Thứ năm 16/07/2026 17:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Bài viết này phân tích một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự, góp phần hoàn thiện nhận thức và áp dụng các quy định trong thực tiễn khi giải quyết vụ án hình sự và từ đó, đề xuất, kiến nghị phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự.

Trong hoạt động điều tra, xét xử vụ án hình sự, việc chứng minh có hay không có hành vi phạm tội là hết sức quan trọng, quyết định đến toàn bộ tiến trình giải quyết vụ án. Do đó, để xác định một người là người phạm tội nhằm truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ, Nhà nước ta đang giao nhiệm vụ này cho các cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.

1. Trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Theo Từ điển tiếng Việt, “trách nhiệm” là: “1. Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; 2. Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”[1]. Có thể hiểu, trách nhiệm là điều phải làm, phải “gánh vác”, là sự ràng buộc đối với hành vi, lời nói của mình, bảo đảm làm đúng đắn, bảo đảm công việc hay nghĩa vụ của mỗi người phải tuân thủ các nguyên tắc, mang tính tự giác cao nhằm thực hiện hoặc hoàn thành một cách tốt nhất, nếu sai trái thì phải chịu hậu quả.

Hoạt động chứng minh được hiểu là hoạt động tư duy hay thực tiễn của con người, có mục đích xác định sự tồn tại hay không tồn tại hoặc sự đúng, sai của một sự vật, hiện tượng trên cơ sở của những chứng cứ, căn cứ cụ thể. Hoạt động chứng minh được sử dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực của xã hội loài người, có thể trong lĩnh vực dân sự, thương mại, hành chính, hình sự…

Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ, hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp lý được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng hình sự và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền, nghĩa vụ cụ thể. Nó là công cụ để cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức được chính xác sự việc đã xảy ra trên thực tế, làm cơ sở để phán quyết giải quyết vụ án hình sự chính xác, khách quan, công bằng.

Trong điều tra, xét xử vụ án hình sự, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một cá nhân nào đó, điều kiện tiên quyết là phải chứng minh được hành vi của người đó thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể. Do đó, việc xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm trong vụ án hình sự có ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng. Đó là những nền tảng vững chắc cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, khách quan, đúng đắn, đúng người, đúng tội, công bằng, bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật và nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định về chứng minh tội phạm như sau:

- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 15); cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm a khoản 1 Điều 4); cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 1 Điều 34).

- Cơ quan được giao nhiệm giao vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các cơ quan của Bộ đội Biên phòng; các cơ quan của Hải quan; các cơ quan của Kiểm lâm; các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; các cơ quan của Kiểm ngư; các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 1 Điều 35).

Việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hoàn toàn hợp lý, bởi, theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều này cũng có nghĩa là thừa nhận người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình.

Chứng minh tội phạm là một quá trình diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử. Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc về Tòa án nhằm bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo theo nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Thực trạng thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Việc nghiên cứu về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự hiện nay đang được đặt ra bức thiết, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhằm phân tích mối liên hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh tội phạm cũng như chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, tồn tại khi quy định trách nhiệm chứng minh cho các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó đưa ra được những giải pháp có tính khả thi nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.

Quá trình thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đến nay và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần đạt được mục tiêu hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Những năm qua, chất lượng công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có nhiều chuyển biến tích cực, hạn chế tối đa để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm, xét xử bảo đảm đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, hạn chế tối đa để xảy ra các khiếu kiện, tố cáo xuất phát từ những thiếu sót trong hoạt động tư pháp. Trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thủ tục giải quyết vụ án bảo đảm các nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp, khẳng định trách nhiệm giải trình hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp (Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), thực hiện tốt và hiệu quả việc hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp trong tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, thực tiễn thực thi nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án” trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn đang còn nhiều vấn đề tồn tại, bất cập. Trên thực tế, chỉ cần một sai sót nhỏ từ phía cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ gây thiệt hại đối với người bị kết án, dẫn đến còn những vụ án oan sai hoặc “sót người, lọt tội”. Hiện nay, tình trạng án oan sai, sót người, lọt tội vẫn còn tồn tại gây bức xúc trong dư luận. Một số bất cập, vướng mắc trong quá trình thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự có thể kể đến:

Thứ nhất, việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng như hiện nay, vô hình trung đã trao cho ba cơ quan này về “cùng một bên” trong hoạt động chứng minh tội phạm. Trên thực tế, hiện nay, trước khi xử án, bằng những con đường chính thức hoặc không chính thức, có tình trạng ba cơ quan này đã có sự tiếp xúc để thảo luận về kết quả bản án, dẫn đến có tình trạng án “bỏ túi”, gây bức xúc trong dư luận nhân dân hiện nay.

Thứ hai, do trình độ và nhận thức chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt của một bộ phận không nhỏ những người tiến hành tố tụng dẫn đến việc không chứng minh được hành vi phạm tội, khiến cho tiến trình giải quyết vụ án bị ngưng trệ, đi vào bế tắc, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không thực hiện tội phạm, gây oan sai, gây tổn hại nghiêm trọng về tinh thần, vật chất cho người bị kết án.

Thứ ba, luật sư đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bị can, bị cáo. Luật sư là người đưa ra những chứng cứ, bào chữa gỡ tội cho bị can, bị cáo. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn chưa thực sự tạo điều kiện tham gia chứng minh tội phạm của luật sư trong vụ án hình sự. Điều này đã làm giảm đi vai trò, vị thế tranh tụng tại phiên tòa, khiến cho luật sư có vị thế thấp hơn kiểm sát viên thực hành quyền công tố.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề quyền con người đang được toàn cầu quan tâm, nếu không thực hiện tốt vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến hội nhập và tiến trình phát triển chung của thế giới.

Thứ tư, trong quá trình xét xử, Tòa án đứng ở vị trí người phân xử công minh, khách quan, công bằng. Như vậy, nếu thực hiện trình tự tố tụng tranh tụng, Tòa án là cơ quan đứng giữa cơ quan công tố và bị cáo. Việc quy định Tòa án có nghĩa vụ phải chứng minh tội phạm là không khả thi trong điều kiện tổ chức bộ máy cán bộ của hệ thống Tòa án hiện nay và có thể dẫn đến xu hướng “đẩy” Tòa án về phía cơ quan công tố, nghĩa là, Tòa án phải thực hiện công việc “chứng minh tội phạm” trong quá trình xét xử. Vẫn còn tình trạng việc xét xử dựa vào “nhận tội” của bị cáo là chính hoặc căn cứ vào những chứng cứ thiếu vững chắc… Điều này không phù hợp với mục tiêu nâng cao được vị thế độc lập của Tòa án trong hệ thống tư pháp trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta.

3. Đề xuất, kiến nghị

Trong bối cảnh tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, yêu cầu cấp thiết nhanh chóng hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nói chung, trong đó có quy định pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm cần đáp ứng 03 yêu cầu lớn: Cải cách hệ thống tư pháp, hội nhập quốc tế và bảo vệ quyền con người. Trên cơ sở phân tích những bất cập, vướng mắc nêu trên, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống cơ quan điều tra thống nhất gồm Cơ quan điều tra của Công an và Cơ quan điều tra của Quân đội.

Thứ hai, về thẩm quyền của Viện kiểm sát, quy định Viện kiểm sát có quyền trực tiếp điều tra vụ án hình sự với tư cách là cơ quan công tố; trách nhiệm xét hỏi để chứng minh tội phạm chủ yếu thuộc về Viện kiểm sát; bảo đảm Viện kiểm sát có thể chủ động quản lý được đầy đủ các nguồn tố giác, tin báo về tội phạm diễn ra và bảo đảm các tố giác, tin báo đó đều được tiến hành xác minh, giải quyết đúng quy định của pháp luật; bổ sung thẩm quyền khởi tố bị can của Viện kiểm sát trong trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện khởi tố, đồng thời, yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Quy định thêm phạm vi, điều kiện để Viện kiểm sát có quyền lựa chọn việc không truy tố (miễn tố) đối với một số loại tội phạm hoặc trường hợp phạm tội cụ thể khi xét thấy việc truy tố không phục vụ lợi ích của cộng đồng cũng như cá nhân, không được xã hội ủng hộ.

Thứ ba, về thẩm quyền của Tòa án, cần nghiên cứu bỏ quy định về quyền khởi tố vụ án hình sự và trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án.

Thứ tư, quy định cụ thể các quyền của người bào chữa trong vụ án hình sự, trình tự thu thập tài liệu, chứng cứ của người bào chữa và việc xem xét, đánh giá chứng cứ mà họ cung cấp phải ngang bằng với các chứng cứ do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập.

Thứ năm, thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chứng minh tội phạm: (i) Đổi mới công tác sắp xếp cán bộ, đầu tư phương tiện kỹ thuật hình sự phục vụ hoạt động điều tra và hoạt động giám định; (ii) Nâng cao trình độ pháp lý, nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, đề cao tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác; (iii) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo đảm cho công dân tham gia tích cực vào việc điều tra chứng minh tội phạm./.

ThS. Ngô Doanh

Phó Viện trưởng Viện Quản trị Kinh tế Việt Nam

[1]. Hoàng Phê chủ biên, Nxb. Đà Nẵng, 1997, tr. 985.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: