Thứ hai 10/08/2026 20:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn thi hành các quy định của Luật Đất đai năm 2013 về thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số những vướng mắc, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành các quy định của Luật Đất đai năm 2013 về thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất. Trên cơ sở đó, tác giả khuyến nghị một số giải pháp khắc phục nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi Luật Đất đai năm 2013 nói chung và các quy định về thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất nói riêng.

Abstract: The article analyzes some difficulties, limitations arising out of the process of implementing regulations of the Land Law of 2013 with respect to collection of land use fees, land lease fees. Based on this analysis, the author proposes some resolutions with a view to overcome difficulties and to contribute to improving implementation effect of the Land Law of 2013 in general and regulations of collection of land use levies, land lease levies in particular.

1. Một số hạn chế, vướng mắc cơ bản

Quá trình triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013 về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trên phạm vi cả nước trong thời gian qua đã gặp phải những khó khăn, vướng mắc cơ bản sau đây:

Thứ nhất, vướng mắc nảy sinh trong trường hợp chủ đầu tư thỏa thuận với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trong việc nhận chuyển nhượng, thuê, thuê lại hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: (i) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh[1]; (ii) Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng[2]; (iii) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai[3]; (iv) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người[4]. Việc sử dụng đất để thực hiện dự án, công trình sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, thì chủ đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật[5]. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện những quy định này gặp phải những vướng mắc. Xin đơn cử về thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hà Nội, trước đây, khi thực hiện Luật Đất đai năm 2003, thành phố đã triển khai thực hiện việc giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư theo hình thức chủ đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thực tế cho thấy, 70% diện tích đất đã chuyển nhượng theo quy hoạch, còn lại một số trường hợp không thỏa thuận được, nhiều trường hợp gây khó khăn để ép chủ đầu tư phải thỏa thuận với mức giá cao hơn. Do đó, dẫn đến một số dự án kéo dài trên 10 năm mà chưa thỏa thuận được, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhiều trường hợp diện tích chưa thỏa thuận được nằm xen kẽ trong khu đã thỏa thuận dẫn đến dự án không thực hiện được. Diện tích đất nhận chuyển nhượng để hoang hóa gây thiệt hại cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, quy hoạch kiến trúc được phê duyệt[6].

Thứ hai, vướng mắc trong việc xác định nghĩa vụ tài chính đối với những trường hợp chuyển từ hình thức giao đất sang thuê đất theo Luật Đất đai năm 2013

- Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (Nghị định số 46/2014/NĐ-CP) quy định trường hợp: “Chuyển từ hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất trước ngày 01/07/2014 (ngày Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành) sang hình thức Nhà nước cho thuê đất”.

Tiếp đó, khoản 1 Điều 31 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP quy định: “Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc trường hợp thuê đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 được Nhà nước giao đất và đã nộp tiền sử dụng đất trước ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn sử dụng đất còn lại, không phải chuyển sang thuê đất. Khi hết thời hạn sử dụng đất nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Luật Đất đai thì phải chuyển sang thuê đất và phải nộp tiền thuê đất theo quy định của Nghị định này”.

- Quy định về thẩm quyền điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất. Điều 101 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định thẩm quyền điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đã giao, đã cho thuê trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất quy định tại Điều 59 của Luật Đất đai là cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh đối với trường hợp người sử dụng đất đã có quyết định giao đất, cho thuê đất trước ngày 01/7/2014”.

Như vậy, khi áp dụng các điều luật của hai văn bản nêu trên đã nảy sinh các vướng mắc cụ thể sau:

- Đối với những trường hợp được giao đất trước ngày 01/7/2014, đã có thông báo nộp tiền sử dụng đất nhưng đến nay, người sử dụng đất chưa nộp tiền sử dụng đất thì họ có phải chuyển sang thuê đất không?

- Đối với những trường hợp được giao đất trước ngày 01/07/2014, nhưng chưa có thông báo nộp tiền sử dụng đất thì nay họ có phải chuyển sang thuê đất không?

Đối với hai trường hợp nêu trên, nếu phải chuyển sang thuê đất, thì Sở Tài nguyên và Môi trường có phải tham mưu cho Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh ban hành quyết định điều chỉnh quyết định giao đất trước đây thành quyết định cho thuê đất không? Đơn vị được giao đất có phải làm đơn đề nghị chuyển từ giao đất sang thuê đất hay chỉ cần căn cứ vào quy định của pháp luật và Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu trình UBND cấp tỉnh ban hành quyết định chuyển từ việc giao đất sang thuê đất?

Khi ban hành quyết định chuyển từ việc giao đất sang thuê đất thì thời điểm xác định giá đất để tính tiền thuê đất là ngày nào: Từ ngày 01/7/2014 (thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực) hay thời điểm UBND cấp tỉnh có quyết định điều chỉnh?.

Thứ ba, trường hợp doanh nghiệp đóng tiền sử dụng đất, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước theo quy định Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (Nghị định số 69/NĐ-CP), thì phải chuyển sang thuê đất. Trong khi Luật Đất đai năm 2013 không quy định về vấn đề này. Vậy trường hợp này giải quyết như thế nào?

2. Một số kiến nghị khắc phục các bất cập của Luật Đất đai năm 2013 về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

- Đối với những vướng mắc nảy sinh trong trường hợp chủ đầu tư nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân xin đề xuất một số kiến nghị sau đây:

Một là, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Chính phủ cho phép thực hiện theo phương án như sau: Trường hợp sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thông qua hình thức mua tài sản gắn liền với đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy hoạch mà chủ đầu tư đã thỏa thuận chuyển nhượng trên 70% diện tích đất, nếu sau 30 ngày kể từ ngày UBND cấp huyện tổ chức cho các bên thương thảo mà không đạt được thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì cho phép giao tổ chức phát triển quỹ đất lập hồ sơ thu hồi đất, thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng. Sau đó, sẽ giao chủ đầu tư thực hiện dự án đầu tư. Tuy nhiên, các diện tích đất thu hồi này đề nghị không phải lập danh mục dự án thu hồi đất trình HĐND cấp tỉnh thông qua.

Hai là, đối với các trường hợp đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án có sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003, nhưng đến nay chưa làm thủ tục giao đất, cho thuê đất và không thuộc loại dự án Nhà nước thu hồi, đề nghị cho phép UBND cấp tỉnh ban hành quyết định thu hồi đất. Sau đó, giao cho trung tâm phát triển quỹ đất giải phóng mặt bằng rồi bàn giao cho chủ đầu tư.

Ba là, để giải quyết bất cập hiện nay trong việc sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh thông qua hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; trong đó, có diện tích không đủ điều kiện để chuyển nhượng, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần nghiên cứu, cho phép chủ đầu tư lập hồ sơ thu hồi diện tích đất đó cùng với việc lập hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án và không phải lập danh mục báo cáo HĐND cấp tỉnh thông qua.

- Rà soát, báo cáo Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung mâu thuẫn giữa Điều 117 và Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 với Luật Đầu tư về việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án phát triển kinh tế thông qua đấu giá quyền sử dụng đất mà không có hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất để lựa chọn chủ đầu tư.

- Quy định cụ thể thủ tục chuyển từ hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm sang hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê theo hướng đề cập rõ trong trường hợp này có phải ban hành quyết định cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hay chỉ đăng ký, biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính.

- Xử lý đối với những trường hợp được giao đất trước ngày 01/7/2014, đã có thông báo nộp tiền sử dụng đất nhưng đến nay, người sử dụng đất chưa nộp tiền sử dụng đất, trong đó, cần quy định rõ trong trường hợp này họ có phải chuyển sang thuê đất không.

- Xử lý đối với những trường hợp được giao đất trước ngày 01/7/2014, nhưng chưa có thông báo nộp tiền sử dụng đất thì nay họ có phải chuyển sang thuê đất không.

- Xử lý đối với hai trường hợp nêu trên, nếu phải chuyển sang thuê đất thì Sở Tài nguyên và Môi trường có phải tham mưu cho UBND cấp tỉnh ban hành quyết định điều chỉnh quyết định giao đất trước đây thành quyết định cho thuê đất không. Đơn vị được giao đất có phải làm đơn đề nghị chuyển từ giao đất sang thuê đất hay chỉ cần căn cứ vào quy định của pháp luật và Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu trình UBND cấp tỉnh ban hành quyết định chuyển từ việc giao đất sang thuê đất.

- Xử lý đối với hai trường hợp trên, khi ban hành quyết định chuyển từ việc giao đất sang thuê đất thì thời điểm xác định giá đất để tính tiền thuê đất là từ ngày 01/7/2014 (thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực) hay thời điểm UBND cấp tỉnh có quyết định điều chỉnh.

- Xử lý đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân xin chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa sang đất ở, không thực hiện dự án đầu tư mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng thì có cần thông qua Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để ban hành nghị quyết không.

- Cần bổ sung quy định đối với trường hợp doanh nghiệp đóng tiền sử dụng đất, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP thì phải chuyển sang thuê đất. Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2013 không quy định về vấn đề này thì trường hợp này phải giải quyết như thế nào.

- Bổ sung quy định cụ thể về trường hợp không đấu giá quyền sử dụng đất theo khoản 3 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013.

- Bổ sung quy định cụ thể để xử lý đối với các dự án thuộc trường hợp không thuộc diện Nhà nước thu hồi đất, nhà đầu tư thực hiện việc chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án nhưng trong khu vực dự án có cả đất công ích của UBND cấp xã.

- Bổ sung quy định cụ thể xử lý đối với trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xin chuyển mục đích sử dụng đất sang đất thương mại, dịch vụ và đất sản xuất phi nông nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư có sử dụng đất.

ThS. Hoàng Việt Trung

Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 61 Luật Đất đai năm 2013.

[2].Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Điều 64 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Điều 65 Luật Đất đai năm 2013.

[5]. Khoản 1 Điều 73 Luật Đất đai năm 2013.

[6]. Xem: http://baotintuc.vn/van-de-quan-tam/nhieu-vuong-mac-trong-trien-khai-thi-hanh-luat-dat-dai-2013-20150603074911246.htm. Nhiều vướng mắc trong triển khai thi hành Luật đất đai năm 2013.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bất cập trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật Tố tụng dân sự Vướng mắc cần tháo gỡ để nâng cao hoạt động tranh tụng của luật sư tại phiên toà hình sự Hoàn thiện thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp Bàn về thẩm quyền đề nghị miễn thi hành án khoản tiền phạt theo Bộ luật Hình sự Những vướng mắc trong phối hợp thực hiện quy định về “cưỡng chế trả giấy tờ” Sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật Báo cáo thống kê thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phiên tòa giám đốc thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Theo dõi chúng tôi trên: