Thứ ba 13/01/2026 14:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết của Quốc Hội

Thí điểm chế định Thừa phát lại là một trong các giải pháp về cải cách tư pháp đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra và thể chế hóa tại Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội.

Thí điểm chế định Thừa phát lại là một trong các giải pháp về cải cách tư pháp đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra và thể chế hóa tại Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội. Từ năm 2010, chế định này đã chính thức được thực hiện thí điểm tại TP. Hồ Chí Minh và sau hơn 02 năm thực hiện, trên cơ sở tổng kết, báo cáo của Chính phủ, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2013 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Đến nay, việc thí điểm đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Ngay sau khi có Nghị quyết của Quốchội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” (Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày25/3/2013); có văn bản đề nghị và trên cơ sở đăng ký của các địa phương, lựa chọn, phê duyệt Đề án của 12 địa phương mở rộng thí điểm (gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long). Nhằm tăng cường sự phối hợp trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ngành thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại ở trung ương (Ban Chỉ đạo),tổ chức hội nghịquán triệt, triển khai thực hiện. Trên cơ sở đó, các địa phương mở rộng thí điểm cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo và tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện.

Để tạo cơ sở pháp lý, quy định, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng, trình Chính phủ ban hành 01 nghị định; đồng thời, ban hành 03 thông tư hướng dẫn thi hành (02 thông tư liên tịch và 01 thông tư của Bộ Tư pháp). Cũng trong quá trình thực hiện, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành liên quan và địa phương đã có nhiều văn bản quán triệt, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện với phương châm sát sao, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất cho Thừa phát lại hoạt động, đảm bảo thành công của chế định này. Tại một số địa phương, Tỉnh ủy/Thành ủy, Ủy ban nhân dân đã có văn bản, chỉ thị nhằm quán triệt, chỉ đạo các sở, ban, ngành, các cấp ủy, chính quyền trên địa bàn phối hợp, thực hiện hiệu quả việc thí điểm.

Trong năm 2013 - 2014, Ban Chỉ đạo đã tổ chức kiểm tra để đôn đốc, nắm bắt tình hình và giải quyết một số khó khăn, vướng mắc tại 12 địa phương mở rộng thí điểm. Bộ Tư pháp cũng đã phê duyệt Đề án và tổ chức khảo sát, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố để thực hiện.

Về công tác tuyên truyền, Bộ Tư pháp đã có Quyết định số 485/QĐ-BTP ngày 03/3/2014 ban hành Kế hoạch truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại và đang thực hiện Kế hoạch này với nhiều hoạt động khác nhau, như: Mở chuyên mục Thừa phát lại trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp; phát hành các số chuyên đề về Thừa phát lại của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; mở chuyên mục, đăng tải nhiều bài viết trên trên Báo Pháp luật Việt Nam, Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh; phát hành tờ rơi, tài liệu về Thừa phát lại... Các địa phương thí điểm cũng đã xây dựng và đang thực hiện kế hoạch truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại với nhiều hình thức khác nhau, trong đó, một số địa phương thực hiện tốt công tác này như: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Phúc…

Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều lớp đào tạo, cấp chứng chỉ để bổnhiệm Thừa phát lại; tập huấn kỹ năng cho Thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ. Đến nay, tại 13 địa phương thực hiện thí điểm đã thành lập 51 Văn phòng Thừa phát lại với 120 Thừa phát lại đang hành nghề (trong đó, tại TP. Hồ Chí Minh đã thành lập 12 Văn phòng, 11 Văn phòng đã đi vào hoạt động, 01 Văn phòng đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp phép hoạt động). Các Văn phòng tại TP.Hồ Chí Minh đã ổn định và hoạt động có hiệu quả, cơ bản đảm bảo cân đối về mặt tài chính và bước đầu có lợi nhuận. Còn tại các địa phương mở rộng thí điểm bước đầu cũng đã thu được kết quả nhất định. Tính đến ngày 31/10/2014, doanh thu của các Văn phòng Thừa phát lại tại 13 địa phương thí điểm đạt 63.325.502.000 đồng (trong đó, các Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh doanh thu đạt 56.712.825.000 đồng; Văn phòng tại 12 địa phương mở rộng thí điểm doanh thu đạt 6.612.676.000 đồng). Trong đó: Lập 24.669 vi bằng, doanh thu 34.951.340.750 đồng; tống đạt 377.684 văn bản, doanh thu 23.306.664.282 đồng; xác minh điều kiện thi hành án 595 việc, doanh thu 2.342.661.750 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành 123 việc thi hành án, doanh thu 2.724.835.332 đồng.

Nhìn chung, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai một cách bài bản, nghiêm túc, có trách nhiệm và đã thu được kết quả tích cực thể hiện trên các mặt, chủ trương của Đảng và Nhà nước đã từng bước đi vào cuộc sống, được người dân, xã hội đón nhận. Đến nay, chế định này đã được thí điểm tại 13 địa phương, hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại là khả quan, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh. Thừa phát lại đã bắt đầu trở thành một nghề, từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong hoạt động bổ trợ tư pháp.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trong thời gian qua đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần được khắc phục, như nhận thức của người dân và của một số cơ quan, cán bộ, công chức, vẫn còn hạn chế; việc triển khai một số công việc còn chậm so với kế hoạch; công tác phối hợp của các cơ quan có trách nhiệm triển khai có lúc, có nơi còn chưa tốt; các Văn phòng Thừa phát lại tại 12 địa phương chậm đi vào hoạt động, còn tại TP. Hồ Chí Minh, hoạt động của các văn phòng đã ổn định, đạt kết quả khả quan, nhưng chưa đồng đều, chủ yếu là lập vi bằng, tống đạt văn bản...

Phương hướng thực hiện trong thời gian tới là nâng cao nhận thức, thống nhất hành động từ trung ương đến địa phương, đẩy mạnh mọi mặt công tác, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, nhằm đẩy mạnh toàn diện kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, đảmbảo việc thí điểm thành công và tổ chức tốt việc tổng kết, báo cáo Quốc hội. Trong đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp như: (i) Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về Thừa phát lại, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cán bộ trong việc triển khai thực hiện thí điểm; hiểu biết và tiếp cận của người dân đối với dịch vụ này; (ii) Giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; (iii) Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn cho Thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ; năng lực quản lý, điều hành của các Văn phòng Thừa phát lại; (iv) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sát, giám sát hoạt động Thừa phát lại; (v) Các Văn phòng Thừa phát lại cần chủ động, nỗ lực hơn nữa, tự khắc phục khó khăn, đề ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động; xây dựng hình ảnh Thừa phát lại chuẩn mực trong xã hội; (vi) Quán triệt và thực hiện nghiêm túc ý kiến kết luận của Chủ tịch nước tại buổi làm việc ngày 07/11/2014 về công tác thi hành án và triển khai thí điểm chế định Thừa phát lại, trong đó thực hiện tốt tổng kết, báo cáo Quốc hội và tiến tới xây dựng Luật Thừa phát lại, không làm gián đoạn hoạt động của Thừa phát lại khi hết thời gian thí điểm.

Thời gian tới, các bộ, ngành tiếp tục quan tâm, phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của thừa phát lại; các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các địa phương thực hiện thí điểm Thừa phát lại thực hiện việc giám sát để kịp thời có giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc triển khai, đồng thời, có định hướng chủ trương thực hiện sau khi kết thúc thí điểm.

Lê Xuân Hồng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: