Thứ bảy 16/05/2026 06:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tham dự của điều tra viên tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những khó khăn, bất cập trong quy định của pháp luật về sự tham dự của điều tra viên tại phiên tòa, từ đó, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những khó khăn, bất cập trong quy định của pháp luật về sự tham dự của điều tra viên tại phiên tòa, từ đó, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: Within the scope of this article, the author analyzes the difficulties and inadequacies in the provisions of the law on the participation of investigators at the trial, from which, proposes to improve the law on this issue.

1. Quy định của pháp luật về sự tham dự của điều tra viên tại phiên tòa và những khó khăn, bất cập

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có những quy định liên quan đến việc điều tra viên có mặt tại phiên tòa. Tuy vậy, thực tế cho thấy vẫn có trường hợp điều tra viên được Tòa án triệu tập đến khi phát sinh một số vấn đề, điển hình là bị cáo phản cung, cho rằng bị điều tra viên bức cung, nhục hình trong quá trình điều tra. Do không có cơ sở pháp lý nên việc Tòa án triệu tập điều tra viên gặp khó khăn, nhất là về tư cách tham gia tố tụng của điều tra viên và quyền, nghĩa vụ của họ khi tham dự phiên tòa.

Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn hiện hành đã quy định việc tham dự của điều tra viên tại phiên tòa trong những trường hợp cần thiết. Quy định của pháp luật và quá trình triển khai thực hiện các quy định này đã nảy sinh những vấn đề sau:

Một là, về việc triệu tập điều tra viên:

Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án”.

Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chỉ có Hội đồng xét xử mới có quyền triệu tập điều tra viên đến phiên tòa, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án không có quyền này. Do vậy, nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm phán xét thấy cần sự có mặt của điều tra viên tại phiên tòa thì thẩm phán không có quyền triệu tập điều tra viên. Việc triệu tập phải đợi đến quá trình xét xử tại phiên tòa, khi Hội đồng xét xử thảo luận, thống nhất ý kiến thì mới được triệu tập điều tra viên đến phiên tòa.

Hiện nay, do chưa có văn bản hướng dẫn thi hành Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên việc xác định như thế nào là “xét thấy cần thiết” đang có nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào nhận định chủ quan của Hội đồng xét xử ở các Tòa án thụ lý vụ án. Hội đồng xét xử triệu tập điều tra viên khi xét thấy cần họ có mặt tại phiên tòa để trình bày các vấn đề có liên quan đến vụ án hoặc theo yêu cầu của luật sư hay người tham gia tố tụng và Hội đồng xét xử nhận thấy các yêu cầu đó là có căn cứ.

Thực tế xét xử tại các Tòa án, Hội đồng xét xử thường triệu tập điều tra viên đến phiên tòa trong các trường hợp sau:

- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, bị cáo có đơn khiếu nại, tố cáo phản ánh trong quá trình điều tra vụ án, điều tra viên đã bắt buộc bị can phải ký khống các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, sau đó, điều tra viên tự điền nội dung vào các biên bản trên. Từ đó, bị cáo cho rằng, lời khai không phản ánh sự thật khách quan của vụ án. Vấn đề này vẫn chưa được làm rõ cho đến giai đoạn xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định triệu tập điều tra viên để trình bày ý kiến.

- Trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo phủ nhận lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra. Bị cáo có khiếu nại và tố cáo cho rằng, điều tra viên đã có hành vi bức cung, mớm cung, dùng nhục hình buộc bị cáo phải khai theo ý muốn chủ quan của điều tra viên; các nội dung được ghi nhận trong các biên bản hỏi cung bị can không khách quan, không đúng sự thật của vụ án. Trong phần xét hỏi, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xác minh lời khai của bị cáo, cần triệu tập điều tra viên để làm rõ.

- Tại phiên tòa, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị cáo; người làm chứng, người bị hại và người liên quan có ý kiến cho rằng nội dung bản kết luận điều tra vụ án của cơ quan điều tra là không có căn cứ, không khách quan, không đúng với bản chất vụ việc và tố cáo điều tra viên có những hành vi tố tụng trái pháp luật như: Giả mạo tài liệu, chứng cứ; tạo ra các tài liệu, chứng cứ không có thật… dẫn đến làm sai lệch hồ sơ vụ án, ảnh hưởng đến quyền của bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác. Do vậy, những người tham gia tố tụng này đã đề nghị Hội đồng xét xử triệu tập điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ nội dung tố cáo.

- Quá trình xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy điều tra viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng (phổ biến là: Chứng cứ để chứng minh đối với vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa, thêm bớt dẫn đến sai lệch hồ sơ vụ án; có căn cứ để xác định có việc bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật; xử lý vật chứng không đúng quy định…). Những vi phạm này của điều tra viên có khả năng dẫn đến việc Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP). Để có cơ sở quyết định việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Hội đồng xét xử triệu tập điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ.

- Trong quá trình xét xử, những người tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến…) cho rằng, trong quá trình điều tra, điều tra viên không bảo đảm các quyền của họ khi tham gia tố tụng như: Từ chối yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự; không phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ khi được triệu tập đến làm việc… Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải triệu tập điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ vấn đề.

- Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có nghi ngờ về tính khách quan của tài liệu, chứng cứ do điều tra viên thu thập trong quá trình điều tra hoặc theo đề nghị của kiểm sát viên giữ quyền công tố, nếu xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử có thể triệu tập điều tra viên thụ lý vụ án đến phiên tòa để trình bày các vấn đề có liên quan.

Như vậy, về cơ bản, các Tòa án triệu tập điều tra viên thường trong các trường hợp như đã viện dẫn trên đây. Tuy nhiên, do nhận thức không giống nhau về sự cần thiết phải triệu tập điều tra viên đến phiên tòa, nên có trường hợp cùng tính chất vụ việc nhưng có nơi triệu tập điều tra viên, có nơi lại thấy không cần thiết phải triệu tập. Ngoài ra, cũng có trường hợp luật sư cố tình lợi dụng quy định này, yêu cầu triệu tập điều tra viên để tìm cách gây áp lực cho họ tại phiên tòa (do biết điều tra viên bị hạn chế trong việc phát biểu ý kiến trước đám đông và có thể bị mất bình tĩnh khi bị kích động). Nếu điều tra viên không có kỹ năng phát biểu tại phiên tòa và không được chuẩn bị tâm lý tốt thì dễ bị luật sư hoặc bị cáo kích động làm ảnh hưởng đến nội dung bị can khai báo trong quá trình điều tra.

Một số vấn đề khác nảy sinh trong quá trình triệu tập điều tra viên đến phiên tòa là: Có nên dùng từ “triệu tập” đối với điều tra viên không? Nếu điều tra viên cố tình vắng mặt khi được Hội đồng triệu tập thì bị xử lý như thế nào, có bị dẫn giải không? Có ý kiến cho rằng, dùng từ “triệu tập” là không phù hợp vì người bị triệu tập nếu cố tình không chấp hành thì có thể bị dẫn giải. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điều tra viên không thuộc đối tượng bị dẫn giải. Do chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên việc xử lý điều tra viên cố tình không chấp hành khi được triệu tập còn nhiều khó khăn trên thực tế.

Hai là, về tư cách tố tụng của điều tra viên khi tham dự phiên tòa:

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định về tư cách tố tụng của điều tra viên khi tham dự phiên tòa và các văn bản pháp luật hiện hành cũng không đề cập đến vấn đề này. Do thiếu văn bản hướng dẫn thi hành nên Tòa án các địa phương xác định tư cách tố tụng của điều tra viên khi tham dự phiên tòa theo các hướng khác nhau và tương ứng với tư cách đó là quyền, nghĩa vụ của họ. Cụ thể là:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Điều tra viên là người tiến hành tố tụng khi tham dự phiên tòa. Theo quan điểm này, điều tra viên sẽ có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo quy định tại điều luật này, điều tra viên chỉ có các quyền hạn và trách nhiệm như: Giải quyết nguồn tin về tội phạm; khởi tố, tiến hành các biện pháp điều tra, các biện pháp cưỡng chế… Theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điều tra viên chỉ là người tiến hành tố tụng trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra tội phạm. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành tố tụng của điều tra viên đã hoàn tất ở giai đoạn điều tra; khi được Hội đồng xét xử triệu tập tham dự phiên tòa, điều tra viên không thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn với tư cách là người tiến hành tố tụng nữa. Do vậy, điều tra viên không phải là người tiến hành tố tụng khi tham dự phiên tòa. Với phân tích trên, quan điểm thứ nhất là không chính xác.

- Quan điểm thứ hai cho rằng: Khi tham dự phiên tòa điều tra viên là người tham gia tố tụng với vai trò là người làm chứng hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng, điều tra viên tham dự phiên tòa thường được yêu cầu trình bày, giải thích về các hoạt động tố tụng do mình đã thực hiện trong quá trình điều tra, đây là nhiệm vụ của người tham gia tố tụng. Thực tế cũng cho thấy, một số Hội đồng xét xử triệu tập điều tra viên tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Quan điểm và thực tế vận dụng này cũng không phản ánh đúng vị trí, vai trò của điều tra viên tại phiên tòa. Thêm vào đó, điều tra viên cũng không thể có các quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án[1] hoặc của người làm chứng[2].

Như vậy, việc xác định điều tra viên tham dự phiên tòa với tư cách người tiến hành tố tụng hay người tham gia tố tụng (với tư cách là người làm chứng hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án) đều không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ của điều tra viên khi tham dự phiên tòa. Thực tế cho thấy, Chủ tọa phiên tòa lúng túng khi áp dụng điều luật nào của Bộ luật Tố tụng hình sự để phổ biến quyền và nghĩa vụ của điều tra viên khi họ tham dự phiên tòa. Nếu xác định điều tra viên khi tham dự phiên tòa là người tiến hành tố tụng thì không cần giải thích quyền và nghĩa vụ của họ. Nhưng nếu xác định điều tra viên là người tham gia tố tụng thì cũng không có điều luật nào phù hợp để phổ biến quyền và nghĩa vụ cho họ. Ngoài ra, do không xác định rõ được tư cách tố tụng của điều tra viên nên quy định phòng xử án cũng không quy định bố trí cho điều tra viên được ngồi ở vị trí nào, đại diện cho cơ quan, cá nhân hay quyền lợi của bên nào.

Ba là, vấn đề xét hỏi điều tra viên tại phiên tòa:

Ví dụ: Trong vụ án “Bác sĩ L” bị đưa ra xét xử về tội “Vô ý làm chết người”. Quá trình xét xử vụ án này, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh H đã cho phép luật sư bào chữa cho bị cáo L hỏi điều tra viên về việc tiến hành thủ tục lấy lời khai đối với bị cáo L và người làm chứng trong quá trình điều tra. Hành động này của Hội đồng xét xử có đúng quy định của pháp luật hay không?

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến thủ tục xét hỏi tại phiên tòa[3], điều tra viên khi tham dự phiên tòa không thuộc đối tượng bị xét hỏi mà chỉ trình bày ý kiến về những vấn đề do Hội đồng xét xử yêu cầu. Điều 317 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử”.

Như vậy, đối với vụ án “Bác sĩ L” được viện dẫn trên đây, việc Hội đồng xét xử cho phép luật sư xét hỏi điều tra viên là không đúng quy định của pháp luật và hành động này đã làm giảm uy tín của điều tra viên nói riêng, Cơ quan Cảnh sát điều tra nói chung. Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng không quy định nội dung Hội đồng xét xử có thể yêu cầu điều tra viên trình bày ý kiến. Trong quá trình điều tra, điều tra viên có thể áp dụng các biện pháp nghiệp vụ mang tính bí mật, theo quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, không được phép trình bày trước phiên tòa. Như vậy, khi Hội đồng xét xử yêu cầu điều tra viên trình bày những nội dung này thì họ có quyền từ chối. Tuy nhiên, do chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên thực tế áp dụng còn gặp nhiều khó khăn.

Bốn là, vấn đề tranh luận của điều tra viên khi được triệu tập đến phiên tòa:

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[4], điều tra viên khi được triệu tập đến phiên tòa không phải là người tham gia tranh luận. Điều 317 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được viện dẫn trên đây cũng quy định điều tra viên chỉ được Hội đồng xét xử yêu cầu trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra. Vấn đề là: Nếu bị cáo hoặc người bào chữa cho bị cáo không chấp nhận lời trình bày của điều tra viên, cho rằng hành vi tố tụng của điều tra viên là vi phạm pháp luật, khi đó điều tra viên có được tranh luận, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình hay không? Nếu điều tra viên không có quyền tranh luận thì việc Hội đồng xét xử triệu tập họ đến phiên tòa có đạt được mục đích không và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử có được bảo đảm không? Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án”. Do chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này nên trong thực tiễn xét xử, các Tòa án đã vận dụng quy định không thống nhất.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sự tham dự của điều tra viên tại phiên tòa

Trên cơ sở những khó khăn, bất cập về quy định của pháp luật và trong thực tiễn xét xử như đã phân tích trên đây, tác giả có những kiến nghị như sau:

Một là, kiến nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn thi hành Điều 296 và Điều 317 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc triệu tập điều tra viên đến phiên tòa. Nghị quyết này cần đề cập:

- Giải thích rõ “xét thấy cần thiết” trong quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được hiểu như sau:

+ Người tham gia tố tụng khiếu nại, tố cáo điều tra viên về những quyết định, hành vi tố tụng của họ trong giai đoạn điều tra, trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung khiếu nại, tố cáo có thể ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án và cần triệu tập điều tra viên để làm rõ.

+ Trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo phủ nhận lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra. Bị cáo có khiếu nại và tố cáo cho rằng điều tra viên đã có hành vi bức cung, mớm cung, dùng nhục hình buộc bị cáo phải khai theo ý muốn chủ quan của điều tra viên. Trong phần xét hỏi, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xác minh lời khai của bị cáo, cần triệu tập điều tra viên để làm rõ.

+ Trong quá trình xét xử, những người tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến…) cho rằng, trong quá trình điều tra, điều tra viên không bảo đảm các quyền của họ khi tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải triệu tập điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ vấn đề.

+ Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có nghi ngờ về tính khách quan của tài liệu, chứng cứ do điều tra viên thu thập trong quá trình điều tra; hoặc theo đề nghị của kiểm sát viên giữ quyền công tố nếu xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử có thể triệu tập điều tra viên thụ lý vụ án đến phiên tòa để trình bày các vấn đề có liên quan.

+ Quá trình xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy điều tra viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Để có cơ sở quyết định việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Hội đồng xét xử triệu tập điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ.

- Giải thích rõ “xét thấy cần thiết” trong quy định tại Điều 317 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được hiểu bao gồm các điều kiện sau:

+ Khi thuộc các trường hợp cần thiết triệu tập điều tra viên đến phiên tòa theo Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

+ Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu điều tra viên trình bày ý kiến.

+ Nội dung yêu cầu điều tra viên cho ý kiến chỉ liên quan đến những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra của điều tra viên đó.

+ Đối với các nội dung liên quan đến bí mật công tác, bí mật nhà nước, điều tra viên có quyền từ chối trình bày ý kiến và Hội đồng xét xử có quyền không chấp nhận đề nghị của người tham gia tố tụng tiếp tục hỏi về nội dung này.

- Điều tra viên khi tham dự phiên tòa không thuộc đối tượng bị xét hỏi mà chỉ trình bày ý kiến về những vấn đề do Hội đồng xét xử yêu cầu.

- Điều tra viên khi được triệu tập đến phiên tòa không phải là người tham gia tranh luận những vấn đề có liên quan đến tội phạm và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Tuy nhiên, đối với những vấn đề liên quan đến lý do triệu tập điều tra viên tham dự phiên tòa theo Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì họ có quyền tranh luận, đưa ra minh chứng để làm rõ ý kiến trình bày của mình.

Hai là, liên ngành tư pháp trung ương có ý kiến đề nghị Quốc hội chỉnh sửa, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Nội dung sửa đổi, bổ sung các điều luật theo hướng: Bổ sung chủ thể triệu tập điều tra viên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu xét thấy cần thiết; bổ sung quy định về tư cách tố tụng của điều tra viên khi được triệu tập tham dự phiên tòa; bổ sung quy định xử lý đối với trường hợp điều tra viên không có mặt khi được triệu tập. Cụ thể là:

- Sửa đổi, bổ sung Điều 296 (phần in nghiêng) như sau:

1. Trong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể triệu tập điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án.

2. Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ̣ lý, giải quyết vụ án tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập và với tư cách là người tham gia tố tụng.

3. Trường hợp người được triệu tập vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.

- Bổ sung 1 khoản mới vào Điều 55 (Người tham gia tố tụng) như sau: Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác được triệu tập đến phiên tòa.

- Bổ sung điều mới về điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác được triệu tập đến phiên tòa (Điều 70a):

1. Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác được Hội đồng xét xử, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án triệu tập đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án.

2. Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ̣ lý, giải quyết vụ án và những người khác được triệu tập đến phiên tòa có quyền:

a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

b) Chỉ trình bày ý kiến theo yêu cầu của Hội đồng xét xử để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; nếu cần thiết có thể tranh luận, đưa ra minh chứng để bảo vệ ý kiến của mình;

c) Trình bày ý kiến về tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

d) Từ chối trình bày các ý kiến liên quan đến bí mật công tác, bí mật nhà nước;

đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia phiên tòa;

e) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật;

g) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

3. Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác được triệu tập đến phiên tòa có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của Hội đồng xét xử hoặc thẩm phán được phân công giải quyết vụ án;

b) Trình bày trung thực những nội dung theo yêu cầu của Hội đồng xét xử;

c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

TS. Hoàng Đức Mạnh
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân



[1]. Khoản 2, khoản 3 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Khoản 3, khoản 4 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Xem các Điều 309, 310, 311, 316, 317 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Xem các Điều 320, 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.
Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Tình trạng tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại ngày càng phổ biến, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý số dư các tài khoản này. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm tài khoản không xác định được chủ sở hữu, đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó, đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, minh bạch điều chỉnh các tài khoản này.
Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: