Thứ năm 30/04/2026 16:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Bài viết tập trung làm rõ quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), từ đó, đưa ra một số góp ý hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Quy định pháp luật về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Quy định của Luật Đất đai năm 2013 về cơ quan có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được ghi nhận tại Điều 59 Chương V về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Theo đó, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện như sau:

Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất đối với cơ sở tôn giáo; giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê[1]; cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh, đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê hoặc sử dụng đất để xây dựng công trình xây dựng[2]; cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định; giao đất đối với cộng đồng dân cư.

UBND cấp xã chỉ có thẩm quyền cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không được ủy quyền[3].

Ngoài ra, trong quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi có một trong các văn bản sau đây: Văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10 héc ta đất trồng lúa trở lên; từ 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10 héc ta đất trồng lúa; dưới 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.

Trong thời gian qua, thực hiện Luật Đất đai năm 2013, công tác quản lý, sử dụng đất đai đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng thẩm quyền để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khiến cho nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ và bền vững, gây nên tình trạng lãng phí, hiệu quả thấp... Những tồn tại, bất cập nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân như: Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu phát triển của đất nước; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan chưa bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ; giá đất chưa phản ánh thực tế thị trường; việc thực hiện pháp luật về đất đai có lúc, có nơi còn chưa nghiêm... Đây chính là lý do Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (Dự thảo) cần sớm được hoàn thiện. Tại Dự thảo, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất không có nhiều thay đổi so với Luật Đất đai năm 2013 mà vẫn thuộc về UBND các cấp giống như quy định của Luật Đất đai năm 2013 và được quy định tại Điều 123 Mục 1 Chương IX về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Tại Dự thảo, vị trí của điều luật điều chỉnh thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất có sự thay đổi từ Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 thành Điều 123 Dự thảo. Trong Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại Chương V về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đứng trước là Chương IV về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Song, đến Dự thảo, vị trí chương quy định về thẩm quyền này cũng được điều chỉnh đến Chương IX về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đứng trước là Chương VIII về phát triển quỹ đất.

Về cơ bản, so với Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong Dự thảo không có sự thay đổi lớn nhưng vẫn có một điểm mới như sau:

Một là, tại điểm b khoản 1 Điều 123 Dự thảo có điểm mới so với điểm b khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 khi thay cụm từ “cơ sở tôn giáo” thành “tổ chức tôn giáo”. Như vậy, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao đất đối với “tổ chức tôn giáo” chứ không phải với “cơ sở tôn giáo”. Căn cứ khoản 12 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, tổ chức tôn giáo được hiểu như sau: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo”[4]. Còn căn cứ theo khoản 4 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 và khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013, cơ sở tôn giáo được hiểu là: “Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo”[5].

“Tổ chức tôn giáo” và “cơ sở tôn giáo” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, nếu tổ chức tôn giáo là tập hợp một nhóm người là tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành... của một tôn giáo thì cơ sở tôn giáo là một địa điểm của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp của tổ chức tôn giáo. Như vậy, Dự thảo quy định, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao đất đối với tổ chức tôn giáo, nghĩa là đã chỉ rõ chủ thể cụ thể của một tôn giáo được Nhà nước giao đất, thay đổi quy định UBND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền giao đất cho một địa điểm nào đó của tổ chức tôn giáo như Luật Đất đai năm 2013, từ quy định này giúp UBND cấp tỉnh - cơ quan có thẩm quyền giao đất xác định rõ ràng thẩm quyền của mình trong quá trình trao lại quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

Hai là, điểm c khoản 1 Điều 123 Dự thảo có sự đổi mới hơn so với điểm c khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013. Cụ thể, Dự thảo không còn dẫn chiếu đến quy định liên quan của khoản 3 Điều 55 Luật Đất đai mà chỉ quy định về “giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Sự thay đổi này cho thấy, UBND có thẩm quyền quyết định giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và không cần có bất kỳ điều kiện là phải sử dụng đất vào mục đích nào như Luật Đất đai năm 2013 quy định.

Ba là, điểm d khoản 1 Điều 123 Dự thảo cũng có sự thay đổi so với điểm d khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể, Dự thảo không còn dẫn chiếu đến quy định liên quan tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2013 mà chỉ quy định “cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”[6]. Từ sự thay đổi này, theo Dự thảo, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cũng không cần có bất kỳ điều kiện sử dụng đất vào mục đích nào như trong quy định tại Luật Đất đai năm 2013.

Bốn là, khoản 1 Điều 122 Dự thảo có sự điều chỉnh về nội dung so với khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013. Cụ thể, nếu ở khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013 áp dụng với “dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư”[7] thì Dự thảo lại không quy định áp dụng cho dự án mà chỉ quy định chung là “đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất”[8]. Ngoài ra, khoản 1 Điều 122 Dự thảo chỉ còn quy định “cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất sau khi có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua và phù hợp với quy định tại Điều 116 của Luật này”[9]. Đây là sự điều chỉnh lớn so với khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013. Nội dung quy định như Dự thảo đã ngắn gọn và đơn giản hơn so với quy định của Luật Đất đai năm 2013, chỉ cần là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất mà sau khi có nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua và phù hợp với những căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất tại Điều 116 thì cơ quan có thẩm quyền sẽ được phép ra quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Theo nhóm tác giả, quy định như vậy là hợp lý và không làm mất đi tính chặt chẽ, thống nhất của nội dung này so với các nội dung liên quan khác.

Vấn đề quy định đối với thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất tại Dự thảo dù về cơ bản không mang đến sự thay đổi đáng kể, tuy nhiên, vẫn cho thấy một cách nhìn nhận mới hơn trong thẩm quyền trao quyền sử dụng đất của các cơ quan giữ trọng trách, đồng thời làm rõ được thẩm quyền UBND các cấp được phép giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho những đối tượng cụ thể nào. Nội dung thẩm quyền vẫn được giữ nguyên như quy định của Luật Đất đai năm 2013 thuộc về UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; thẩm quyền này của UBND cấp tỉnh và cấp huyện không được ủy quyền cho bất kỳ một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khác. Tiếp tục ghi nhận thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc về UBND các cấp nhằm phát huy tinh thần là tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đồng thời, thiết lập công cụ kiểm soát quyền lực của cơ quan và người có thẩm quyền trong quản lý đất đai nói chung và giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nói riêng. Việc giữ lại nội dung như Luật Đất đai năm 2013 trong Dự thảo nhằm củng cố, nhấn mạnh đến thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đến hiện tại là chưa có sự điều chỉnh nào quá lớn. Tuy nhiên, sự điều chỉnh một số chi tiết nhỏ trong Dự thảo về vấn đề thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất là điều cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế, phát huy nguồn lực đất đai để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

2. Một số góp ý hoàn thiện

Một là, giữ nguyên quy định tại điểm c khoản 1 Điều 123 Dự thảo như quy định tại điểm c khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013: Điểm c khoản 1 Điều 123 Dự thảo cần tiếp tục dẫn chiếu đến khoản 3 Điều 119 Dự thảo để xác định rõ được thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong quyết định giao đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với những mục đích nào, giao đất để thực hiện những hoạt động nào. Cụ thể, mục đích được giao đất phải là thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê. Ý nghĩa của quy định này xuất phát từ việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là những đối tượng đặc biệt mang yếu tố nước ngoài nên việc kiểm soát chặt chẽ mục đích hoạt động sử dụng đất của Việt Nam là một điều đáng lưu ý. Do đó, nếu quy định như Dự thảo thì phạm vi thẩm quyền giao đất sẽ mở rộng hơn, các chủ thể như người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có điều kiện được UBND cấp tỉnh giao đất nhiều hơn, sử dụng vào nhiều loại mục đích khác nhau hơn, nhờ đó mà kinh tế của Việt Nam được thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận sâu hơn ở góc độ quản lý xã hội và nguồn tài nguyên đất đai, việc không quy định rõ ràng UBND cấp tỉnh chỉ được có thẩm quyền quyết định giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê (khoản 3 Điều 119 Dự thảo) thì về lâu về dài sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát trong quản lý đất đai, thậm chí là sử dụng đất đai vào những mục đích không phù hợp, làm suy giảm chất lượng đất đai Việt Nam. Vì vậy, nhóm tác giả kiến nghị sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 123 Dự thảo như sau: “Giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này”.

Hai là, bổ sung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 123 Dự thảo cho phép UBND cấp huyện có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cả “cá nhân là người nước ngoài”[10]. Bởi vì, theo quy định tại Điều 123 Dự thảo thì “cá nhân” chỉ là cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài không được xem là người sử dụng đất, không được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Tuy nhiên, quy định này còn có điểm chưa phù hợp với các quy định tại các văn bản pháp luật khác, cụ thể, tại điểm b khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 quy định, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua “mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ”[11]. Khoản 2 Điều 14 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “Cá nhân nước ngoài được thuê các loại bất động sản để sử dụng; được mua, thuê, thuê mua nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở”[12]. Như vậy, theo quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Luật Nhà ở năm 2014 thì người nước ngoài được thừa nhận quyền sở hữu nhà ở nhưng theo Dự thảo thì lại không được UBND cấp huyện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Vì vậy, pháp luật cần có sự điều chỉnh để bảo đảm phù hợp với quy định của các văn bản khác và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người mua, giúp cho cơ quan có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất chủ động, linh hoạt hơn và trao quyền sử dụng đất cho những chủ thể phù hợp. Do đó, điểm a khoản 2 Điều 23 Dự thảo cần sửa lại như sau: “2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định”.

ThS. Đỗ Thị Lan Anh

Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh

ThS. Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Khoản 3 Điều 55 Luật Đất đai năm 2013.

[2]. Điểm d, điểm e khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Điều 59 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Khoản 12 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016.

[5]. Khoản 4 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016; khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013.

[6]. Điểm d khoản 1 Điều 123 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

[7]. Khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013.

[8]. Khoản 1 Điều 122 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

[9]. Khoản 1 Điều 122 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

[10]. Hồ Quân, Một số ý kiến góp ý về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), https://lsvn.vn/mot-so-y-kien-gop-y-ve-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi1676389226.html, truy cập ngày 28/5/2023.

[11]. Điểm b khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014.

[12]. Khoản 2 Điều 14 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: