Thứ sáu 11/09/2026 04:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Bài viết tập trung làm rõ quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), từ đó, đưa ra một số góp ý hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Quy định pháp luật về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Quy định của Luật Đất đai năm 2013 về cơ quan có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được ghi nhận tại Điều 59 Chương V về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Theo đó, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện như sau:

Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất đối với cơ sở tôn giáo; giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê[1]; cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh, đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê hoặc sử dụng đất để xây dựng công trình xây dựng[2]; cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định; giao đất đối với cộng đồng dân cư.

UBND cấp xã chỉ có thẩm quyền cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không được ủy quyền[3].

Ngoài ra, trong quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi có một trong các văn bản sau đây: Văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10 héc ta đất trồng lúa trở lên; từ 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10 héc ta đất trồng lúa; dưới 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.

Trong thời gian qua, thực hiện Luật Đất đai năm 2013, công tác quản lý, sử dụng đất đai đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng thẩm quyền để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khiến cho nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ và bền vững, gây nên tình trạng lãng phí, hiệu quả thấp... Những tồn tại, bất cập nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân như: Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu phát triển của đất nước; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan chưa bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ; giá đất chưa phản ánh thực tế thị trường; việc thực hiện pháp luật về đất đai có lúc, có nơi còn chưa nghiêm... Đây chính là lý do Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (Dự thảo) cần sớm được hoàn thiện. Tại Dự thảo, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất không có nhiều thay đổi so với Luật Đất đai năm 2013 mà vẫn thuộc về UBND các cấp giống như quy định của Luật Đất đai năm 2013 và được quy định tại Điều 123 Mục 1 Chương IX về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Tại Dự thảo, vị trí của điều luật điều chỉnh thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất có sự thay đổi từ Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 thành Điều 123 Dự thảo. Trong Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại Chương V về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đứng trước là Chương IV về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Song, đến Dự thảo, vị trí chương quy định về thẩm quyền này cũng được điều chỉnh đến Chương IX về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đứng trước là Chương VIII về phát triển quỹ đất.

Về cơ bản, so với Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong Dự thảo không có sự thay đổi lớn nhưng vẫn có một điểm mới như sau:

Một là, tại điểm b khoản 1 Điều 123 Dự thảo có điểm mới so với điểm b khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 khi thay cụm từ “cơ sở tôn giáo” thành “tổ chức tôn giáo”. Như vậy, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao đất đối với “tổ chức tôn giáo” chứ không phải với “cơ sở tôn giáo”. Căn cứ khoản 12 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, tổ chức tôn giáo được hiểu như sau: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo”[4]. Còn căn cứ theo khoản 4 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 và khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013, cơ sở tôn giáo được hiểu là: “Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo”[5].

“Tổ chức tôn giáo” và “cơ sở tôn giáo” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, nếu tổ chức tôn giáo là tập hợp một nhóm người là tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành... của một tôn giáo thì cơ sở tôn giáo là một địa điểm của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp của tổ chức tôn giáo. Như vậy, Dự thảo quy định, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao đất đối với tổ chức tôn giáo, nghĩa là đã chỉ rõ chủ thể cụ thể của một tôn giáo được Nhà nước giao đất, thay đổi quy định UBND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền giao đất cho một địa điểm nào đó của tổ chức tôn giáo như Luật Đất đai năm 2013, từ quy định này giúp UBND cấp tỉnh - cơ quan có thẩm quyền giao đất xác định rõ ràng thẩm quyền của mình trong quá trình trao lại quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

Hai là, điểm c khoản 1 Điều 123 Dự thảo có sự đổi mới hơn so với điểm c khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013. Cụ thể, Dự thảo không còn dẫn chiếu đến quy định liên quan của khoản 3 Điều 55 Luật Đất đai mà chỉ quy định về “giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Sự thay đổi này cho thấy, UBND có thẩm quyền quyết định giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và không cần có bất kỳ điều kiện là phải sử dụng đất vào mục đích nào như Luật Đất đai năm 2013 quy định.

Ba là, điểm d khoản 1 Điều 123 Dự thảo cũng có sự thay đổi so với điểm d khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể, Dự thảo không còn dẫn chiếu đến quy định liên quan tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2013 mà chỉ quy định “cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”[6]. Từ sự thay đổi này, theo Dự thảo, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cũng không cần có bất kỳ điều kiện sử dụng đất vào mục đích nào như trong quy định tại Luật Đất đai năm 2013.

Bốn là, khoản 1 Điều 122 Dự thảo có sự điều chỉnh về nội dung so với khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013. Cụ thể, nếu ở khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013 áp dụng với “dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư”[7] thì Dự thảo lại không quy định áp dụng cho dự án mà chỉ quy định chung là “đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất”[8]. Ngoài ra, khoản 1 Điều 122 Dự thảo chỉ còn quy định “cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất sau khi có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua và phù hợp với quy định tại Điều 116 của Luật này”[9]. Đây là sự điều chỉnh lớn so với khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013. Nội dung quy định như Dự thảo đã ngắn gọn và đơn giản hơn so với quy định của Luật Đất đai năm 2013, chỉ cần là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất mà sau khi có nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua và phù hợp với những căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất tại Điều 116 thì cơ quan có thẩm quyền sẽ được phép ra quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Theo nhóm tác giả, quy định như vậy là hợp lý và không làm mất đi tính chặt chẽ, thống nhất của nội dung này so với các nội dung liên quan khác.

Vấn đề quy định đối với thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất tại Dự thảo dù về cơ bản không mang đến sự thay đổi đáng kể, tuy nhiên, vẫn cho thấy một cách nhìn nhận mới hơn trong thẩm quyền trao quyền sử dụng đất của các cơ quan giữ trọng trách, đồng thời làm rõ được thẩm quyền UBND các cấp được phép giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho những đối tượng cụ thể nào. Nội dung thẩm quyền vẫn được giữ nguyên như quy định của Luật Đất đai năm 2013 thuộc về UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; thẩm quyền này của UBND cấp tỉnh và cấp huyện không được ủy quyền cho bất kỳ một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khác. Tiếp tục ghi nhận thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc về UBND các cấp nhằm phát huy tinh thần là tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đồng thời, thiết lập công cụ kiểm soát quyền lực của cơ quan và người có thẩm quyền trong quản lý đất đai nói chung và giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nói riêng. Việc giữ lại nội dung như Luật Đất đai năm 2013 trong Dự thảo nhằm củng cố, nhấn mạnh đến thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đến hiện tại là chưa có sự điều chỉnh nào quá lớn. Tuy nhiên, sự điều chỉnh một số chi tiết nhỏ trong Dự thảo về vấn đề thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất là điều cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế, phát huy nguồn lực đất đai để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

2. Một số góp ý hoàn thiện

Một là, giữ nguyên quy định tại điểm c khoản 1 Điều 123 Dự thảo như quy định tại điểm c khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013: Điểm c khoản 1 Điều 123 Dự thảo cần tiếp tục dẫn chiếu đến khoản 3 Điều 119 Dự thảo để xác định rõ được thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong quyết định giao đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với những mục đích nào, giao đất để thực hiện những hoạt động nào. Cụ thể, mục đích được giao đất phải là thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê. Ý nghĩa của quy định này xuất phát từ việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là những đối tượng đặc biệt mang yếu tố nước ngoài nên việc kiểm soát chặt chẽ mục đích hoạt động sử dụng đất của Việt Nam là một điều đáng lưu ý. Do đó, nếu quy định như Dự thảo thì phạm vi thẩm quyền giao đất sẽ mở rộng hơn, các chủ thể như người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có điều kiện được UBND cấp tỉnh giao đất nhiều hơn, sử dụng vào nhiều loại mục đích khác nhau hơn, nhờ đó mà kinh tế của Việt Nam được thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận sâu hơn ở góc độ quản lý xã hội và nguồn tài nguyên đất đai, việc không quy định rõ ràng UBND cấp tỉnh chỉ được có thẩm quyền quyết định giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê (khoản 3 Điều 119 Dự thảo) thì về lâu về dài sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát trong quản lý đất đai, thậm chí là sử dụng đất đai vào những mục đích không phù hợp, làm suy giảm chất lượng đất đai Việt Nam. Vì vậy, nhóm tác giả kiến nghị sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 123 Dự thảo như sau: “Giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này”.

Hai là, bổ sung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 123 Dự thảo cho phép UBND cấp huyện có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cả “cá nhân là người nước ngoài”[10]. Bởi vì, theo quy định tại Điều 123 Dự thảo thì “cá nhân” chỉ là cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài không được xem là người sử dụng đất, không được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Tuy nhiên, quy định này còn có điểm chưa phù hợp với các quy định tại các văn bản pháp luật khác, cụ thể, tại điểm b khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 quy định, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua “mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ”[11]. Khoản 2 Điều 14 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “Cá nhân nước ngoài được thuê các loại bất động sản để sử dụng; được mua, thuê, thuê mua nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở”[12]. Như vậy, theo quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Luật Nhà ở năm 2014 thì người nước ngoài được thừa nhận quyền sở hữu nhà ở nhưng theo Dự thảo thì lại không được UBND cấp huyện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Vì vậy, pháp luật cần có sự điều chỉnh để bảo đảm phù hợp với quy định của các văn bản khác và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người mua, giúp cho cơ quan có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất chủ động, linh hoạt hơn và trao quyền sử dụng đất cho những chủ thể phù hợp. Do đó, điểm a khoản 2 Điều 23 Dự thảo cần sửa lại như sau: “2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định”.

ThS. Đỗ Thị Lan Anh

Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh

ThS. Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Khoản 3 Điều 55 Luật Đất đai năm 2013.

[2]. Điểm d, điểm e khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Điều 59 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Khoản 12 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016.

[5]. Khoản 4 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016; khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013.

[6]. Điểm d khoản 1 Điều 123 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

[7]. Khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013.

[8]. Khoản 1 Điều 122 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

[9]. Khoản 1 Điều 122 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

[10]. Hồ Quân, Một số ý kiến góp ý về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), https://lsvn.vn/mot-so-y-kien-gop-y-ve-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi1676389226.html, truy cập ngày 28/5/2023.

[11]. Điểm b khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014.

[12]. Khoản 2 Điều 14 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

Theo dõi chúng tôi trên: