Chủ nhật 01/03/2026 21:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Bài viết này phân tích một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự, góp phần hoàn thiện nhận thức và áp dụng các quy định trong thực tiễn khi giải quyết vụ án hình sự và từ đó, đề xuất, kiến nghị phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự.

Trong hoạt động điều tra, xét xử vụ án hình sự, việc chứng minh có hay không có hành vi phạm tội là hết sức quan trọng, quyết định đến toàn bộ tiến trình giải quyết vụ án. Do đó, để xác định một người là người phạm tội nhằm truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ, Nhà nước ta đang giao nhiệm vụ này cho các cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.

1. Trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Theo Từ điển tiếng Việt, “trách nhiệm” là: “1. Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; 2. Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”[1]. Có thể hiểu, trách nhiệm là điều phải làm, phải “gánh vác”, là sự ràng buộc đối với hành vi, lời nói của mình, bảo đảm làm đúng đắn, bảo đảm công việc hay nghĩa vụ của mỗi người phải tuân thủ các nguyên tắc, mang tính tự giác cao nhằm thực hiện hoặc hoàn thành một cách tốt nhất, nếu sai trái thì phải chịu hậu quả.

Hoạt động chứng minh được hiểu là hoạt động tư duy hay thực tiễn của con người, có mục đích xác định sự tồn tại hay không tồn tại hoặc sự đúng, sai của một sự vật, hiện tượng trên cơ sở của những chứng cứ, căn cứ cụ thể. Hoạt động chứng minh được sử dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực của xã hội loài người, có thể trong lĩnh vực dân sự, thương mại, hành chính, hình sự…

Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ, hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp lý được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng hình sự và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền, nghĩa vụ cụ thể. Nó là công cụ để cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức được chính xác sự việc đã xảy ra trên thực tế, làm cơ sở để phán quyết giải quyết vụ án hình sự chính xác, khách quan, công bằng.

Trong điều tra, xét xử vụ án hình sự, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một cá nhân nào đó, điều kiện tiên quyết là phải chứng minh được hành vi của người đó thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể. Do đó, việc xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm trong vụ án hình sự có ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng. Đó là những nền tảng vững chắc cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, khách quan, đúng đắn, đúng người, đúng tội, công bằng, bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật và nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định về chứng minh tội phạm như sau:

- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 15); cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm a khoản 1 Điều 4); cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 1 Điều 34).

- Cơ quan được giao nhiệm giao vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các cơ quan của Bộ đội Biên phòng; các cơ quan của Hải quan; các cơ quan của Kiểm lâm; các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; các cơ quan của Kiểm ngư; các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 1 Điều 35).

Việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hoàn toàn hợp lý, bởi, theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều này cũng có nghĩa là thừa nhận người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình.

Chứng minh tội phạm là một quá trình diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử. Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc về Tòa án nhằm bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo theo nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Thực trạng thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Việc nghiên cứu về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự hiện nay đang được đặt ra bức thiết, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhằm phân tích mối liên hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh tội phạm cũng như chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, tồn tại khi quy định trách nhiệm chứng minh cho các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó đưa ra được những giải pháp có tính khả thi nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.

Quá trình thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đến nay và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần đạt được mục tiêu hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Những năm qua, chất lượng công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có nhiều chuyển biến tích cực, hạn chế tối đa để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm, xét xử bảo đảm đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, hạn chế tối đa để xảy ra các khiếu kiện, tố cáo xuất phát từ những thiếu sót trong hoạt động tư pháp. Trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thủ tục giải quyết vụ án bảo đảm các nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp, khẳng định trách nhiệm giải trình hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp (Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), thực hiện tốt và hiệu quả việc hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp trong tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, thực tiễn thực thi nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án” trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn đang còn nhiều vấn đề tồn tại, bất cập. Trên thực tế, chỉ cần một sai sót nhỏ từ phía cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ gây thiệt hại đối với người bị kết án, dẫn đến còn những vụ án oan sai hoặc “sót người, lọt tội”. Hiện nay, tình trạng án oan sai, sót người, lọt tội vẫn còn tồn tại gây bức xúc trong dư luận. Một số bất cập, vướng mắc trong quá trình thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự có thể kể đến:

Thứ nhất, việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng như hiện nay, vô hình trung đã trao cho ba cơ quan này về “cùng một bên” trong hoạt động chứng minh tội phạm. Trên thực tế, hiện nay, trước khi xử án, bằng những con đường chính thức hoặc không chính thức, có tình trạng ba cơ quan này đã có sự tiếp xúc để thảo luận về kết quả bản án, dẫn đến có tình trạng án “bỏ túi”, gây bức xúc trong dư luận nhân dân hiện nay.

Thứ hai, do trình độ và nhận thức chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt của một bộ phận không nhỏ những người tiến hành tố tụng dẫn đến việc không chứng minh được hành vi phạm tội, khiến cho tiến trình giải quyết vụ án bị ngưng trệ, đi vào bế tắc, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không thực hiện tội phạm, gây oan sai, gây tổn hại nghiêm trọng về tinh thần, vật chất cho người bị kết án.

Thứ ba, luật sư đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bị can, bị cáo. Luật sư là người đưa ra những chứng cứ, bào chữa gỡ tội cho bị can, bị cáo. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn chưa thực sự tạo điều kiện tham gia chứng minh tội phạm của luật sư trong vụ án hình sự. Điều này đã làm giảm đi vai trò, vị thế tranh tụng tại phiên tòa, khiến cho luật sư có vị thế thấp hơn kiểm sát viên thực hành quyền công tố.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề quyền con người đang được toàn cầu quan tâm, nếu không thực hiện tốt vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến hội nhập và tiến trình phát triển chung của thế giới.

Thứ tư, trong quá trình xét xử, Tòa án đứng ở vị trí người phân xử công minh, khách quan, công bằng. Như vậy, nếu thực hiện trình tự tố tụng tranh tụng, Tòa án là cơ quan đứng giữa cơ quan công tố và bị cáo. Việc quy định Tòa án có nghĩa vụ phải chứng minh tội phạm là không khả thi trong điều kiện tổ chức bộ máy cán bộ của hệ thống Tòa án hiện nay và có thể dẫn đến xu hướng “đẩy” Tòa án về phía cơ quan công tố, nghĩa là, Tòa án phải thực hiện công việc “chứng minh tội phạm” trong quá trình xét xử. Vẫn còn tình trạng việc xét xử dựa vào “nhận tội” của bị cáo là chính hoặc căn cứ vào những chứng cứ thiếu vững chắc… Điều này không phù hợp với mục tiêu nâng cao được vị thế độc lập của Tòa án trong hệ thống tư pháp trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta.

3. Đề xuất, kiến nghị

Trong bối cảnh tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, yêu cầu cấp thiết nhanh chóng hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nói chung, trong đó có quy định pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm cần đáp ứng 03 yêu cầu lớn: Cải cách hệ thống tư pháp, hội nhập quốc tế và bảo vệ quyền con người. Trên cơ sở phân tích những bất cập, vướng mắc nêu trên, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống cơ quan điều tra thống nhất gồm Cơ quan điều tra của Công an và Cơ quan điều tra của Quân đội.

Thứ hai, về thẩm quyền của Viện kiểm sát, quy định Viện kiểm sát có quyền trực tiếp điều tra vụ án hình sự với tư cách là cơ quan công tố; trách nhiệm xét hỏi để chứng minh tội phạm chủ yếu thuộc về Viện kiểm sát; bảo đảm Viện kiểm sát có thể chủ động quản lý được đầy đủ các nguồn tố giác, tin báo về tội phạm diễn ra và bảo đảm các tố giác, tin báo đó đều được tiến hành xác minh, giải quyết đúng quy định của pháp luật; bổ sung thẩm quyền khởi tố bị can của Viện kiểm sát trong trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện khởi tố, đồng thời, yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Quy định thêm phạm vi, điều kiện để Viện kiểm sát có quyền lựa chọn việc không truy tố (miễn tố) đối với một số loại tội phạm hoặc trường hợp phạm tội cụ thể khi xét thấy việc truy tố không phục vụ lợi ích của cộng đồng cũng như cá nhân, không được xã hội ủng hộ.

Thứ ba, về thẩm quyền của Tòa án, cần nghiên cứu bỏ quy định về quyền khởi tố vụ án hình sự và trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án.

Thứ tư, quy định cụ thể các quyền của người bào chữa trong vụ án hình sự, trình tự thu thập tài liệu, chứng cứ của người bào chữa và việc xem xét, đánh giá chứng cứ mà họ cung cấp phải ngang bằng với các chứng cứ do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập.

Thứ năm, thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chứng minh tội phạm: (i) Đổi mới công tác sắp xếp cán bộ, đầu tư phương tiện kỹ thuật hình sự phục vụ hoạt động điều tra và hoạt động giám định; (ii) Nâng cao trình độ pháp lý, nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, đề cao tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác; (iii) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo đảm cho công dân tham gia tích cực vào việc điều tra chứng minh tội phạm./.

ThS. Ngô Doanh

Phó Viện trưởng Viện Quản trị Kinh tế Việt Nam

[1]. Hoàng Phê chủ biên, Nxb. Đà Nẵng, 1997, tr. 985.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: