Thứ bảy 16/05/2026 06:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết của Quốc Hội

Thí điểm chế định Thừa phát lại là một trong các giải pháp về cải cách tư pháp đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra và thể chế hóa tại Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội.

Thí điểm chế định Thừa phát lại là một trong các giải pháp về cải cách tư pháp đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra và thể chế hóa tại Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội. Từ năm 2010, chế định này đã chính thức được thực hiện thí điểm tại TP. Hồ Chí Minh và sau hơn 02 năm thực hiện, trên cơ sở tổng kết, báo cáo của Chính phủ, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2013 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Đến nay, việc thí điểm đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Ngay sau khi có Nghị quyết của Quốchội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” (Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày25/3/2013); có văn bản đề nghị và trên cơ sở đăng ký của các địa phương, lựa chọn, phê duyệt Đề án của 12 địa phương mở rộng thí điểm (gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long). Nhằm tăng cường sự phối hợp trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ngành thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại ở trung ương (Ban Chỉ đạo),tổ chức hội nghịquán triệt, triển khai thực hiện. Trên cơ sở đó, các địa phương mở rộng thí điểm cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo và tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện.

Để tạo cơ sở pháp lý, quy định, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng, trình Chính phủ ban hành 01 nghị định; đồng thời, ban hành 03 thông tư hướng dẫn thi hành (02 thông tư liên tịch và 01 thông tư của Bộ Tư pháp). Cũng trong quá trình thực hiện, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành liên quan và địa phương đã có nhiều văn bản quán triệt, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện với phương châm sát sao, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất cho Thừa phát lại hoạt động, đảm bảo thành công của chế định này. Tại một số địa phương, Tỉnh ủy/Thành ủy, Ủy ban nhân dân đã có văn bản, chỉ thị nhằm quán triệt, chỉ đạo các sở, ban, ngành, các cấp ủy, chính quyền trên địa bàn phối hợp, thực hiện hiệu quả việc thí điểm.

Trong năm 2013 - 2014, Ban Chỉ đạo đã tổ chức kiểm tra để đôn đốc, nắm bắt tình hình và giải quyết một số khó khăn, vướng mắc tại 12 địa phương mở rộng thí điểm. Bộ Tư pháp cũng đã phê duyệt Đề án và tổ chức khảo sát, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố để thực hiện.

Về công tác tuyên truyền, Bộ Tư pháp đã có Quyết định số 485/QĐ-BTP ngày 03/3/2014 ban hành Kế hoạch truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại và đang thực hiện Kế hoạch này với nhiều hoạt động khác nhau, như: Mở chuyên mục Thừa phát lại trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp; phát hành các số chuyên đề về Thừa phát lại của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; mở chuyên mục, đăng tải nhiều bài viết trên trên Báo Pháp luật Việt Nam, Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh; phát hành tờ rơi, tài liệu về Thừa phát lại... Các địa phương thí điểm cũng đã xây dựng và đang thực hiện kế hoạch truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại với nhiều hình thức khác nhau, trong đó, một số địa phương thực hiện tốt công tác này như: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Phúc…

Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều lớp đào tạo, cấp chứng chỉ để bổnhiệm Thừa phát lại; tập huấn kỹ năng cho Thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ. Đến nay, tại 13 địa phương thực hiện thí điểm đã thành lập 51 Văn phòng Thừa phát lại với 120 Thừa phát lại đang hành nghề (trong đó, tại TP. Hồ Chí Minh đã thành lập 12 Văn phòng, 11 Văn phòng đã đi vào hoạt động, 01 Văn phòng đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp phép hoạt động). Các Văn phòng tại TP.Hồ Chí Minh đã ổn định và hoạt động có hiệu quả, cơ bản đảm bảo cân đối về mặt tài chính và bước đầu có lợi nhuận. Còn tại các địa phương mở rộng thí điểm bước đầu cũng đã thu được kết quả nhất định. Tính đến ngày 31/10/2014, doanh thu của các Văn phòng Thừa phát lại tại 13 địa phương thí điểm đạt 63.325.502.000 đồng (trong đó, các Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh doanh thu đạt 56.712.825.000 đồng; Văn phòng tại 12 địa phương mở rộng thí điểm doanh thu đạt 6.612.676.000 đồng). Trong đó: Lập 24.669 vi bằng, doanh thu 34.951.340.750 đồng; tống đạt 377.684 văn bản, doanh thu 23.306.664.282 đồng; xác minh điều kiện thi hành án 595 việc, doanh thu 2.342.661.750 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành 123 việc thi hành án, doanh thu 2.724.835.332 đồng.

Nhìn chung, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai một cách bài bản, nghiêm túc, có trách nhiệm và đã thu được kết quả tích cực thể hiện trên các mặt, chủ trương của Đảng và Nhà nước đã từng bước đi vào cuộc sống, được người dân, xã hội đón nhận. Đến nay, chế định này đã được thí điểm tại 13 địa phương, hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại là khả quan, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh. Thừa phát lại đã bắt đầu trở thành một nghề, từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong hoạt động bổ trợ tư pháp.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trong thời gian qua đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần được khắc phục, như nhận thức của người dân và của một số cơ quan, cán bộ, công chức, vẫn còn hạn chế; việc triển khai một số công việc còn chậm so với kế hoạch; công tác phối hợp của các cơ quan có trách nhiệm triển khai có lúc, có nơi còn chưa tốt; các Văn phòng Thừa phát lại tại 12 địa phương chậm đi vào hoạt động, còn tại TP. Hồ Chí Minh, hoạt động của các văn phòng đã ổn định, đạt kết quả khả quan, nhưng chưa đồng đều, chủ yếu là lập vi bằng, tống đạt văn bản...

Phương hướng thực hiện trong thời gian tới là nâng cao nhận thức, thống nhất hành động từ trung ương đến địa phương, đẩy mạnh mọi mặt công tác, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, nhằm đẩy mạnh toàn diện kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, đảmbảo việc thí điểm thành công và tổ chức tốt việc tổng kết, báo cáo Quốc hội. Trong đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp như: (i) Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về Thừa phát lại, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cán bộ trong việc triển khai thực hiện thí điểm; hiểu biết và tiếp cận của người dân đối với dịch vụ này; (ii) Giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; (iii) Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn cho Thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ; năng lực quản lý, điều hành của các Văn phòng Thừa phát lại; (iv) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sát, giám sát hoạt động Thừa phát lại; (v) Các Văn phòng Thừa phát lại cần chủ động, nỗ lực hơn nữa, tự khắc phục khó khăn, đề ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động; xây dựng hình ảnh Thừa phát lại chuẩn mực trong xã hội; (vi) Quán triệt và thực hiện nghiêm túc ý kiến kết luận của Chủ tịch nước tại buổi làm việc ngày 07/11/2014 về công tác thi hành án và triển khai thí điểm chế định Thừa phát lại, trong đó thực hiện tốt tổng kết, báo cáo Quốc hội và tiến tới xây dựng Luật Thừa phát lại, không làm gián đoạn hoạt động của Thừa phát lại khi hết thời gian thí điểm.

Thời gian tới, các bộ, ngành tiếp tục quan tâm, phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của thừa phát lại; các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các địa phương thực hiện thí điểm Thừa phát lại thực hiện việc giám sát để kịp thời có giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc triển khai, đồng thời, có định hướng chủ trương thực hiện sau khi kết thúc thí điểm.

Lê Xuân Hồng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: