Chủ nhật 03/05/2026 18:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước từ quy định áp thuế 5% với phân bón

Đây là một trong những điểm mới quan trọng của Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 8, được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm, mong đợi.

Bất cập khi phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế

Ngày 26/11/2014, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13. Theo đó, Điều 3 Luật này đã bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 với quy định phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định này cho thấy đã phát sinh những bất cập, hạn chế cần được xem xét, đánh giá lại. Cụ thể:

- Việc quy định mặt hàng phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng nên doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không được kê khai khấu trừ thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả hoạt động đầu tư, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho hoạt động sản xuất phân bón) mà phải tính vào chi phí sản phẩm làm cho giá thành sản xuất phân bón trong nước tăng cao và lợi nhuận giảm.

- Trong khi đó, đối với phân bón nhập khẩu được hưởng lợi do được chuyển sang không chịu thuế nhưng vẫn được hoàn toàn bộ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Điều này đã gây bất lợi lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước, nhất là trong bối cảnh xu thế cung vượt cầu trên thị trường phân bón thế giới giai đoạn 2015 - 2020 (trước thời điểm dịch Covid-19), giá phân bón trên thị trường thế giới giảm mạnh, làm giá thành phân bón sản xuất trong nước không cạnh tranh được với giá phân bón nhập khẩu, nên các doanh nghiệp trong nước đều tăng trưởng âm, một số đơn vị lỗ, có nguy cơ phá sản.

- Nếu còn tiếp tục quy định phân bón không thuộc đối tượng chịu thuế sẽ làm cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không cạnh tranh được với phân bón nhập khẩu, dẫn đến các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước phải đóng cửa. Điều này làm cho Việt Nam phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển nền nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực quốc gia, làm suy yếu năng lực sản xuất nông nghiệp, giảm tính cạnh tranh với các nước trong khu vực.

Chính vì vậy, cần phải có giải pháp khắc phục bất cập, giúp các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước phát triển, không bị suy giảm, ngừng sản xuất như giai đoạn trước.

Áp thuế phân bón góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước

Nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, thu hẹp đối tượng không chịu thuế, bảo đảm bình đẳng trong đối xử về thuế giữa ngành sản xuất phân bón với các ngành sản xuất khác trong nước, Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đã sửa đổi quy định hiện hành theo hướng đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế với mức thuế suất 5%. Áp dụng quy định này, doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Điều này làm giảm áp lực cho doanh nghiệp khi đầu tư, tạo thêm nguồn lực, động lực để ổn định, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, quy định này còn tạo điều kiện để doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Bởi lẽ, giá sản phẩm phân bón nhập khẩu sẽ tăng lên do phải chịu thuế giá trị gia tăng 5%, trong khi đó, vì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào nên giá thành sản xuất phân bón trong nước sẽ được giảm xuống, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Đồng thời, quy định đưa mặt hàng phân bón vào đối tượng chịu thuế với thuế suất 5% được đánh giá sẽ hỗ trợ phục hồi sản xuất phân bón trong nước, về dài hạn, sẽ góp phần xây dựng nền công nghiệp sản xuất phân bón trong nước phát triển bền vững, ổn định nguồn cung, không phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, làm cơ sở cho việc hạ giá thành mặt hàng này, qua đó kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững.

Băn khoăn tác động ảnh hưởng tới nông dân

Phân bón là loại vật tư nông nghiệp quan trọng số một trong sản xuất nông nghiệp của nước ta, chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá thành của trồng trọt, trong khi ngành trồng trọt hiện nay đang chiếm từ 64% đến 68% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp. Điều này cho thấy sự tác động rất lớn của chính sách liên quan đến phân bón, trong đó có chính sách thuế đối với sự phát triển nông nghiệp của đất nước. Chính vì vậy, chính sách này cần phải được phân tích, đánh giá thấu đáo, kỹ lưỡng.

Bên cạnh những đánh giá tác động tích cực khi quy định phân bón thuộc đối tượng chịu thuế 5%, cũng có quan điểm còn “băn khoăn”, “lo ngại” điều này sẽ làm giá thành phân bón tăng cao gây ảnh hưởng bất lợi cho nông dân. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng để bảo đảm lợi ích cho cả doanh nghiệp (được khấu trừ thuế) và người dân (không phải chịu mức giá có thuế) thì nên đưa phân bón thuộc đối tượng chịu thuế nhưng với mức thuế suất là 0%. Để làm rõ vấn đề này cần được nhìn nhận, xem xét qua một số đánh giá tác động như sau:

Thứ nhất, về giá thành mặt hàng phân bón:

Khi chịu thuế giá trị gia tăng với mức 5%, người nông dân sẽ mua sản phẩm phân bón với giá thành bao gồm cả thuế 5%. Tuy nhiên, doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào (thông thường là 10%), khi đó, giá thành sản xuất sẽ được giảm xuống, lợi nhuận tăng lên và đây là cơ sở để doanh nghiệp giảm giá sản phẩm hàng hóa, thực hiện khuyến mãi, hậu mãi. Về lâu dài, khi sản xuất phân bón trong nước phát triển, nguồn cung sẽ tăng lên cũng là yếu tố tác động trở lại làm giảm giá thành của sản phẩm. Do đó, nếu chỉ xét trên phương diện thuế thì không thể khẳng định khi áp thuế giá trị gia tăng 5%, giá sản phẩm sẽ tăng cao so với việc không phải chịu thuế, thậm chí giá còn có thể được giảm xuống. Đồng thời, nếu có tăng thì cũng chủ yếu là tăng giá phân bón nhập khẩu nhưng khi đó thì doanh nghiệp trong nước lại được lợi và người nông dân cũng sẽ được hưởng lợi nếu lựa chọn dùng hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến nghi ngại dù được khấu trừ thuế nhưng điều gì có thể bảo đảm doanh nghiệp sẽ giảm giá thành sản phẩm hàng hóa? Có thể thấy, thị trường phân bón vốn đang cạnh tranh rất khốc liệt nên khi có điều kiện giảm giá bán thì doanh nghiệp sẽ phải hạ giá để đẩy mạnh việc bán hàng, tiêu thụ sản phẩm. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trên thị trường mang tính cạnh tranh. Điều này đã được chứng minh trong suốt thời gian qua khi Nhà nước giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8%, các doanh nghiệp đều giảm giá tương ứng với khoản giảm 2% thuế đó, vì nếu không giảm giá sẽ không bán được hàng[1].

Thứ hai, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng 5% đối với mặt hàng phân bón là mức phù hợp, không nên áp dụng mức 0%, bởi lẽ, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã đánh giá tác động giữa 02 phương án là áp dụng mức thuế 0% và 5% với phân bón cho thấy: với kịch bản thuế suất 0%, theo dự báo, ngân sách nhà nước sẽ giảm thu 1.500 tỷ đồng, còn nếu áp thuế 5%, Nhà nước tăng thu 4.200 tỷ đồng[2]. Điều này có thể thấy, khi áp dụng với mức thuế suất 0%, ngân sách nhà nước bị thiệt hại khá lớn. Khi đó, ngân sách nhà nước phải chi để thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào cho doanh nghiệp sản xuất trong nước, trong khi đó lại không có nguồn thu thuế giá trị gia tăng từ cả phân bón sản xuất trong nước và phân bón nhập khẩu.

Từ những phân tích, đánh giá như vậy có thể thấy, quy định áp dụng thuế đối với mặt hàng phân bón 5% là phương án phù hợp có lợi không chỉ cho Nhà nước, cho doanh nghiệp mà còn có lợi cho cả người nông dân. Hy vọng rằng, các quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 nói chung và quy định về áp thuế phân bón 5% nói riêng sẽ thực sự phát huy hiệu quả tích cực trong thực tiễn.

Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, trừ trường hợp quy định về mức doanh thu của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế tại khoản 25 Điều 5 và Điều 17 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Uyên Nhi


[1] Tham khảo nguồn: https://tapchitoaan.vn/vi-sao-khi-ap-thue-gtgt-5-lai-tao-dieu-kien-giam-gia-phan-bon12453.html?gidzl=YDXgVOa76Lk8mcfxYHmONOF3RNYV61SAcCLXUPeP5mtDbsGYcqb40vsJCo6MIKLNbfKq8pCowq8NYmiGNm.

[2] Theo ý kiến phát biểu của ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguồn: https://nhandan.vn/ap-muc-thue-vat-0-hay-5-doi-voi-phan-bon-can-phai-can-nhac-that-ky-post819436.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: