Thứ tư 18/03/2026 08:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền của người dân tộc thiểu số theo Hiến pháp năm 2013 - Thành tựu và giải pháp

Bài viết phân tích một số thành tựu trong bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số theo Hiến pháp năm 2013, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong thời gian tới.

1. Quyền của người dân tộc thiểu số trong Hiến pháp năm 2013

Trong các bản Hiến pháp của Việt Nam trước đây, việc khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số (DTTS) đều được ghi nhận tại các chương đầu: Chương I (Hiến pháp năm 1959, năm 1992) hoặc Chương II (Hiến pháp năm 1946, năm 1980) sau khi khẳng định: Nước Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, là một khối thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không thể chia cắt, mỗi công dân Việt Nam có quyền, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Điều này cho thấy, các bản Hiến pháp đã bám sát những mục tiêu, nhiệm vụ mà lịch sử dân tộc đang đòi hỏi ở những giai đoạn cách mạng khác nhau nhưng đều nhất quán tinh thần: Các DTTS có quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau để cùng tiến bộ. Điều đó tiếp tục được nhấn mạnh và làm rõ hơn trong Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm 2013 có 05 điều (các điều 5, 58, 61, 75, 77) quy định về quyền của đồng bào DTTS và chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với vùng đồng bào DTTS.

Về quyền của người DTTS, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (các khoản 2, 3, 4 Điều 5); “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước...” (Điều 23); “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34); “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” (Điều 41); “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” (Điều 42); “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...” (Điều 58); “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” (Điều 61)...

So với các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013 không chỉ đưa ra quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc giúp đỡ đồng bào các DTTS, mà quan trọng hơn, Nhà nước tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, phát triển cùng đất nước. Đây là tư duy mới, ghi nhận và khẳng định sự vươn lên của đồng bào DTTS mà không phải chỉ là trông chờ vào sự giúp đỡ của Nhà nước. Trách nhiệm quan trọng của Nhà nước là xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách thuận lợi để đồng bào DTTS phát huy nội lực của mình, vươn lên phát triển toàn diện. Đó là điều căn cơ, lâu dài, bởi lẽ, chỉ khi nào đồng bào DTTS làm chủ cuộc sống của mình thì mới có bình đẳng thực sự. Như vậy, qua các bản Hiến pháp của Việt Nam, tư tưởng lập hiến đã tiệm cận với sự bình đẳng trên thực tế giữa các dân tộc ở Việt Nam.

2. Thành tựu trong bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam theo Hiến pháp năm 2013

2.1. Về pháp luật

Thời gian qua, Việt Nam đã quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm cơ sở pháp lý ngày càng toàn diện hơn cho việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển các quyền con người, quyền công dân nói chung, quyền của đồng bào DTTS nói riêng. Từ những quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp, Việt Nam đã xây dựng hệ thống pháp luật với việc ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

- Về quyền dân sự, bao gồm những quyền cơ bản như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm, quyền được thông tin theo luật định, quyền về chỗ ở, quyền tự do cư trú, quyền bình đẳng của các tôn giáo, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng... được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Cư trú năm 2020, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Doanh nghiệp năm 2020...

- Về quyền chính trị, bao gồm quyền bình đẳng trong ứng cử, bầu cử, quyền tham chính, quyền tự do lập hội, hội họp, quyền bình đẳng trước pháp luật... được quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)...

- Về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, bao gồm quyền về lao động, việc làm, quyền tiếp cận giáo dục, chăm sóc y tế, quyền được bảo đảm an sinh xã hội, quyền tiếp cận và hưởng thụ văn hóa... quy định trong Luật Đất đai năm 2024, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)...

Bên cạnh những quy định bảo đảm quyền con người nói chung, còn có những điều luật quy định chính sách cụ thể (như chính sách về đất đai, giáo dục, y tế, vay vốn tạo việc làm, chính sách bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc ít người...) nhằm bảo đảm quyền và thúc đẩy thực thi quyền cho đồng bào DTTS, phấn đấu cho mục tiêu chung là thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Hiện nay, Việt Nam chú trọng chính sách tập trung phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa một cách toàn diện ở khu vực miền núi (Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc). Ngoài ra, để cụ thể hóa Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới; căn cứ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 về Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết này đã xác định một số nhiệm vụ đột phá như: Tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến đồng bào DTTS; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc; xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng, đặc thù của vùng đồng bào DTTS và miền núi, hướng tới phát triển bền vững và thúc đẩy tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào DTTS trong phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo nhanh, bền vững và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Về các quyền chung, đồng bào DTTS được đối xử bình đẳng trước pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội mà không có sự phân biệt đối xử hay trường hợp ngoại lệ, nhất là đối với quyền tự do đi lại và cư trú, quyền có quốc tịch, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng. Bên cạnh đó, nhiều quy định pháp luật và chính sách đặc thù của Nhà nước đã tạo điều kiện để đồng bào DTTS tiếp cận các quyền cơ bản đó một cách thuận lợi và đầy đủ hơn nhằm hạn chế sự bất bình đẳng do những điều kiện bất lợi về môi trường sống, chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khác biệt về văn hóa tạo ra.

2.2. Về chính trị

Quyền tham gia bầu cử, ứng cử là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong những kỳ bầu cử vừa qua, cử tri đi bỏ phiếu ở vùng đồng bào DTTS thường chiếm tỷ lệ rất cao, đó là minh chứng rõ nét cho việc thực hiện và bảo đảm quyền chính trị của công dân nói chung, đồng bào DTTS nói riêng. Việc cán bộ là người DTTS tham gia vào bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị đại diện cho nhân dân cũng đạt thành tựu đáng kể, tăng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu thành phần các cấp qua các nhiệm kỳ.

2.3. Về kinh tế

- Tiếp cận điều kiện cơ sở hạ tầng: Để bảo đảm các quyền về kinh tế - xã hội của đồng bào các DTTS, Việt Nam đặc biệt chú ý đến xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng (như đường ô tô đến trung tâm xã, lưới điện, công trình thủy lợi nhỏ, công trình nước sạch...) được xây dựng đến cấp xã đã cải thiện bộ mặt nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc. Đó là những cố gắng rất đáng kể của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền tiếp cận các dịch vụ công của đồng bào DTTS.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách giúp người dân bảo đảm và tiếp cận nguồn lực đất đai, rừng, cải thiện các điều kiện sống như: Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017 - 2020, Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: Từ năm 2021 đến năm 2025... Những chính sách này đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu đất, ổn định đời sống đồng bào dân tộc ở các địa phương cho hàng trăm nghìn hộ, tập trung nhiều nhất là ở các huyện trọng điểm nghèo, góp phần giảm tỷ lệ nghèo và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân.

2.4. Về giáo dục, y tế, văn hóa

- Bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục: Đây là mục tiêu cơ bản trong chính sách phát triển của Nhà nước. Hệ thống cơ sở vật chất đã được xây dựng tương đối đồng bộ ở tất cả các xã vùng DTTS cùng hệ thống điểm trường ở thôn, bản, hệ thống các trường dân tộc nội trú, trường bán trú dân nuôi, cùng với chính sách hỗ trợ sinh hoạt phí cho học sinh nghèo đã giúp cho con em đồng bào dân tộc có cơ hội đến trường, tiếp cận nền giáo dục quốc gia. Theo Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2019 cho thấy, tỷ lệ biết đọc, biết viết chữ phổ thông của người DTTS từ 15 tuổi trở lên là 80,9%, thấp nhất là các dân tộc Mảng (46,2%), La Hủ (46,9%), Lự (49,7%), Mông (54,3%). Tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ của dân tộc mình đạt tỷ lệ cao nhất là dân tộc Ê Đê (38,8%), tiếp đến là các dân tộc Ba Na (31,7%), Hoa (31,4%), thấp nhất là ở dân tộc Co, Lự (0,8%). Ngôn ngữ DTTS cũng được chú ý. Năm học 2022 - 2023, cả nước có 535 trường dạy tiếng DTTS với 4.176 lớp học và 117.699 học sinh. Trong 07 tiếng DTTS đã triển khai dạy học trong trường phổ thông thì tiếng Khmer có quy mô lớn nhất, chiếm 55,7% tổng số trường, 65,6% tổng số lớp, 69,01% tổng số học sinh[1]2.

- Bảo đảm quyền tiếp cận y tế: Hệ thống y tế, đặc biệt là mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển rộng khắp, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS. Việc tăng đầu tư chung cho lĩnh vực y tế đã giúp cho việc xây mới, nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng và đầu tư trang thiết bị y tế cho hầu hết các cơ sở y tế vùng đặc biệt khó khăn, với mạng lưới 99,5% số xã có trạm y tế, 83,5% thôn thuộc các xã vùng DTTS có nhân viên y tế thôn, bản[2].

Đồng bào DTTS được khám, chữa bệnh và hưởng chính sách bảo hiểm y tế toàn diện, được tiếp cận những thành quả của quá trình phát triển, có quyền sử dụng dịch vụ y tế tại tuyến y tế cơ sở cho người dân, nhất là người nghèo, người DTTS.

- Về văn hóa: Các thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, thư viện, câu lạc bộ, trung tâm sinh hoạt cộng đồng... ở vùng đồng bào DTTS được chỉ đạo tập trung xây dựng ở các làng, thôn, bản, buôn, phum, sóc... Hiện nay, hầu hết các xã vùng dân tộc, miền núi có nhà văn hóa hoặc bưu điện văn hóa; nhiều thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng. Đây là nơi sinh hoạt, tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng với nhiều dạng thức phong phú. Nhiều lễ hội ở các vùng dân tộc được khôi phục, tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các bản sắc văn hóa các dân tộc, kể cả các DTTS rất ít người. Đời sống văn hóa của đồng bào DTTS được nâng lên rõ rệt, nhiều công trình văn hóa đặc sắc đã được vinh danh di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia và nhân loại như: Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, hát Then của đồng bào dân tộc Tày, Nùng...

3. Một số giải pháp tiếp tục bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam thời gian tới

Để bảo đảm quyền của người DTTS trong thời gian tới, Việt Nam cần nghiên cứu thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền của người DTTS theo hướng đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, cụ thể: Chính sách, pháp luật phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người DTTS phải đi đôi với bảo đảm công bằng xã hội, người dân được tiếp cận với dịch vụ cơ bản, đồng thời không được phương hại đến môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, pháp luật về quyền của người DTTS cần đề cao tinh thần sáng tạo, chủ động vươn lên, tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng, khắc phục khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của họ nhằm khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại, chưa có ý thức tự vươn lên... vẫn còn tồn tại trong cộng đồng DTTS ở nước ta. Đồng thời, hoàn thiện pháp luật về quyền của đồng bào DTTS ở Việt Nam tiệm cận với các công ước quốc tế về quyền của người DTTS nói riêng, quyền con người nói chung.

Thứ hai, cần xây dựng một luật chuyên biệt về người DTTS. Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có văn bản quy phạm dưới góc độ là một đạo luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền của người DTTS. Các quy định về quyền và các biện pháp bảo đảm quyền của đối tượng này được quy định riêng lẻ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành và chủ yếu ở trong các văn bản dưới luật và việc triển khai thi hành chưa thực sự hiệu quả.

Thứ ba, thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện các chương trình, chính sách phát triển hạ tầng, kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện dịch vụ xã hội và bảo tồn các giá trị văn hóa ở vùng dân tộc nhằm bảo đảm quyền kinh tế cho mọi người, thực hiện công bằng xã hội và giảm dần khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, các nhóm dân tộc. Cần có những chính sách đặc thù để thực thi các quyền đó nhằm tạo nên sự thay đổi toàn diện trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của người dân một cách cơ bản theo các mục tiêu phát triển.

Thứ tư, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp từ khâu phát hiện, lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS nhằm đáp ứng nhu cầu về tiêu chuẩn cán bộ theo quy định chung của Đảng và Nhà nước. Về lâu dài, cần tiếp tục quan tâm hơn đối với đội ngũ cán bộ, công chức là người DTTS. Đối với cán bộ có tiềm năng nhưng còn thiếu tiêu chuẩn, cần đưa vào chương trình, kế hoạch đào tạo để bảo đảm nhu cầu cán bộ, công chức, trong đó có các cơ quan dân cử. Cơ cấu cán bộ dân tộc phấn đấu tương ứng với cơ cấu dân số từng vùng, miền...

4. Kết luận

Ở Việt Nam, hiện nay, việc bảo đảm quyền của người DTTS đã được bảo đảm và thực hiện trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013. Qua đó, khẳng định Đảng và Nhà nước luôn coi việc thực hiện quyền của người DTTS là vấn đề được ưu tiên trong các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, luôn xác định việc tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người nói chung, quyền của người DTTS là thước đo của sự tiến bộ và phát triển xã hội. Trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện và bảo đảm quyền của người DTTS ở nước ta./.

ThS. Đồng Ngọc Dám

Học viện Chính trị khu vực I

[1].https://baolaocai.vn/ca-nuoc-co-30-tinh-thanh-pho-day-tieng-dan-toc-thieu-so-post385569.html#:~:text=30%20t%E1%BB%89nh% 20th%C3%A0nh%20ph%E1%BB%91%20tri%E1%BB%83n%20khai%20d%E1%BA%A1y%20ti%E1%BA%BFng%20DTTS&text=Nhi%

E1%BB%81u%20t%E1%BB%89nh%2Fth%C3%A0nh%20ph%E1%BB%91%20%C4%91%C3%A3,%2C%20B%C3%ACnh%20Thu%

E1%BA%ADn%2C...

[2]. Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc, Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2019, tr. 42.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: