Thứ hai 17/08/2026 09:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết của Quốc Hội

Thí điểm chế định Thừa phát lại là một trong các giải pháp về cải cách tư pháp đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra và thể chế hóa tại Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội.

Thí điểm chế định Thừa phát lại là một trong các giải pháp về cải cách tư pháp đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra và thể chế hóa tại Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội. Từ năm 2010, chế định này đã chính thức được thực hiện thí điểm tại TP. Hồ Chí Minh và sau hơn 02 năm thực hiện, trên cơ sở tổng kết, báo cáo của Chính phủ, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2013 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Đến nay, việc thí điểm đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Ngay sau khi có Nghị quyết của Quốchội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” (Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày25/3/2013); có văn bản đề nghị và trên cơ sở đăng ký của các địa phương, lựa chọn, phê duyệt Đề án của 12 địa phương mở rộng thí điểm (gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long). Nhằm tăng cường sự phối hợp trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ngành thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại ở trung ương (Ban Chỉ đạo),tổ chức hội nghịquán triệt, triển khai thực hiện. Trên cơ sở đó, các địa phương mở rộng thí điểm cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo và tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện.

Để tạo cơ sở pháp lý, quy định, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng, trình Chính phủ ban hành 01 nghị định; đồng thời, ban hành 03 thông tư hướng dẫn thi hành (02 thông tư liên tịch và 01 thông tư của Bộ Tư pháp). Cũng trong quá trình thực hiện, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành liên quan và địa phương đã có nhiều văn bản quán triệt, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện với phương châm sát sao, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất cho Thừa phát lại hoạt động, đảm bảo thành công của chế định này. Tại một số địa phương, Tỉnh ủy/Thành ủy, Ủy ban nhân dân đã có văn bản, chỉ thị nhằm quán triệt, chỉ đạo các sở, ban, ngành, các cấp ủy, chính quyền trên địa bàn phối hợp, thực hiện hiệu quả việc thí điểm.

Trong năm 2013 - 2014, Ban Chỉ đạo đã tổ chức kiểm tra để đôn đốc, nắm bắt tình hình và giải quyết một số khó khăn, vướng mắc tại 12 địa phương mở rộng thí điểm. Bộ Tư pháp cũng đã phê duyệt Đề án và tổ chức khảo sát, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố để thực hiện.

Về công tác tuyên truyền, Bộ Tư pháp đã có Quyết định số 485/QĐ-BTP ngày 03/3/2014 ban hành Kế hoạch truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại và đang thực hiện Kế hoạch này với nhiều hoạt động khác nhau, như: Mở chuyên mục Thừa phát lại trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp; phát hành các số chuyên đề về Thừa phát lại của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; mở chuyên mục, đăng tải nhiều bài viết trên trên Báo Pháp luật Việt Nam, Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh; phát hành tờ rơi, tài liệu về Thừa phát lại... Các địa phương thí điểm cũng đã xây dựng và đang thực hiện kế hoạch truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại với nhiều hình thức khác nhau, trong đó, một số địa phương thực hiện tốt công tác này như: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Phúc…

Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều lớp đào tạo, cấp chứng chỉ để bổnhiệm Thừa phát lại; tập huấn kỹ năng cho Thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ. Đến nay, tại 13 địa phương thực hiện thí điểm đã thành lập 51 Văn phòng Thừa phát lại với 120 Thừa phát lại đang hành nghề (trong đó, tại TP. Hồ Chí Minh đã thành lập 12 Văn phòng, 11 Văn phòng đã đi vào hoạt động, 01 Văn phòng đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp phép hoạt động). Các Văn phòng tại TP.Hồ Chí Minh đã ổn định và hoạt động có hiệu quả, cơ bản đảm bảo cân đối về mặt tài chính và bước đầu có lợi nhuận. Còn tại các địa phương mở rộng thí điểm bước đầu cũng đã thu được kết quả nhất định. Tính đến ngày 31/10/2014, doanh thu của các Văn phòng Thừa phát lại tại 13 địa phương thí điểm đạt 63.325.502.000 đồng (trong đó, các Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh doanh thu đạt 56.712.825.000 đồng; Văn phòng tại 12 địa phương mở rộng thí điểm doanh thu đạt 6.612.676.000 đồng). Trong đó: Lập 24.669 vi bằng, doanh thu 34.951.340.750 đồng; tống đạt 377.684 văn bản, doanh thu 23.306.664.282 đồng; xác minh điều kiện thi hành án 595 việc, doanh thu 2.342.661.750 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành 123 việc thi hành án, doanh thu 2.724.835.332 đồng.

Nhìn chung, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai một cách bài bản, nghiêm túc, có trách nhiệm và đã thu được kết quả tích cực thể hiện trên các mặt, chủ trương của Đảng và Nhà nước đã từng bước đi vào cuộc sống, được người dân, xã hội đón nhận. Đến nay, chế định này đã được thí điểm tại 13 địa phương, hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại là khả quan, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh. Thừa phát lại đã bắt đầu trở thành một nghề, từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong hoạt động bổ trợ tư pháp.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trong thời gian qua đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần được khắc phục, như nhận thức của người dân và của một số cơ quan, cán bộ, công chức, vẫn còn hạn chế; việc triển khai một số công việc còn chậm so với kế hoạch; công tác phối hợp của các cơ quan có trách nhiệm triển khai có lúc, có nơi còn chưa tốt; các Văn phòng Thừa phát lại tại 12 địa phương chậm đi vào hoạt động, còn tại TP. Hồ Chí Minh, hoạt động của các văn phòng đã ổn định, đạt kết quả khả quan, nhưng chưa đồng đều, chủ yếu là lập vi bằng, tống đạt văn bản...

Phương hướng thực hiện trong thời gian tới là nâng cao nhận thức, thống nhất hành động từ trung ương đến địa phương, đẩy mạnh mọi mặt công tác, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, nhằm đẩy mạnh toàn diện kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, đảmbảo việc thí điểm thành công và tổ chức tốt việc tổng kết, báo cáo Quốc hội. Trong đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp như: (i) Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về Thừa phát lại, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cán bộ trong việc triển khai thực hiện thí điểm; hiểu biết và tiếp cận của người dân đối với dịch vụ này; (ii) Giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; (iii) Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn cho Thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ; năng lực quản lý, điều hành của các Văn phòng Thừa phát lại; (iv) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sát, giám sát hoạt động Thừa phát lại; (v) Các Văn phòng Thừa phát lại cần chủ động, nỗ lực hơn nữa, tự khắc phục khó khăn, đề ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động; xây dựng hình ảnh Thừa phát lại chuẩn mực trong xã hội; (vi) Quán triệt và thực hiện nghiêm túc ý kiến kết luận của Chủ tịch nước tại buổi làm việc ngày 07/11/2014 về công tác thi hành án và triển khai thí điểm chế định Thừa phát lại, trong đó thực hiện tốt tổng kết, báo cáo Quốc hội và tiến tới xây dựng Luật Thừa phát lại, không làm gián đoạn hoạt động của Thừa phát lại khi hết thời gian thí điểm.

Thời gian tới, các bộ, ngành tiếp tục quan tâm, phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của thừa phát lại; các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các địa phương thực hiện thí điểm Thừa phát lại thực hiện việc giám sát để kịp thời có giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc triển khai, đồng thời, có định hướng chủ trương thực hiện sau khi kết thúc thí điểm.

Lê Xuân Hồng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: