role of the Ede customary law in the practice of land law implementation.

1. Luật tục Ê-đê trong mối tương quan với pháp luật về đất đai hiện nay

Trong 236 điều của Luật tục Ê-đê, chỉ có 08 điều nằm ở Chương XI đề cập đến đất đai và người chủ đất. Nếu so sánh với số lượng các quy định về hôn nhân (48 điều) thì có một sự khác biệt rất lớn. Nghiên cứu Luật tục của đồng bào Ê-đê cho thấy, vấn đề đất đai được đề cập ở những nội dung cơ bản sau đây:

1.1. Vấn đề sở hữu đất đai

Đồng bào Ê-đê coi đất đai là tài sản chung của cộng đồng buôn làng. Đó là sự kết nối thiêng liêng giữa các thế hệ từ ông, bà tổ tiên trước đây truyền lại cho các thế hệ sinh sống trong buôn làng: “Đất đai, sông suối, cây rừng (là) cái nong, cái nia, cái lưng của ông (bà)”[1]. “Đất này là của bà xưa ông cũ để lại, điều đó người ta đã truyền miệng lại cho nhau (đời này qua đời khác)”[2]. Quan niệm này chưa phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai năm 2013.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai năm 2013 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Bên cạnh đó, với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước là chủ thể đại diện của quyền sở hữu toàn dân về đất đai.

Quyền sở hữu đại diện của Nhà nước mang tính chất duy nhất và tuyệt đối. Tính duy nhất thể hiện, pháp luật không cho phép tồn tại bất cứ hình thức sở hữu nào khác ngoài hình thức sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là người đại diện. Tính tuyệt đối thể hiện, toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước dù đã được giao hay chưa được giao cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào sử dụng đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Hơn nữa, dù đất đai do bất cứ ai sử dụng và sử dụng vào bất kỳ mục đích gì thì cũng đều phải tuân theo các quy định của Nhà nước[3].

Vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên người dân chỉ có thể chiếm hữu, sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất. Chính vì vậy, cộng đồng buôn làng chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng đất hợp pháp khi được Nhà nước giao đất; cá nhân, hộ gia đình chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất. Điều này hoàn toàn “xa lạ” với quan niệm của đồng bào Ê-đê về sở hữu đất đai. Đặc biệt là, trong bối cảnh vùng Tây Nguyên, người dân tộc thiểu số ở đây vẫn tự phát lấy đất rừng làm rẫy mà không cần quan tâm đất đai đó đang thuộc sở hữu toàn dân. Khi người dân đặt chân tới, lao động và hưởng lợi từ một mảnh đất thì điều đó có nghĩa là họ đã sở hữu mảnh đất đó. Nhiều khu vực tưởng như “vô chủ” trong quan niệm của người dân, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng tự nhiên thuộc diện bảo tồn, trên giấy tờ lại thuộc diện quản lý của Nhà nước[4].

Bên cạnh đó, người Ê-đê cũng quan niệm đất rẫy thuộc quyền sở hữu của người khai phá đầu tiên. Nếu họ chết, đất đó được truyền cho con cháu. Cộng đồng buôn làng khẳng định quyền sở hữu của họ. Những người thừa kế không có quyền bán đất đó cho người khác mà chỉ có thể để thừa kế lại cho con cháu, coi đất rẫy là tài sản của gia tộc được lưu truyền từ đời này sang đời khác[5].

Như vậy, rõ ràng khoảng cách trong quan niệm của đồng bào Ê-đê về sở hữu đất đai với chế độ sở hữu toàn dân được Hiến pháp quy định là khá lớn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên.

1.2. Giải quyết tranh chấp đất đai

Luật tục Ê-đê không quy định phương thức riêng mà tranh chấp đất đai được giải quyết giống như các loại tranh chấp khác. Người giải quyết tranh chấp là người có uy tín, tài đức, khả năng ăn nói thuyết phục, am hiểu Luật tục, thường là những người già trong buôn hoặc trong dòng họ, được mọi người kính nể. Xã hội Ê-đê cổ truyền tôn trọng những lệ tục và trong mỗi buôn đều có Pô Phát Kđi (người xử kiện) đứng ra trông coi công việc này[6].

Cơ chế phân xử các tranh chấp được chia thành nhiều cấp độ:

Thứ nhất, nếu tranh chấp nhỏ giữa những người trong cùng một gia đình hay một dòng họ thì người phân xử thường là những người có uy tín, hiểu biết, được kính nể trong dòng họ đứng ra giải quyết bằng phương thức hòa giải. “Mỗi dòng họ (Djuê) Ê-đê bao gồm 03 thành phần: (i) Dăm dei, gồm những người cùng dòng họ với Ana go và được Ana go gọi là bác trai, cậu, em trai, cháu trai; (ii) Ana go gồm bà nội (dòng nữ), bác gái, mẹ, em gái, cháu gái, chắt gái... đây là giới nữ cùng dòng họ với Dăm dei; (iii) Ung rông, gồm chồng của bà nội, bác gái, mẹ, dì... Khi ông bà, cha mẹ qua đời, nếu giữa Ana go và Ung rông xảy ra tranh chấp của cải, tài sản thì Dăm dei đứng ra giải quyết trong nội bộ dòng họ. Nếu Dăm dei không giải quyết được thì mới nhờ tới thầy xử kiện (Pô Phát Kđi) xét xử theo Luật tục”[7].

Thứ hai, nếu tranh chấp giữa hai người trong cộng đồng không cùng một gia đình, dòng họ thì Dăm dei sẽ đứng ra hòa giải, nếu không hòa giải được thì sẽ nhờ Pô Phát Kđi xét xử. “Trường hợp Ana go hoặc Ung rông có xích mích, mâu thuẫn với hàng xóm, Dăm dei đứng ra dàn xếp, hòa giải. Nếu xảy ra xung đột, hai bên không tự giải quyết được, phải nhờ tới thầy xử kiện phân xử”[8].

Như vậy, đa phần các tranh chấp trong cộng đồng buôn làng được giải quyết theo phương thức hòa giải (ví dụ: Xích mích trong gia đình, mất trộm lợn, gà, tranh chấp đất đai...)[9]. Trường hợp không thể hòa giải được thì sẽ nhờ Pô Phát Kđi giải quyết theo Luật tục với các thủ tục chặt chẽ và mang tính nghi lễ cao hơn. Diễn biến của phiên xử được thực hiện qua các bước mô tả như sau:

Bước 1: Pô Phát Kđi điểm xem những người cần phải có mặt đã đầy đủ chưa, nếu thiếu ai thì cho người đi gọi.

Bước 2: Người xử kiện yêu cầu hai bên đương sự tháo vòng tay cho mình cầm. Khi đã thực hiện như vậy tức là hai đương sự đã thừa nhận và chấp thuận cho người xử kiện quyền chất vấn, chỉ ra phải trái, quyết định ai đúng, ai sai và xử phạt theo Luật tục.

Bước 3: Người xử kiện dùng lời nói vần để khai mạc buổi hòa giải.

Bước 4: Pô Phát Kđi yêu cầu người khởi kiện tường thuật lại sự việc mà người đó nhờ “Tòa án phong tục” phân xử. Trường hợp tranh cãi nhau khó ngã ngũ, người xử kiện mời nhân chứng hóa giải tình hình. Tiếp đến ông ta hỏi họ hàng hai bên đương sự có ý kiến gì không? Nếu không có ai có ý kiến gì thì Pô Phát Kđi tham khảo ý kiến của Dăm dei hai dòng họ lần cuối để đưa ra quyết định cuối cùng là ai đúng, ai sai. Pô Phát Kđi dùng lời thơ Luật tục để kết thúc phần “nghị án”.

Bước 5: Nếu người thắng kiện yêu cầu phạt người thua kiện nặng quá (không theo quy định của Luật tục thì người xử kiện động viên người đó giảm bớt để thể hiện tình làng nghĩa xóm. Ngược lại, nếu thấy người thắng kiện chỉ đòi phạt nhẹ hơn nhiều quy định của Luật tục thì người xử kiện yêu cầu đương sự mời họ hàng ra ngồi ở một góc riêng để bàn bạc thống nhất. Thông thường, họ hàng đều tôn trọng, đồng tình với ý kiến của người thân khi thắng kiện. Mỗi khi sự việc đã có sự thống nhất của mọi người trong buổi phân xử thì người xử kiện mới tuyên bố mức phạt. Sau khi đã thống nhất mức phạt đền một cách công khai, dân chủ như trên, người xử kiện đề nghị hai bên đương sự đưa tay ra đeo vòng đồng và chạm vòng đồng vào nhau. Hành động này được coi như là lời cam kết thực hiện theo sự phán xét của người xử kiện[10].

Theo quy định của pháp luật hiện hành, giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện thông qua một số hình thức cơ bản sau đây: (i) Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hình thức hòa giải (hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở; hòa giải tranh chấp đất đai do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp thực hiện[11]); (ii) Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường hành chính; (iii) Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường tố tụng (Tòa án nhân dân giải quyết).

Như vậy, giữa Luật tục Ê-đê và Luật Đất đai năm 2013 có điểm tương đồng là đều đề cao tinh thần thương lượng, hòa giải giữa các bên tranh chấp đất đai; người tiến hành thủ tục hòa giải thường là những người có kinh nghiệm, sự hiểu biết và có uy tín trong cộng đồng. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, các bên tranh chấp và người phân xử đều tôn trọng chứng cứ.

2. Một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy những giá trị của Luật tục Ê-đê trong quá trình thi hành pháp luật đất đai

Thứ nhất, hình thức sở hữu đất đai của cộng đồng đã xuất hiện hàng trăm năm nay ở Tây Nguyên. Với hình thức này, mọi thành viên đều có trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ đất đai. Do vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng hợp lý đất đai, Nhà nước cần tiếp tục thực hiện việc giao đất cho cộng đồng buôn làng sử dụng bên cạnh việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng. Mặt khác, việc giao quyền sử dụng đất cho buôn, làng quản lý cũng khắc phục tâm lý mất đất của người dân. Kinh nghiệm của một số địa phương hiện nay, thực hiện việc giao đất giao rừng phải thừa kế nhân tố cơ bản của sở hữu truyền thống là kết hợp chặt chẽ quyền quản lý của cộng đồng buôn với quyền sử dụng, chiếm hữu của mỗi hộ gia đình trong cộng đồng ấy[12].

Thứ hai, trong việc xây dựng cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, cần chú trọng giải pháp tăng cường nhận thức về vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của rừng đối với cuộc sống của đồng bào Ê-đê để góp phần làm giảm các xung đột. Trước hết, cần đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò toàn diện của rừng đối với đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Việc mất đất, thiếu đất sản xuất, đất ở không chỉ làm cho cuộc sống của người dân bản địa khó khăn hơn mà còn có nguy cơ sẽ làm tan vỡ truyền thống văn hóa làng ở Tây Nguyên. Điều này rất dễ dẫn tới vấn đề dân tộc, nhất là khi có bàn tay can thiệp của các thế lực dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Vì vậy, cần có chính sách cương quyết bảo vệ và phát triển rừng[13].

Thứ ba, Luật tục đề cao vai trò của người có uy tín, am hiểu Luật tục trong quá trình giải quyết tranh chấp, trong đó có tranh chấp liên quan đến lĩnh vực đất đai. Vì vậy, để phát huy hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai của đồng bào Ê-đê, cần chú trọng bồi dưỡng, trang bị kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải tranh chấp cho người có uy tín trong cộng đồng cũng như xây dựng chế độ, chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích họ thêm phấn khởi, có trách nhiệm với công việc chung.

Thứ tư, tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai cho đồng bào Ê-đê: Thay đổi quan niệm đất đai là của tổ tiên để lại và sự kế thừa của con cháu là điều tự nhiên, đẩy lùi tình trạng du canh, du cư, xóa bỏ tình trạng đốt rừng làm rẫy…

Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn để thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thực tế tại tỉnh Đắk Lắk cho thấy, đồng bào Ê-đê hiểu rõ sở hữu cộng đồng về đất rừng truyền thống nhưng lại ít hiểu biết về Luật Đất đai và sở hữu đất rừng toàn dân. Do vậy, cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng để tăng cường công tác tiếp công dân, đối thoại, hòa giải để nắm rõ bản chất vụ việc và có biện pháp giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở, hạn chế khiếu nại đông người, vượt cấp khi có tranh chấp đất đai xảy ra.

Thứ sáu, rà soát lại diện tích đất của các nông, lâm trường sử dụng không hiệu quả, giao về cho địa phương quản lý, bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào Ê-đê nhằm giảm bớt tình trạng phá rừng, đốt nương làm rẫy cũng như nâng cao đời sống kinh tế của người dân.

Thứ bảy, tiếp tục có chính sách phát triển kinh tế, xã hội cho đồng bào Ê-đê để người dân thoát nghèo, nâng cao đời sống kinh tế, giảm du canh, tăng thâm canh, từ đó giảm áp lực đến tài nguyên đất đai và tài nguyên rừng. “Phải nhận thức rõ tầm quan trọng của việc kết hợp nông - lâm nghiệp trong hoạt động sản xuất nhằm sử dụng đất đai và bảo vệ đất một cách có hiệu quả. Chẳng hạn, giúp đỡ người dân nơi đây xác định từng loại đất trong vùng nên trồng loại cây gì và có những biện pháp canh tác nào hợp lý; đồng thời áp dụng những biện pháp bảo vệ đất, chống xói mòn; bảo vệ rừng và tái sinh rừng; hạn chế tối đa việc canh tác cây hàng năm ở những khu vực nguy hiểm về xói mòn; tăng tỷ lệ che phủ của rừng; yêu cầu thâm canh trong sử dụng đất để tăng năng suất cây trồng và bảo đảm bền vững cho sản xuất...”[14]. Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ đất và sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số để các chương trình này thực sự trở thành cơ hội thoát nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Để bảo đảm thực hiện các chương trình này hiệu quả, Ủy ban nhân dân tỉnh cần ban hành văn bản hướng dẫn quy trình rà soát và đăng ký hỗ trợ thống nhất, đồng bộ áp dụng cho tất cả các huyện trên địa bàn tỉnh nhằm tránh tình trạng phải rà soát đối tượng thụ hưởng nhiều lần gây ảnh hưởng đến tiến bộ thực hiện các chương trình hỗ trợ. Xây dựng chính sách ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tám, cần sửa đổi một số vấn đề còn bất cập, chồng chéo, chưa thống nhất liên quan đến vấn đề giao đất, giao rừng được quy định trong Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, Bộ luật Dân sự… theo hướng: Công nhận cộng đồng dân cư là chủ rừng có quyền lợi và nghĩa vụ như các chủ rừng khác; công nhận diện tích rừng thiêng, rừng tâm linh, rừng đầu nguồn nước… gắn với phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa của các dân tộc là đất tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc giống như đất đền chùa, nhà thờ, miếu mạo[15]…

ThS. Nguyễn Thị Thảo

Phân hiệu Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk

(Ảnh: Internet)

[1]. Xem: Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, Điều 231 Luật tục Ê-đê (tập quán pháp), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2012, tr. 410.

[2]. Xem: Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, Điều 231 Luật tục Ê-đê (tập quán pháp), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2012, tr. 414.

[3]. Trần Quang Huy (Chủ biên), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2019, tr. 72, 73.

[4]. Tô Văn Hòa, Đậu Công Hiệp, “Các yếu tố tác động đến giải quyết tranh chấp đất đai bảo đảm phát triển bền vững vùng Tây Nguyên”, Tạp chí Luật học, số 08/2019, tr. 39.

[5]. Tô Văn Hòa, Đậu Công Hiệp, “Các yếu tố tác động đến giải quyết tranh chấp đất đai bảo đảm phát triển bền vững vùng Tây Nguyên”, Tạp chí Luật học, tr. 40.

[6]. Luật tục Ê-đê, xem: Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, tlđd, tr. 25.

[7]. Đỗ Hồng Kỳ, Ứng xử văn hóa trong xã hội Ê-đê, Gia-rai, Thông tin pháp luật dân sự, https://phapluatdansu.edu.vn/2010/08/24/15/29/%E1%BB%A9ng-x%E1%BB%AD-van-ha-trong-x-h%E1%BB%99i-d-gia-rai/, truy cập 18/02/2022.

[8]. Đỗ Hồng Kỳ, Ứng xử văn hóa trong xã hội Ê-đê, Gia-rai, tlđd, truy cập 18/2/2022.

[9]. Huỳnh Thủy, Quan tòa dân gian, Báo điện tử Tiền Phong, https://tienphong.vn/quan-toa-dan-gian-post905692.tpo, truy cập ngày 09/5/2021.

[10]. Tô Văn Hòa, “Những giá trị của Luật tục về đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai vùng Tây Nguyên”, tlđd, tr. 38, 39.

[11]. Nguyễn Quang Tuyến, “Đặc thù của tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai từ góc nhìn đa chiều”, Kỷ yếu Hội thảo đánh giá thực trạng tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên hiện nay, tr. 16.

[12]. Ngô Đức Thịnh, Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam, tr. 315, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2014.

[13]. Vũ Văn Phúc (chủ biên) (2014), Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai gắn với xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh Tây Nguyên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 133.

[14]. Vũ Văn Phúc (chủ biên) (2014), Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai gắn với xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh Tây Nguyên, tlđd, tr. 133.

[15]. Bích Lan, Chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số cần được kết hợp với nhiều giải pháp đồng bộ khác, https://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintuc/Lists/News&ItemID=60664, truy cập ngày 07/3/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 377), tháng 3/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.

Theo dõi chúng tôi trên: