Thứ tư 14/01/2026 11:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở tỉnh Tuyên Quang

Thông qua thực tiễn tỉnh Tuyên Quang, bài viết đánh giá ưu điểm, hạn chế và đưa ra giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, góp phần đưa chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống một cách thiết thực nhất.


Trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là sự đảm bảo của Nhà nước và cộng đồng về các điều kiện sinh sống thiết yếu bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các nhóm trẻ em trong xã hội khi họ rơi vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống mà bản thân có thể không được sống cùng với gia đình ở mức tối thiểu. Đây là chính sách thể hiện truyền thống tốt đẹp, nhân văn, nhân ái của dân tộc và sự quyết tâm chia sẻ của toàn xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở mọi miền tổ quốc. Trong những năm vừa qua, công tác xây dựng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam có nhiều đổi mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay, nước ta vẫn còn nhiều trẻ em vì nhiều lý do khác nhau không được thụ hưởng các chính sách về trợ giúp xã hội. Một trong những lý do quan trọng là việc thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội chưa thực sự hiệu quả.

1. Tình hình thực hiện trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2016 - 2020

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, dân số toàn tỉnh trên 790.000 người với trên 22 dân tộc anh em sinh sống. Theo số liệu thống kê, trẻ em dưới 16 tuổi của tỉnh chiếm khoảng 29% dân số. Tính đến năm 2020, trẻ em ở tỉnh Tuyên Quang có 229.014 cháu, trong đó, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở tỉnh Tuyên Quang có 2.876 cháu. Việc thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở tỉnh Tuyên Quang đã có nhiều kết quả thiết thực, cụ thể:

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã kịp thời ban hành quyết định, kế hoạch, chương trình để triển khai có hiệu quả Luật Trẻ em và các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Điển hình là Kế hoạch số 116/KH-UBND ngày 27/11/2020 phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em trong các cơ sở giáo dục, giai đoạn 2020 - 2025; Kế hoạch số 104/KH-UBND ngày 24/11/2018 triển khai kế hoạch phối hợp liên ngành phòng, chống đuối nước trẻ em; Kế hoạch số 79/KH-UBND ngày 29/6/2019 triển khai thực hiện Đề án “Hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tại cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025”; Kế hoạch số 107/KH-UBND ngày 20/9/2019 triển khai thực hiện Đề án vận động nguồn lực xã hội hỗ trợ trẻ em các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2019 - 2025. Bên cạnh đó, các cơ quan thành viên Ban Điều hành bảo vệ trẻ em tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đã chủ động ban hành văn bản và tổ chức thực hiện tại cơ quan, đơn vị mình[1].

Thứ hai, các cơ quan trong tỉnh Tuyên Quang thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đúng thẩm quyền, chú trọng các biện pháp phối hợp thường xuyên và có hiệu quả. Cụ thể: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tỉnh; phối hợp với các huyện trao quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vào các dịp Tết Nguyên đán[2]. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tham gia tố tụng 46 vụ và trợ giúp pháp lý cho 24 đối tượng là người bị buộc tội từ đủ 16 - 18 tuổi, 22 đối tượng là trẻ em; Sở Tư pháp đăng thông báo trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh về việc tìm người nhận trẻ em bị bỏ rơi làm con nuôi và gửi hồ sơ cho Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp) 01 trường hợp; Công an tỉnh phối hợp với các cơ quan truyền thông Trung ương, địa phương[3] chú trọng tuyên truyền công tác phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em; phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em; trẻ em, người chưa thành niên vi phạm pháp luật; phương thức thủ đoạn của các loại tội phạm xâm hại trẻ em; kỹ năng sống, kỹ năng phòng, chống bị bạo lực, xâm hại...[4]. Duy trì hoạt động 02 mô hình “Phòng ngừa, trợ giúp người chưa thành niên vi phạm pháp luật dựa vào cộng đồng”[5]; phối hợp với Cục C02 Bộ Công an tiến hành khảo sát, xây dựng và triển khai thực hiện 02 mô hình “Phòng ngừa, trợ giúp người chưa thành niên vi phạm pháp luật dựa vào cộng đồng” tại xã Trung Môn, huyện Yên Sơn và xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên. Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố liên quan đến trẻ em; kịp thời điều tra, giải quyết các vụ án, vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội[6]. Đối với các trường hợp trẻ em vi phạm pháp luật chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an tỉnh đã áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức giáo dục tại cộng đồng dân cư, trường học; cho ký cam kết và giao cho gia đình quản lý và giáo dục hoặc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện nếu đủ điều kiện[7]; Viện kiểm sát hai cấp đã chủ động, thường xuyên phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan chức năng để nắm và phân loại xử lý kịp thời tố giác, tin báo về tội phạm nhất là tội phạm xâm hại đến trẻ em, người chưa thành niên phạm tội[8]. Chất lượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa được nâng cao. Đối với các vụ án có bị hại là trẻ em hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, Viện kiểm sát phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm đầy đủ các quyền cho người chưa thành niên phạm tội như chỉ định luật sư bào chữa, người giám hộ... nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên phạm tội, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật; Sở Giáo dục và Đào tạo chú trọng các biện pháp đưa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt tiếp cận giáo dục phổ thông... Phối hợp Sở Y tế xây dựng chương trình tập huấn: Phát hiện và can thiệp sớm trẻ tự kỷ ở cấp mầm non. Duy trì hoạt động của các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng và điểm tư vấn cộng đồng về bảo vệ trẻ em trên địa bàn tỉnh.

Thứ ba, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phát huy vai trò chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với chính quyền, các tổ chức thành viên thực hiện công tác trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh: Vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tích cực tham gia ủng hộ xây dựng Quỹ vì người nghèo, tổ chức thăm hỏi, tặng quà động viên các cháu có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động nhân dân ngăn ngừa, đấu tranh và tố giác hành vi vi phạm quyền trẻ em; tham gia giải quyết các vấn đề về quyền và lợi ích chính đáng cho trẻ em[9]... Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trợ giúp xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tăng về số lượng và có nhiều đổi mới về nội dung[10], điển hình là chuyên đề phòng, chống xâm hại tình dục đối với trẻ em; phòng, chống bạo lực gia đình; buôn bán người. Việc thực hiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ngày càng được chú trọng và đạt kết quả thiết thực[11]; quy định pháp luật về phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em, tiêm chủng mở rộng theo Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 29/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác tiêm chủng12 được thực hiện nghiêm chỉnh. Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh triển khai thực hiện các hoạt động trợ cấp, thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh tặng 352 xuất quà, trị giá 108 triệu đồng; trợ cấp đột xuất cho 06 trẻ, trị giá 16 triệu đồng; tổ chức khám sàng lọc cho trẻ em khuyết tật, kết quả có 1.059 trẻ em được khám sàng lọc; chủ trì, phối hợp với Bệnh viện Tim Hà Nội triển khai khám chỉ định các bệnh về tim cho trẻ em trên địa bàn toàn tỉnh.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện pháp luật về trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn có những tồn tại như: (i) Nhận thức của một số gia đình và cộng đồng về pháp luật trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa đầy đủ, thống nhất nên việc thụ hưởng quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn hạn chế; (ii) Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn ở địa phương và khó thực hiện, nhất là về chế độ trợ giúp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như đa khuyết tật hoặc trẻ vừa khuyết tật, vừa mồ côi cha mẹ, hoặc trẻ khuyết tật sống trong gia đình nghèo, bố mẹ là người dân tộc cũng khuyết tật…, còn có hiện tượng gia đình không làm được hồ sơ chứng nhận khuyết tật cho trẻ em để nhận chế độ trợ giúp hàng tháng…; (iii) Cán bộ thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em từ tỉnh đến cơ sở còn thiếu, phải kiêm nhiệm, kinh nghiệm chưa nhiều, trình độ không đồng đều. Công tác thông tin, báo cáo của một số huyện, thành phố, một số ngành chưa kịp thời; việc quản lý, nắm bắt thực trạng, số liệu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, các hoạt động liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa thường xuyên, kịp thời; (iv) Việc thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không tách bạch với chương trình bảo vệ trẻ em và thường lồng ghép trong các nhiệm vụ chính trị của địa phương nên thời gian, con người và nguồn đầu tư chưa thỏa đáng; (v) Việc xã hội hóa để đầu tư xây dựng khu vui chơi giải trí, lớp học với trang thiết bị đặc thù cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ cho các em, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như Na Hang, Hàm Yên...

2. Giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở tỉnh Tuyên Quang

Một là, việc xây dựng các chương trình, kế hoạch trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bên cạnh việc quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng nêu trong Cương lĩnh chính trị và các Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2020 - 2025 cần bám sát vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từng huyện, từng xã và chú ý đặc thù của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong từng địa bàn và cộng đồng dân cư để đảm bảo tính khả thi và dễ thực hiện; chú trọng tới việc nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về các nội dung cơ bản, nội dung mới của pháp luật về trợ giúp xã hội đối với trẻ em, đổi mới phương pháp tuyên truyền, vận động để có cách hiểu thống nhất và tổ chức thực hiện thống nhất, coi việc thực hiện pháp luật là tự thân; tích cực nâng cao chất lượng công tác trợ giúp pháp lý cho trẻ em và gia đình trẻ em, gắn với tuyên truyền, ngăn chặn các hủ tục, tập quán lạc hậu, phát huy vai trò của cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của Sở Tư pháp, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các Trung tâm bảo trợ xã hội có chức năng chăm sóc trẻ em; chú trọng tổ chức thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và phân bổ nguồn lực tinh thần, vật chất đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đúng người, đúng chế độ và kịp thời.

Hai là, đề cao vai trò của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đối với những trường hợp bạo lực, bạo hành, đối xử vi phạm pháp luật đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh; chú trọng khâu phát hiện sớm và chăm sóc chuyên sâu đối với những trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bị xâm hại; đẩy mạnh công tác lập hồ sơ đưa đối tượng đi cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, quản lý, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó, cần tăng cường mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước, nhà trường, trung tâm y tế, bệnh viện tỉnh, trung tâm phục hồi chức năng, trung tâm trợ giúp xã hội, hội bảo trợ trẻ em và gia đình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để triển khai các hoạt động trợ giúp xã hội một cách kịp thời. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở cấp cơ sở nhằm phát hiện kịp thời và giải quyết những khó khăn, vướng mắc, hướng dẫn thực hiện pháp luật trong quá trình thẩm định hồ sơ, thẩm định thực tế, thẩm định việc tăng giảm đối tượng thụ hưởng, phát hiện nguy cơ phát sinh xâm hại, bạo lực, lạm dụng lao động trẻ em, vi phạm quyền trẻ em, ảnh hưởng không tốt đến tâm lý trẻ em.

Ba là, tích cực huy động các nguồn lực chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phục hồi chức năng, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ bị khuyết tật, trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi không nơi nương tựa; hỗ trợ trẻ em nghèo, trẻ em bị xâm hại tình dục, bị tai nạn thương tích...; hỗ trợ, khuyến khích, động viên trẻ em có hoàn cảnh khó khăn vượt khó trong học tập, cuộc sống. Thực hiện tốt các hoạt động chăm sóc trẻ em nhân dịp Tháng hành động vì trẻ em, Tết Trung thu, khai giảng năm học mới... Duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động của Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp.

ThS. Nguyễn Quang Hương
Viện Chính sách công và pháp luật

[1]. Công an tỉnh ban hành: Văn bản số 3770/UBND-NC ngày 23/12/2019 về việc phòng, chống trẻ em bị bóc lột, lạm dụng ở châu Âu; Kế hoạch số 2237/KH-CAT-PC02 ngày 24/4/2020 về thực hiện Quyết định số 1863/QĐ-TTg ngày 23/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em giai đoạn 2020 - 2025; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Kế hoạch số 88/KH-SVHTTDL ngày 25/9/2020 về tuyên truyền thực hiện Kế hoạch số 82/KH-UBND ngày 20/7/2020 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về thực hiện Kế hoạch số 389-KH-UBND ngày 12/5/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XVI thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật và các văn bản chỉ đạo liên quan đến công tác trẻ em.

[2]. Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020 đã trao cho 400 trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thuộc các xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi (trị giá 500.000 đồng/suất, mỗi suất bao gồm: 01 chăn ấm, 01 áo khoác mùa đông, 05 đôi bít tất), tổng trị giá 200 triệu đồng từ nguồn kinh phí vận động “Vì người nghèo” năm 2019 do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp thực hiện.

[3]. Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Tuyên Quang, Truyền hình Công an Nhân dân, Báo Công an Nhân dân, Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang...

[4]. Tổ chức được 1.051 buổi tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho 194.675 lượt cán bộ, công nhân, viên chức, học sinh, giáo viên và quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh.

[5]. Đã xây dựng năm 2019 tại xã Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa và xã Lăng Can, huyện Lâm Bình.

[6]. Trong kỳ, Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp đã thụ lý, giải quyết 31 vụ án, vụ việc liên quan đến xâm hại trẻ em, có 34 trẻ em bị xâm hại. Trong đó: 04 vụ giết người (dưới 16 tuổi), có 05 em tử vong; 04 vụ cố ý gây thương tích; 03 vụ xâm hại sức khỏe; 07 vụ hiếp dâm người dưới 16 tuổi; 12 vụ giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; 01 vụ dâm ô đối với người dưới 16 tuổi. Kết quả: Khởi tố 25 vụ/35 bị can; ra quyết định không khởi tố 03 vụ/03 đối tượng (01 vụ theo khoản 7 Điều 157 và 02 vụ theo khoản 8 Điều 157, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015); xử lý hành chính 02 vụ/02 đối tượng; đang điều tra, xác minh 01 vụ.

[7]. Đã phát hiện và ghi nhận 59 vụ/83 đối tượng gồm: 01 vụ/01 đối tượng hiếp dâm; 21 vụ/21 đối tượng vi phạm về giao thông; 01 vụ/01 đối tượng cố ý gây thương tích; 19 vụ/31 đối tượng trộm cắp tài sản; 11 vụ/21 đối tượng đánh nhau và xâm hại sức khỏe người khác; 06 vụ/08 đối tượng về các hành vi khác. Kết quả xử lý, giải quyết: Khởi tố 02 vụ/02 đối tượng; xử lý hành chính 55 vụ/75 đối tượng với các hình thức như cảnh cáo, phạt tiền; 01 vụ/02 đối tượng giáo dục tại xã (trong đó có 01 vụ hiếp dâm); không xử lý giao gia đình quản lý 01 vụ/04 đối tượng.

[8]. Công tác phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các loại tội phạm xâm hại, mua bán trẻ em và xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của kiểm sát Tuyên Quang.

[9]. Năm 2020 từ nguồn Quỹ vì người nghèo các cấp đã hỗ trợ cho 130 học sinh nghèo đi học trị giá 72,2 triệu đồng.

[10]. Tổ chức tuyên truyền về phòng, chống xâm hại tình dục đối với trẻ em cho 310 đại biểu đại diện Ủy ban nhân dân xã, cán bộ, hội viên phụ nữ, cha, mẹ có con dưới 16 tuổi tại xã Hoàng Khai (huyện Yên Sơn) và xã Kim Phú (thành phố Tuyên Quang); tổ chức 03 buổi tuyên truyền về đấu tranh, phòng, chống tội phạm trẻ em và người chưa thành niên vi phạm pháp luật, phòng, chống bạo lực gia đình, buôn bán người cho 108 hội viên phụ nữ; tổ chức 05 lớp tập huấn về Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, phòng, chống tội phạm trẻ em và người chưa thành niên vi phạm pháp luật, phòng, chống bạo lực gia đình gắn với chủ đề năm “An toàn cho phụ nữ và trẻ em” cho 517 cán bộ, hội viên phụ nữ; các cơ sở hội phối hợp với công an, tư pháp tổ chức 80 hội nghị truyền thông về “Nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống mua bán người”, “Phòng chống xâm hại tình dục trẻ em” cho trên 8.000 hội viên phụ nữ và trẻ em.

[11]. 100% trẻ em khi đi khám, chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế được đảm bảo quyền lợi theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản hướng dẫn liên quan; được quản lý sức khỏe thông qua Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ, trẻ em; trong năm 2020, các cơ sở khám chữa bệnh trong toàn tỉnh thực hiện khám chữa bệnh cho 60.329 trẻ dưới 06 tuổi, 100% số trẻ được khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế.

[12]. Kết quả thực hiện: Tiêm chủng đầy đủ cho 9.770 trẻ dưới 01 tuổi, đạt 95,8% kế hoạch; tiêm UV2 cho 7.913 phụ nữ có thai, đạt 93,7% kế hoạch; tiêm phòng viêm gan B liều sơ sinh cho 8.765 trẻ; tiêm DPT bổ xung cho 8.341 trẻ 18 tháng tuổi, đạt 90,2% kế hoạch; tiêm vắc xin Sởi cho 8.777 trẻ dưới 18 tháng tuổi, đạt 94,5% kế hoạch.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: