Thứ tư 26/08/2026 22:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thông tư liên tịch về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng góp phần bảo đảm quyền của người được trợ giúp pháp lý

Thông tư liên tịch số 10 được ban hành nhằm hướng dẫn thi hành các quy định về phối hợp trợ giúp pháp lý (TGPL) trong hoạt động tố tụng giữa các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện TGPL trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Ngày 29/6/2018, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (Thông tư liên tịch số 10). Thông tư liên tịch số 10 có hiệu lực từ ngày 01/9/2018 và thay thế Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (Thông tư liên tịch số 11).

Thông tư liên tịch số 10 được ban hành nhằm hướng dẫn thi hành các quy định về phối hợp trợ giúp pháp lý (TGPL) trong hoạt động tố tụng giữa các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện TGPL trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Thông tư liên tịch số 10 kế thừa những điểm còn hợp lý, khắc phục một số tồn tại của Thông tư liên tịch số 11 để bảo đảm thuận lợi cho người được TGPL trong việc hưởng quyền được TGPL, cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng, từ đó góp phần bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL.

Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Công an nhân dân có chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; thực hiện thống nhất quản lý về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Để thực hiện chức năng được giao, lực lượng Công an nhân dân có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn, trong đó có việc tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, khởi tố, điều tra tội phạm và thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác theo quy định của pháp luật (bao gồm cả thực hiện công tác quản lý tạm giữ, tạm giam). Nhiệm vụ này có liên quan chặt chẽ với việc bảo đảm quyền được TGPL của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và hoạt động TGPL của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo đó, Thông tư liên tịch số 10 được ban hành đã sửa đổi, bổ sung nhiều điểm mới giúp cho công tác TGPL trong Công an nhân dân ngày càng được nâng cao, bảo đảm quyền của người được TGPL là người bị buộc tội trong điều tra các vụ án hình sự.

1. Trách nhiệm của Ngành Công an đối với người được trợ giúp pháp lý theo quy định của các bộ luật tố tụng và trong thực hiện Thông tư liên tịch số 10

Trước hết, với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan điều tra trong Công an nhân dân khi tiến hành các hoạt động tố tụng phải tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, các văn bản có liên quan về việc bảo đảm quyền được bào chữa của người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong tố tụng và bảo đảm quyền của người thực hiện việc bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra, điều tra viên phải giải thích cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam về quyền được bào chữa, quyền được TGPL (đối với những người thuộc diện được TGPL), đồng thời giúp đỡ, tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền đó. Mặt khác, cơ quan điều tra, điều tra viên cần phối hợp với Trung tâm TGPL, người thực hiện TGPL… tiến hành các thủ tục cần thiết để tiến hành TGPL cho người được TGPL.

Ngoài ra, lực lượng Công an nhân dân chỉ đạo các cơ quan thực hiện công tác quản lý tạm giữ, tạm giam phối hợp với cơ quan TGPL để tuyên truyền, phổ biến quyền được TGPL cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam và hướng dẫn họ thực hiện các quyền đó. Hoạt động này được thể hiện cụ thể như: Niêm yết bảng thông tin, tờ thông tin về người được TGPL; hộp tin TGPL, mẫu đơn yêu cầu TGPL, tờ gấp pháp luật… Mặt khác, các cơ quan quản lý công tác tạm giữ, tạm giam phối hợp với cơ quan điều tra, điều tra viên để tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL thực hiện các hoạt động TGPL như gặp gỡ người bị tạm giữ, người bị tạm giam…

Theo đó, cụ thể Điều 2 Thông tư liên tịch số 10 có sửa đổi, bổ sung một số đối tượng có trách nhiệm phối hợp[1]. Đây là những chủ thể trực tiếp tiếp xúc với người được TGPL, vì vậy, Thông tư liên tịch số 10 đã quy định những chủ thể này trong trách nhiệm phối hợp để người được TGPL được giải thích, biết và sử dụng quyền của mình. Việc bổ sung các chủ thể như vậy vừa bảo đảm phù hợp với các bộ luật, luật về tố tụng, vừa bảo đảm quyền được TGPL của các phạm nhân thuộc diện được TGPL đang chấp hành án tại trại giam là người bị buộc tội, người bị hại hoặc đương sự trong vụ án khác do có hành vi phạm tội, xâm hại hoặc có liên quan đến vụ án trước khi chấp hành án.

Ngoài ra, tại Thông tư liên tịch số 10 cũng đã quy định rõ hơn về giải thích, thông báo, thông tin về TGPL được quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 10, nhằm hướng dẫn Điều 71 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 6 Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 6 Điều 38 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 9 và điểm d khoản 1 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015. Điều này quy định trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thực hiện, nội dung, cách thức thực hiện, mẫu hóa các nội dung giải thích; phân chia việc giải thích, thông báo, thông tin trong tố tụng hình sự với tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Cụ thể:

(i) Quy định rõ thời điểm, nội dung và quy trình giải thích quyền được trợ giúp pháp lý

Về thời điểm, tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 10 đã quy định trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thực hiện, nội dung, cách thức thực hiện, mẫu hóa các nội dung giải thích; phân chia việc giải thích, thông báo, thông tin trong tố tụng hình sự với tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Với quy định như vậy, sẽ tăng cường trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc phối hợp cung cấp thông tin về đối tượng, tăng cường trách nhiệm của Trung tâm, chi nhánh trong việc chủ động tiếp cận đối tượng, cung cấp dịch vụ, từ đó bảo đảm được quyền được TGPL cho đối tượng được tốt hơn, tránh việc bỏ lọt đối tượng thuộc diện được TGPL. Bởi lẽ, thực tiễn thời gian qua cho thấy, vì nhiều lý do (tâm lý không ổn định, thiếu thời gian tìm hiểu về TGPL, nhận thức hạn chế…) mà đối tượng chưa yêu cầu TGPL ngay khi người tiến hành tố tụng giải thích về quyền được TGPL. Do vậy, nếu được người thực hiện TGPL gặp gỡ, tiếp xúc, giải thích cụ thể với tư cách là người giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thì họ sẽ yêu cầu TGPL.

(ii) Quy định rõ quy trình thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý

Trong tố tụng hình sự (quy định tại điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Thông tư liên tịch số 10) được chia thành hai trường hợp: Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại, đương sự tự nhận mình là người được TGPL và trường hợp chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội thuộc diện được TGPL theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đề nghị Trung tâm, chi nhánh cử ngay người thực hiện trợ giúp pháp lý (bằng văn bản thông báo).

(iii) Quy định rõ chủ thể có trách nhiệm giải thích, thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý

Ngoài quy định tại Điều 7 nêu trên, tại các điều, khoản khác đã nhấn mạnh trách nhiệm của từng chủ thể trong việc giải thích, thông báo, thông tin về TGPL như: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (khoản 1 Điều 8); người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (khoản 1 Điều 9); cơ sở giam giữ (điểm a khoản 1 Điều 10); trại giam (điểm a khoản 2 Điều 10); người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ, trại giam (điểm a khoản 1; khoản 2 Điều 11).

(iv) Đối với trách nhiệm của cơ sở giam giữ, trại giam

Trách nhiệm của cơ sở giam giữ, trại giam được quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 10, cụ thể như sau: Có trách nhiệm giải thích, thông báo, thông tin về TGPL; thống kê vào sổ theo dõi vụ việc TGPL trong hoạt động tố tụng. Việc bổ sung trách nhiệm này nhằm bảo đảm việc thống kê trong phối hợp TGPL được thống nhất, bảo đảm quyền được TGPL của đối tượng thuộc diện được TGPL trên thực tế; truyền thông trong cơ sở giam giữ.

Quy định trên nhằm bảo đảm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo trong điều kiện bị giam giữ với các quy định chặt chẽ vẫn có điều kiện tiếp cận với TGPL, từ đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

(v) Đối với trách nhiệm của người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ, trại giam

Trách nhiệm của người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ, trại giam được quy định tại Điều 11 Thông tư liên tịch số 10, cụ thể: Có trách nhiệm giải thích, thông báo, thông tin về TGPL; tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện TGPL gặp gỡ, tiếp xúc với người bị tạm giữ, người bị tạm giam; có trách nhiệm xác nhận về thời gian người thực hiện TGPL gặp gỡ, tiếp xúc với người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

2. Thuận lợi và khó khăn của Ngành Công an khi thực hiện Thông tư liên tịch số 10

Theo thống kê của Bộ Công an[2], từ ngày 01/9/2018 đến ngày 30/6/2019, các cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã thụ lý 18.473 vụ án với 24.520 bị can. Trong đó: Kết thúc điều tra 15.660 vụ với 24.846 bị can; kết luận điều tra đề nghị truy tố 14.896 vụ với 24.222 bị can; kết luận và đình chỉ điều tra 764 vụ với 624 bị can; tạm đình chỉ điều tra 3.806 vụ với 717 bị can; Viện kiểm sát nhân dân hủy quyết định khởi tố 20 vụ với 24 bị can; điều tra lại 97 vụ với 263 bị can; điều tra bổ sung 546 vụ với 1.557 bị can.

Cũng theo tổng hợp từ các báo cáo điều tra hình sự[3], từ ngày 01/9/2018 đến ngày 30/6/2019, các Trung tâm TGPL trong cả nước đã thực hiện TGPL cho 12.966 vụ việc tố tụng hình sự với 17.947 lượt người. Trong đó bào chữa 7.112 vụ việc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp 5.854 vụ việc. Trong các vụ việc tham gia tố tụng, trợ giúp viên pháp lý thực hiện 9.109 vụ việc. Nhìn chung, số vụ việc tham gia tố tụng hình sự từ giai đoạn tạm giữ và khởi tố vẫn chiếm tỉ lệ thấp hơn so với số vụ việc tham gia tố tụng từ giai đoạn truy tố, xét xử.

Đánh giá chung, với những kết quả đạt được về TGPL trong hoạt động tố tụng cho thấy, việc bảo đảm thực hiện quyền được TGPL của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trong hoạt động điều tra hình sự ngày càng được quan tâm, chú trọng. Qua đó, góp phần bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong hoạt động tố tụng; thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý. Đồng thời, hiện thực hóa các cam kết quốc tế về quyền con người, nhất là quyền của người bị buộc tội và người bị tước đoạt tự do; hiện thực hóa nguyên tắc Hiến định bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội. Các hoạt động TGPL ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò khi góp phần nâng cao chất lượng tố tụng hình sự, bảo đảm các vụ án được giải quyết khách quan, chính xác, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người bị buộc tội, đặc biệt là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác TGPL đối với người bị buộc tội trong điều tra hình sự vẫn còn những khó khăn nhất định. Thực tiễn điều tra hình sự trong thời gian qua cho thấy một số khó khăn, bất cập nổi bật sau đây:

Một là, nhận thức về quyền được TGPL của một bộ phận người dân và người tiến hành tố tụng chưa thấu đáo. Trong đó, một bộ phận cán bộ của trại tạm giam, nhà tạm giữ vẫn đồng nhất đối tượng thuộc trường hợp chỉ định bào chữa với đối tượng thuộc diện được TGPL. Một bộ phận người dân, nhất là người nghèo, người dân tộc thiểu số tại vùng sâu, vùng xa, miền núi là những người có hoàn cảnh đặc biệt hoặc có trình độ dân trí thấp, không biết chữ nên chưa hiểu, chưa nhận thức được về quyền được TGPL của mình hoặc không biết nơi liên hệ hoặc chưa được giải thích hoặc được giải thích nhưng chưa đầy đủ, thấu đáo về quyền được TGPL và chưa sử dụng quyền được TGPL của mình. Những hạn chế này là một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong quá trình bảo đảm quyền được TGPL cho người buộc tội trong quá trình điều tra hình sự.

Hai là, chất lượng thực hiện TGPL trong một số vụ việc chưa thực sự cao. Số lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý qua các năm có tăng nhưng chất lượng tham gia tố tụng của một số trợ giúp viên pháp lý còn đạt ở mức độ nhất định. Số lượng luật sư tham gia thực hiện TGPL còn ít so với tổng số luật sư trên toàn quốc, đội ngũ luật sư phân bổ không đồng đều giữa các địa phương chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh nên phần nào đã ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ TGPL cho người được TGPL nói chung và người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trong hoạt động điều tra hình sự nói riêng.

Ba là, công tác giải thích về quyền được TGPL của người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ ở nhiều nơi chưa được hiệu quả, nghiêm túc nên đối tượng vẫn chưa biết đến quyền được TGPL và yêu cầu TGPL, dẫn đến nhiều nơi vẫn bỏ lọt người được TGPL, trong đó có người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thuộc diện được TGPL. Cơ quan điều tra công an tại một số địa phương chỉ tập trung chuyển gửi các đối tượng thuộc án chỉ định bào chữa cho Trung tâm TGPL, trong khi các đối tượng khác ít được quan tâm.

Bốn là, công tác phối hợp lực lượng thực hiện TGPL trong quá trình điều tra hình sự chưa đồng bộ, thiếu nhịp nhàng. Hội đồng phối hợp liên ngành TGPL trong tố tụng tại địa phương chưa phát huy được vai trò tham mưu cho lãnh đạo của các ngành tăng cường công tác phối hợp TGPL trong tố tụng để tạo điều kiện cho công tác tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL nhằm bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thuộc diện được TGPL. Một bộ phận người có thẩm quyền của cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam chưa thực hiện đầy đủ quy định về phối hợp trong việc cấp giấy chứng nhận, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tiếp xúc với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thuộc diện được TGPL.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng

Để thực hiện có hiệu quả việc TGPL tốt trong hoạt động tố tụng hình sự, cần thiết phải thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục và tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản có liên quan đến người dân. Ngoài ra, tiến hành đẩy mạnh triển khai Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT đến người dân ở cơ sở, nâng cao nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan.

Thứ hai, tăng cường công tác phối kết hợp giữa Trung tâm TGPL với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trên thực tế mà luật chưa tiên liệu được.

Thứ ba, chú trọng việc kiểm tra, giám sát, tạo lập cơ chế thông tin hai chiều để cùng giám sát, đánh giá chất lượng thực hiện công việc được giao của người thực hiện TGPL và người tiến hành tố tụng.

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc tập huấn về chuyên môn cũng như kỹ năng TGPL nhằm việc bảo vệ quyền lợi người được TGPL có hiệu quả.

Trung tá Nguyễn Văn Thịnh

Đại úy, TS. Đỗ Thành Trung

Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an







[1]. Sửa đổi, bổ sung một số cơ quan (cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra), người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; bổ sung một số cơ sở giam giữ (buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng) và một số người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ (Giám thị, Phó Giám thị, Trưởng phân trại, Phó Trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó Đội trưởng và người làm nhiệm vụ quản giáo trong trại tạm giam; người làm nhiệm vụ quản giáo trong nhà tạm giữ; Đồn trưởng đồn biên phòng nơi có buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng, Trưởng buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng); bổ sung trại giam và người có thẩm quyền của trại giam (Trưởng phân trại, Phó Trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó Đội trưởng trại giam).

[2]. Bộ Công an (2018), Báo cáo về điều tra hình sự năm 2018, Hà Nội.

[3]. Bộ Công an (2019), Báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2019 về điều tra hình sự, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: