Thứ sáu 08/05/2026 22:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi

Bài viết đề cập đến những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), đồng thời phân tích một số chính sách, định hướng sửa đổi chính trong Dự án Luật sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế.

1. Một số vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Có thể nhận thấy, sau hơn 15 năm triển khai thực hiện, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) - sau đây gọi tắt là Luật Bảo hiểm y tế đã thực sự đi vào cuộc sống, khẳng định tính đúng đắn, phù hợp của việc ban hành Luật và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận đặc biệt là trong việc bảo đảm quyền lợi khám, chữa bệnh của người dân. Công tác quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các chính sách bảo hiểm y tế ngày càng được tăng cường, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo hiểm y tế cũng đã được chú trọng, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị.

Thời gian qua, người tham gia bảo hiểm y tế ngày càng được hưởng lợi nhiều hơn về chất lượng dịch vụ, thủ tục trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo hướng cải cách, đơn giản, tiết kiệm thời gian cho người tham gia. Đáng chú ý, việc cải cách như: Sử dụng thẻ căn cước công dân, hình ảnh thẻ bảo hiểm y tế trên ứng dụng VssID để đi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế thay cho thẻ giấy; ứng dụng sinh trắc học tại cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế được người dân hưởng ứng, đánh giá cao. Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế được điều chỉnh phù hợp, đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh. Người nghèo và các đối tượng chính sách, người có công, trẻ em dưới 06 tuổi đều đã được tạo điều kiện tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ y tế. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ y tế, quản lý bệnh viện, giám định bảo hiểm y tế được thực hiện hiệu quả.

Với những lợi ích được hưởng từ chính sách bảo hiểm y tế, hầu hết người dân đều tích cực, chủ động tham gia. Tỷ lệ bao phủ phủ bảo hiểm y tế năm sau luôn cao hơn năm trước, tăng từ 91,01% dân số (năm 2021) lên 92,04% (năm 2022) và trong 9 tháng đầu năm 2023 đã bao phủ 92,4% dân số Theo thống kê, thực tế có khoảng 60 - 70% người tham gia bảo hiểm y tế sử dụng thẻ để đi khám, chữa bệnh; tần suất khám, chữa bệnh của người dân từ khoảng 02 lần/năm; số người hưởng chế độ, chính sách bảo hiểm y tế ngày càng tăng. Tính hết tháng 9/2023, cả nước đã có 127.475.188 lượt người đi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2022; số tiền Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán là hơn 88,3 nghìn tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2022[1].

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Bảo hiểm y tế đã phát sinh những hạn chế, vướng mắc, bất cập cụ thể như sau:

Thứ nhất, về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế: Việc quy định hộ gia đình là “một nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế” chưa tương thích với việc phân nhóm đối tượng tham gia theo “trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế”. Mức đóng và việc giảm trừ mức đóng cho các thành viên hộ gia đình khi cùng tham gia bảo hiểm y tế chưa thực sự công bằng so với các nhóm đối tượng khác, trong đó có học sinh, sinh viên. Cụ thể, đối tượng tham gia theo hộ gia đình chỉ áp dụng mức đóng như các đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ tính theo mức lương cơ sở như đối tượng thuộc hộ nghèo, trẻ em dưới 06 tuổi và còn được giảm trừ mức đóng từ thành viên thứ hai trở đi. Trong khi đó, việc tham gia bảo hiểm y tế của học sinh, sinh viên chưa bảo đảm quyền lợi trong trường hợp học sinh, sinh viên đồng thời là thành viên của hộ gia đình dẫn đến mức đóng của học sinh, sinh viên cao hơn khi so sánh với mức đóng của họ khi tham gia với tư cách là đối tượng thành viên hộ gia đình.

Thứ hai, về phạm vi được hưởng của bảo hiểm y tế: Vẫn còn một số dịch vụ y tế thuộc phạm vi khám, chữa bệnh nhưng lại chưa được quy định trong phạm vi hưởng bảo hiểm y tế gây ra nhiều thiệt thòi cho người dân khi tham gia bảo hiểm y tế, như: Khám, chuẩn đoán nguy cơ, tình trạng sức khỏe và điều trị sớm một số bệnh; khám sức khỏe định kỳ; dinh dưỡng trong điều trị; vật tư y tế hỗ trợ sử dụng trong phục hồi chức năng…

Thứ ba, về đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu, thông tuyến, chuyển tuyến: Hiện nay, theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế thì việc đăng ký cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban đầu là theo địa giới hành chính. Quy định này cơ bản là phù hợp. Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc thù như bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo thì người dân lại chưa được tự đi khám và điều trị ở tuyến trên trong khi tuyến dưới chưa có đủ năng lực chuyên môn và đều phải chuyển tuyến. Một số bệnh mãn tính chưa được đưa về y tế cơ sở để quản lý và cấp thuốc của tuyến trên, từ đó làm hạn chế quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế và thủ tục chuyển tuyến không cần thiết.

Ngoài ra, các quy định về đăng ký khám chữa bệnh ban đầu còn nặng nề về hành chính, chưa thuận lợi khi người bệnh đi khám chữa bệnh tại cơ sở khám chữa bệnh khác ở tuyến tương đương hoặc tuyến thấp hơn, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bệnh. Thủ tục chuyển tuyến, cấp giấy chuyển tuyến có lúc, có nơi còn có tình trạng gây phiền hà cho người bệnh, thậm chí có trường hợp còn phát sinh tiêu cực, gây bức xúc cho người bệnh.

Tính đến cuối năm 2023, toàn quốc có gần 10.000 trạm y tế xã có khám chữa bệnh ban đầu. Tuy nhiên, chỉ tính riêng năm 2022, số lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại các cơ sở này chỉ chiếm 14%. Trong khi số lượt khám chữa bệnh nội trú trái tuyến tại tuyến tỉnh tăng cao. Nguyên nhân là do, từ ngày 01/01/2016 thông tuyến khám chữa bệnh giữa trạm y tế tuyến xã, phòng khám đa khoa và bệnh viện tuyến huyện; từ ngày 01/01/2021 thông tuyến tỉnh trên toàn quốc đối với khám chữa bệnh nội trú. Việc thông tuyến này tạo ra nhiều vướng mắc liên quan đến tuyến, vượt tuyến, chuyển tuyến gây tình trạng quá tải trở lại đối với tuyến trên và giảm tỷ lệ khám chữa bệnh ban đầu tại y tế cơ sở[2].

Bên cạnh đó, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 ra đời với quy định 03 cấp chuyên môn kỹ thuật thay cho tuyến chuyên môn kỹ thuật, hạng bệnh viện không còn là một căn cứ tính giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Do vậy, cần sửa đổi, điều chỉnh các nội dung liên quan đến tuyến chuyên môn kỹ thuật, hạng bệnh viện trong Luật Bảo hiểm y tế để dồng bộ với Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 bảo đảm quản lý bảo hiểm y tế và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tương thích với nhau.

Thứ tư, về mức đóng bảo hiểm y tế: Hiện nay, quy định về mức đóng bảo hiểm y tế chưa cân đối với mức hưởng và phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế. Luật Bảo hiểm y tế quy định mức đóng tối đa lên đến 6% nhưng chưa có cơ chế và lộ trình để Chính phủ có căn cứ tăng mức đóng trong khi nhu cầu mở rộng phạm vi chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế ngày càng cao. Hơn nữa, hiện nay, mức đóng, mệnh giá trung bình của thẻ bảo hiểm y tế tại Việt Nam đang thấp hơn nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Theo Bộ Y tế, trong những năm tới, dự kiến sẽ có sự gia tăng chi đáng kể từ Quỹ Bảo hiểm y tế do tăng giá dịch vụ y tế khi thực hiện tính đúng, tính đủ các cấu phần chi phí, tăng mức quyền lợi được hưởng khi có điều chỉnh trong chính sách bảo hiểm y tế và tăng nhu cầu sự dụng dịch vụ của người dân. Từ sau đại dịch Covid-19, tỷ lệ khám, chữa bệnh nội trú và ngoại trú của người dân có dấu hiệu tăng trở lại, thậm chí còn cao hơn giai đoạn trước dịch. Cùng với đó, gói quyền lợi bảo hiểm y tế vẫn đang tiếp tục được xem xét điều chỉnh và bổ sung nhiều dịch vụ kỹ thuật, thuốc mới vào phạm vi chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế. Thêm vào đó là xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng. Hệ thống y tế phải đối diện với những bệnh tật phổ biến ở nhóm người cao tuổi như các bệnh mạn tính với chi phí điều trị tốn kém[3].

Thứ năm, về tên gọi của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Luật Bảo hiểm y tế chưa bao phủ đầy đủ các loại hình cơ sở khám, chữa bệnh hiện nay. Việc quy định chưa đầy đủ dẫn đến việc phải xác định “tuyến tương đương” hoặc khó khăn trong định danh các cơ sở y tế không có tên gọi là “cơ sở khám, chữa bệnh”, “bệnh viện”.

Thứ sáu, về giám định bảo hiểm y tế: Khái niệm giám định quy định trong Luật Bảo hiểm y tế còn rộng hơn so với bản chất của công tác giám định là chỉ tập trung vào kiểm soát chi phí, kiểm soát thanh toán. Mặc dù, đây là hoạt động đặc trưng trong lĩnh vực bảo hiểm y tế, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người hành nghề, chất lượng dịch vụ y tế và cả Quỹ Bảo hiểm y tế, nhưng Luật Bảo hiểm y tế thiếu các quy định về nguyên tắc giám định, cách thức giám định, điều kiện thực hiện giám định và phương thức xử lý trong trường hợp các bên không thống nhất kết quả giám định. Luật cũng chưa quy định đầy đủ về trách nhiệm, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về y tế và bảo hiểm y tế; chưa cụ thể, rõ ràng về quyền và trách nhiệm của cán bộ giám định bảo hiểm y tế, tiêu chuẩn chức danh của người làm công tác giám định bảo hiểm y tế…

Thứ bảy, về quản lý và sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế: Mặc dù, Quỹ Bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất trên toàn quốc (một quỹ duy nhất) nhưng Luật Bảo hiểm y tế lại quy định về cách thức xử lý khi có kết dư hoặc thiếu hụt quỹ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (tính trên thực tế số thu bảo hiểm y tế) tại các tỉnh, thành phố. Điều này dẫn đến chưa đồng bộ, nhất quán trong cách thức quy định của Luật. Đồng thời, quy định này cũng dẫn đến việc điều tiết nguồn Quỹ Bảo hiểm y tế và thanh toán chi phí bị thay đổi tùy thuộc vào bối cảnh, thậm chí là khác nhau theo từng tỉnh, từng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Thứ tám, về trách nhiệm các bên liên quan trong thực hiện chính sách bảo hiểm y tế: Việc quy định đối tượng tham gia, điều chỉnh mức đóng bảo hiểm y tế, phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế, cung ứng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, cung ứng thuốc và vật tư y tế, quản lý Quỹ Bảo hiểm y tế cần có cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan. Luật Bảo hiểm y tế chưa có quy định về trách nhiệm tham gia của các cơ quan, tổ chức liên quan đến bảo hiểm y tế trong triển khai thực hiện các biện pháp để bảo đảm các nguyên tắc về bảo hiểm y tế cũng như sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế hiệu quả.

Thứ chín, về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm y tế: Luật Bảo hiểm y tế còn thiếu các quy định cụ thể về nội dung liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý thẻ bảo hiểm y tế, giám định bảo hiểm y tế, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh… Các quy định nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong công tác quản lý của bộ, ngành có liên quan và tại các cơ sở khám, chữa bệnh.

Thứ mười, về tính phù hợp của Luật Bảo hiểm y tế với các luật mới có liên quan: Theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 thì thuật ngữ “khám bệnh, chữa bệnh” đã được sửa đổi với nội hàm rộng hơn bao gồm cả chuẩn đoán và phát hiện bệnh sớm, dinh dưỡng điều trị, phục hồi chức năng… Đồng thời, theo Luật Căn cước công dân năm 2023, khái niệm “hộ gia đình” đã được thay đổi. Do vậy, Luật Bảo hiểm y tế cũng phải sửa đổi cho đồng bộ để bảo đảm thuận lợi cho công tác quản lý bảo hiểm y tế, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, từ đó bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.

2. Những chính sách, định hướng chính sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế

Theo Bộ Y tế, cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế để giải quyết các vướng mắc, bất cập phát sinh có tính cấp bách nhằm tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả Quỹ Bảo hiểm y tế, bảo đảm thống nhất với Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023. Theo đó, Tờ trình đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế đề xuất sửa đổi, bổ sung 05 nhóm chính sách cụ thể như sau[4]:

Một là, điều chỉnh đối tượng tham gia bảo hiểm y tế đồng bộ với các quy định của pháp luật có liên quan. Theo đó, cần mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế đến các nhóm đối tượng mà Luật Bảo hiểm y tế chưa bao phủ hết. Muốn vậy cần rà soát tất cả các nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế đang được quy định tại các văn bản hiện hành, kể cả văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan để không bỏ sót các đối tượng như: Nhóm đối tượng là người tham gia kháng chiến, dân quân tự vệ thường trực, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành… Cân nhắc thêm việc đưa các đối tượng chưa đủ giấy tờ tùy thân hay chứng minh về nhân thân vào quy định là đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế trong Luật, bởi, tất cả các đối tượng đều phải được xác nhận về nhân thân theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hai là, điều chỉnh phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế phù hợp với mức đóng, cân đối với Quỹ Bảo hiểm y tế và yêu cầu chăm sóc sức khỏe trong từng giai đoạn. Theo đó, việc mở rộng phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế, bổ sung một số dịch vụ về chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám sàng lọc, phát hiện sớm một số bệnh, sử dụng vắc-xin phòng bệnh được Quỹ Bảo hiểm chi trả cần phải được nghiên cứu kỹ để bảo đảm nguyên tắc phạm vi quyền lợi phù hợp với khả năng chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế. Để thực hiện chính sách này, một đề xuất đáng chú ý là người tham gia bảo hiểm y tế được quyền mua thêm các gói bảo hiểm y tế bổ sung để chi trả cho phần cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh.

Ba là, điều chỉnh đa dạng hóa các loại hình cơ sở cung ứng dịch vụ y tế, tăng cường chăm sóc sức khỏe ban đầu tại tuyến cơ sở. Theo đó, bổ sung các loại hình cung ứng dịch vụ y tế như: Trung tâm chuẩn đoán hình ảnh, nhà thuốc, trung tâm xét nghiệm, cấp cứu, vận chuyển người bệnh… Tuy nhiên, để làm được điều này thì Bộ Y tế cần ban hành các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện để các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế được tham gia vào hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Bốn là, nâng cao hiệu quả, chất lượng quản lý và điều hành bảo hiểm y tế, trách nhiệm của cơ sở cung ứng dịch vụ y tế và cơ quan bảo hiểm xã hội trong hoạt động giám định bảo hiểm y tế. Với nội dung tập trung nâng cao hiệu quả công tác giám định, Dự thảo Luật đề xuất bổ sung nhiều đối tượng khác tham gia hoạt động này cùng với cơ quan Bảo hiểm xã hội; đồng thời chuẩn hóa công tác giám định, yêu cầu cấp chứng chỉ hành nghề cho giám định viên.

Hiện nay, hoạt động giám định thực chất là kiểm soát chi phí khám chữa bệnh thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế. Quy trình giám định bảo hiểm y tế mà Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang thực hiện là các quy trình kiểm tra, đối chiếu hồ sơ đề nghị thanh toán với chỉ định trên hồ sơ bệnh án, để xác định sự phù hợp với các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh và các văn bản khác có liên quan. Các công việc này có thể do các cán bộ viên chức có chuyên môn nghiệp vụ khác nhau thực hiện như: Y, dược, tài chính, công nghệ thông tin. Điều này khác với hoạt động giám định tư pháp do các chuyên gia hoặc người có kiến thức chuyên sâu thực hiện[5]. Như vậy, vướng mắc chính trong công tác giám định bảo hiểm y tế hiện nay là do thiếu các quy chuẩn của công tác giám định cũng như thiếu các giám định viên (được cấp chứng chỉ hành nghề).

Năm là, phân bổ, sử dụng và quản lý Quỹ Bảo hiểm y tế hiệu quả. Theo đó, Bộ Y tế đang đề xuất phương án điều chỉnh chi phí quản lý tối đa từ 5% xuống 4% và giao Chính phủ quy định việc phân bổ, sử dụng quỹ quản lý bảo hiểm y tế; phần còn lại 1% bổ sung ngay vào quỹ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Cụ thể, theo Dự thảo Luật, 91% số tiền đóng bảo hiểm y tế dành cho khám chữa bệnh; 9% số tiền đóng bảo hiểm y tế dành cho quỹ dự phòng, chi phí quản lý Quỹ Bảo hiểm y tế. Mục tiêu của chính sách này nhằm quản lý, sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế trên nguyên tắc công khai, minh bạch, hiệu quả, kịp thời tập trung nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe của người tham gia bảo hiểm y tế[6].

Như vậy, việc sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế sẽ giúp bảo đảm quyền lợi bảo hiểm y tế phù hợp với nhu cầu của người dân trong chăm sóc sức khỏe, sự phát triển của xã hội, khả năng chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế; nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế; tạo công bằng, thuận lợi cho việc cung ứng, sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, nâng cao hiệu quả hoạt động của y tế cơ sở, quan tâm đến chăm sóc sức khỏe ban đầu, quản lý toàn diện sức khỏe của người dân.

ThS. Đỗ Thị Thanh Huyền

Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

[1]. Đảm bảo tốt chế độ, chính sách cho người tham gia bảo hiểm y tế, đăng tải trên trang web https://nhandan.vn/bao-dam-tot-che-do-chinh-sach-cho-nguoi-tham-gia-bao-hiem-y-te-post781164.html.

[2]. Vì sao chưa thể bỏ quy định chuyển tuyến khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, đăng tải trên trang web angcongsan.vn/y-te/vi-sao-chua-the-bo-quy-dinh-chuyen-tuyen-kham-chua-benh-bao-hiem-y-te-655582.html.

[3]. Lộ trình nâng dân mức đóng bảo hiểm y tế, đăng tải trên trang web https://vneconomy.vn/lo-trinh-nang-dan-muc-dong-bao-hiem-y-te.htm.

[4]. Bộ Y tế đề xuất sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế, đăng tải trên trang web: https://lsvn.vn/de-xuat-5-noi-dung-dieu-chinh-sua-doi-bo-sung-cua-luat-bao-hiem-y-te-1708932468.html

[5]. Dự thảo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi phải đảm bảo sự bền vững của chính sách, đăng tải trên trang web http://bhxhbqp.vn/bai-viet/du-thao-luat-bhyt-sua-doi-phai-dam-bao-su-ben-vung-cua-chinh-sach-2456.

[6]. Phân bổ, sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế hiệu quả, minh bạch, đăng tải trên trang web http://baokiemtoan.vn/phan-bo-su-dung-quy-bao-hiem-y-te-hieu-qua-minh-bach-30137.html.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 400), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: