Thứ sáu 16/01/2026 16:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Bài viết phân tích, đánh giá về những hạn chế của thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này.


1. Thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Những năm gần đây, tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT) ở nước ta diễn ra nghiêm trọng, số lượng vi phạm ngày càng tăng cao, một số loại vi phạm diễn biến phức tạp. Công tác xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) trong lĩnh vực BVMT đã đạt được những kết quả quan trọng, đã xử lý một tỉ lệ nhất định số lượng vi phạm hành chính về BVMT, thu về cho ngân sách nhà nước số tiền không nhỏ; nhiều vi phạm về môi trường đã được khắc phục, khôi phục lại tình trạng ban đầu của môi trường. Thông qua đó, góp phần bảo đảm môi trường sống trong lành cho xã hội và cộng đồng.

Tuy nhiên, hoạt động thực hiện pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, hiệu quả chưa cao. Cụ thể là:

Thứ nhất, nhiều chủ thể không chấp hành đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quy định

Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT (Nghị định số 155/2016/NĐ-CP) có hiệu lực từ ngày 01/02/2017. Nghị định này có quy định đối với hành vi vứt, thải, bỏ đầu, mẩu và tàn thuốc lá không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng; đối với hành vi vệ sinh cá nhân (tiểu tiện, đại tiện) không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng; đối với hành vi vứt, thải, bỏ rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; đối với hành vi vứt, thải rác thải sinh hoạt trên vỉa hè, đường phố hoặc vào hệ thống thoát nước thải đô thị hoặc hệ thống thoát nước mặt trong khu vực đô thị bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Tuy nhiên, có thể thấy trên thực tiễn, việc xử lý vi phạm pháp luật về BVMT nơi công cộng còn nhiều hạn chế. Đến nay, hầu như chưa có tổ chức, cá nhân nào bị xử phạt về hành vi vứt, thải, bỏ rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng.

Thứ hai, tình trạng tiến hành những hành vi mà pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cấm còn khá phổ biến

Nhiều chủ thể vi phạm pháp luật về BVMT có thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt; không tuân thủ các quy định mà pháp luật cấm, không thực hiện các quyết định xử phạt của cơ quan có thẩm quyền, thậm chí có thái độ thách thức cơ quan có thẩm quyền. Không chỉ ở địa phương, mà ngay bên trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, việc vi phạm các quy định mà pháp luật cấm vẫn diễn ra phổ biến, thậm chí có nhiều doanh nghiệp, cơ sở tái phạm nhiều lần. Chẳng hạn, loại vi phạm lén lút thải xả khí thải, nước thải vượt quy chuẩn, đổ rác thải ra môi trường diễn ra nhiều và phức tạp. Không ít đối tượng, cá nhân, tổ chức vi phạm sử dụng nhiều chiêu thức mới tinh vi để tuồn rác thải công nghiệp, chất thải nguy hại ra môi trường. Ví dụ: Năm 2017, Công ty TNHH Khải Thần Việt Nam do ông Lý Thiệu Hưng (quốc tịch Trung Quốc) làm giám đốc đã bị xử phạt hành chính 03 lần khi dùng nhiều thủ đoạn để vi phạm trong lĩnh vực môi trường và chống lệnh của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang[1].

Thứ ba, việc sử dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn ít, hiệu quả chưa cao

Người dân chưa được tiếp cận đầy đủ với những thông tin về đánh giá tác động môi trường không chỉ đối với những dự án phát triển kinh tế - xã hội nói chung mà đặc biệt đối với dự án tác động trực tiếp đến môi trường, tính mạng, tài sản, sinh kế và sự phát triển của cộng đồng dân cư. Ví dụ như, dự án xây dựng nhà máy Thủy điện Sông Tranh (Bắc Trà My, Quảng Nam) là ví dụ điển hình về sự tham gia còn nhiều hạn chế của người dân vào quá trình tiếp cận với thông tin đánh giá tác động môi trường cũng như tham gia vào đánh giá tác động môi trường[2].

Thứ tư, việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa kịp thời, thiếu kiên quyết, hiệu quả chưa cao, nhiều vụ vi phạm chưa được xử lý

Việc áp dụng pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền còn nhiều hạn chế, bất cập. Việc ban hành một số kết luận thanh tra, kiểm tra, xử lý các vụ việc gây ô nhiễm môi trường còn chậm. Việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra không thường xuyên. Việc xử lý vi phạm, yêu cầu khắc phục, khôi phục tình trạng ban đầu của môi trường hiệu quả chưa cao. Ở nhiều địa phương, việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo vi phạm hành chính về BVMT còn chưa kịp thời. Phần lớn số vụ việc công dân gửi đến Bộ Tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền của địa phương. Việc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm hành chính về BVMT đã có hiệu lực thi hành còn hạn chế.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Một là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức pháp luật và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công dân trong phòng ngừa, đấu tranh đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật, các thông tin về môi trường và phát triển bền vững cho nhân dân; tạo dư luận xã hội lên án nghiêm khắc đối với các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường đi đôi với việc áp dụng các chế tài, xử phạt nghiêm khắc có tác dụng răn đe, ngăn ngừa vi phạm. Xây dựng lực lượng nòng cốt về truyền thông nâng cao nhận thức trong tất cả các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể. Tăng cường năng lực và vận hành có hiệu quả mạng lưới tuyên truyền viên trung ương và địa phương. Phát huy mạnh vai trò của các cơ quan thông tấn báo chí, kết hợp hợp lý truyền thông trực tiếp và truyền thông đại chúng theo hướng sáng tạo về cách tiếp cận đối tượng, sáng tạo về cách triển khai; huy động sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và cá nhân tích cực tham gia thực hiện pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

(i) Hoàn thiện quy định về biện pháp xử lý: Cần có quy định cụ thể, chặt chẽ trên cơ sở thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền và công bằng trong xử lý để làm cơ sở phân định mức xử phạt phù hợp với quy mô sản xuất của từng đối tượng vi phạm. Để phù hợp điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay, tránh sự lạc hậu của quy định pháp luật, mức phạt tiền không nên quy định theo số tiền cụ thể mà nên theo một con số trên tỷ lệ nhất định so với mức lương tối thiểu nhằm bảo đảm quy phạm có giá trị lâu dài, không phải sửa đổi nhiều do sự thay đổi của tình hình kinh tế. Bãi bỏ biện pháp buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, đo đạc và phân tích mẫu môi trường trong hệ thống các biện pháp khắc phục hậu quả, bổ sung biện pháp này vào biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định XLVPHC.

(ii) Hoàn thiện các quy định pháp luật về thẩm quyền xử lý: Trước hết, cần nâng mức xử phạt tiền cho các chủ thể trực tiếp thi hành công vụ. Đồng thời, tăng thêm thẩm quyền cho lực lượng Cảnh sát môi trường vì những năm qua, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm pháp luật về môi trường, trong đó có nhiều vụ việc gây bức xúc trong dư luận và bất bình trong nhân dân; bổ sung thêm thẩm quyền xử lý cho một số chủ thể như Chi cục BVMT, Chi cục An toàn thực phẩm để bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống trong XLVPHC.

(iii) Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, khiếu nại và tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Xây dựng cơ chế đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan trung ương và địa phương trong việc xử lý dứt điểm các vụ việc khiếu nại kéo dài, hết thẩm quyền, đúng quy định. Cụ thể là chỉnh sửa khoản 1 Điều 159 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 theo hướng phân định rõ được đối tượng thanh tra của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để hạn chế tình trạng chồng chéo về đối tượng thanh tra.

(iv) Ban hành văn bản hướng dẫn, cụ thể hóa một số quy định về bảo vệ môi trường và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về các thông số cần quan trắc cũng như thống nhất về thiết bị quan trắc tự động trong BVMT. Bởi lẽ, Luật BVMT năm 2014 có quy định các cơ sở sản xuất kinh doanh lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, nhưng do chưa có văn bản hướng dẫn nên nhiều doanh nghiệp đang rất lúng túng trong việc đầu tư thiết bị (có thể lãng phí nếu lắp đặt không phù hợp), nên việc quản lý dữ liệu của các Sở Tài nguyên và Môi trường gặp nhiều khó khăn.

(v) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn môi trường Việt Nam: Để đảm bảo một số quy phạm pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được thực hiện trên thực tế, các hành vi vi phạm được xử lý nghiêm minh, cần thiết phải ban hành thêm các tiêu chuẩn môi trường về mùi hay độ rung. Mức xử phạt đối với hành vi thải mùi hôi thối vào môi trường; thải bụi, khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải dưới 1,1 lần được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, cụ thể: Phạt cảnh cáo đối với hành vi thải mùi hôi thối vào môi trường; thải bụi, khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải dưới 1,1 lần (tương đương mức vượt quy chuẩn kỹ thuật là 10%). Tuy nhiên, trên thực tế, hành vi thải mùi hôi thối vào môi trường; thải bụi, khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải vượt rất nhiều so với quy định và không thể xử lý được. Do đó, có thể sửa đổi, bổ sung các quy định quy chuẩn về thải mùi hôi thối vào môi trường với mức cao hơn với quy định hiện hành.

Cần rà soát, sửa đổi các tiêu chuẩn Việt Nam đã ban hành cho phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và quá trình hội nhập quốc tế; xây dựng và ban hành các quy chuẩn Việt Nam còn thiếu, đáp ứng yêu cầu phát triển và BVMT. Về lâu dài, chú trọng quy chuẩn/tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh, còn quy chuẩn/tiêu chuẩn thải thực hiện theo cách tiếp cận như: Phân bổ hạn ngạch phát thải trên cơ sở sức chịu tải của môi trường tiếp nhận; quy định tiêu chuẩn thải linh hoạt theo điều kiện thực tế/chịu tải của nguồn tiếp nhận chất thải...

Ba là, tăng cường sự tham gia và giám sát của cơ quan dân cử, các tổ chức xã hội và nhân dân đối với thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Tăng cường sự tham gia của cơ quan dân cử, các tổ chức xã hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc tham gia quản lý, tổ chức thực hiện và giám sát đối với thực hiện pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Chính quyền các cấp cần phối hợp và hỗ trợ về mọi mặt để phát huy tối đa vai trò công tác xã hội, có cơ chế khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân, thành phần kinh tế giám sát việc thực hiện pháp luật về XLVPHC đối với các hành vi vi phạm về BVMT.

Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình giám sát chuyên đề về BVMT nói chung và XLVPHC trong lĩnh vực BVMT nói riêng đối với các dự án đầu tư, công trình lớn có nguy cơ tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường cao do Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư; đồng thời, tại địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện chương trình giám sát chuyên đề về BVMT đối với các dự án đầu tư, công trình có nguy cơ tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường cao thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương và giám sát tối đa đối với các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp được cấp phép hoạt động khai thác về môi trường. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia BVMT và tuân thủ các quy định pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT; các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường thực hiện quyền phản biện, giám sát, tham gia phát hiện, XLVPHC về BVMT. Đồng thời, cần tạo lập cơ chế thuận lợi để khuyến khích cộng đồng phối hợp và giúp cơ quan có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT.

Bốn là, xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác này, cần thực hiện chế độ báo cáo kết quả công tác thanh tra, kiểm tra theo quy định; thực hiện việc nắm bắt, trao đổi, cung cấp thông tin về đối tượng thanh tra khi được yêu cầu đảm bảo chính xác, kịp thời, từng bước tăng cường sự phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo; khắc phục tình trạng chồng chéo trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu quả và vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực BVMT; xây dựng cơ chế đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan trung ương và địa phương trong việc xử lý dứt điểm các vụ việc khiếu nại kéo dài, hết thẩm quyền, đúng quy định.

Năm là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được giao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Bên cạnh việc kiện toàn cơ cấu tổ chức, cần quan tâm, coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức BVMT nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý từ trung ương đến địa phương. Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về lý luận chính trị, an ninh - quốc phòng, quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ. Ngoài ra, thông qua các chương trình, đề án, dự án hợp tác với nước ngoài, tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ quản lý, nâng cao trình độ chuyên môn trong nước và cử cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở ngoài nước, tiếp cận với phương pháp quản lý, khoa học công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới.

Sáu là, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ phát hiện và xử lý vi phạm hành chính trọng lĩnh vực bảo vệ môi trường

Đầu tư đầy đủ trang thiết bị cho các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước, có thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT nhằm phát hiện kịp thời, xác định đúng mức độ vi phạm, loại hình vi phạm và xử lý đúng mức các hành vi vi phạm hành chính về BVMT. Thực hiện các nội dung của Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, cân đối, bố trí vốn từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn vốn khác như vốn vay, trái phiếu chính phủ trong đầu tư cho công tác BVMT; các cơ quan chức năng quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn thu thuế BVMT tại các địa phương để đầu tư trở lại cho công tác XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Ưu tiên đầu tư kinh phí cho công tác thanh tra, kiểm tra, theo dõi, giám sát việc thực hiện pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Bổ sung ngân sách để đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị chuyên dùng và biên chế cho lực lượng cán bộ, công chức liên quan đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

PGS.TS. Tào Thị Quyên

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

TS. Vũ Ngọc Hà

Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên


1. https://www.moitruongvadothi.vn/phap-luat/phap-luat-moi-truong/co-tinh-vi-pham-cong-ty-tnhh-khai-than-viet-nam-tiep-tuc-bi-phat-a21870.html (truy cập ngày 11/01/2018).

[2]https://www.thiennhien.net/2015/06/02/quyen-moi-truong-va-su-tham-gia-cua-nguoi-dan-trong-thuc-hien-quyen-moi-truong (truy cập ngày 02/6/2015).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: