Thứ tư 10/12/2025 00:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Bài viết này phân tích một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự, góp phần hoàn thiện nhận thức và áp dụng các quy định trong thực tiễn khi giải quyết vụ án hình sự và từ đó, đề xuất, kiến nghị phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự.

Trong hoạt động điều tra, xét xử vụ án hình sự, việc chứng minh có hay không có hành vi phạm tội là hết sức quan trọng, quyết định đến toàn bộ tiến trình giải quyết vụ án. Do đó, để xác định một người là người phạm tội nhằm truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ, Nhà nước ta đang giao nhiệm vụ này cho các cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.

1. Trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Theo Từ điển tiếng Việt, “trách nhiệm” là: “1. Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; 2. Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”[1]. Có thể hiểu, trách nhiệm là điều phải làm, phải “gánh vác”, là sự ràng buộc đối với hành vi, lời nói của mình, bảo đảm làm đúng đắn, bảo đảm công việc hay nghĩa vụ của mỗi người phải tuân thủ các nguyên tắc, mang tính tự giác cao nhằm thực hiện hoặc hoàn thành một cách tốt nhất, nếu sai trái thì phải chịu hậu quả.

Hoạt động chứng minh được hiểu là hoạt động tư duy hay thực tiễn của con người, có mục đích xác định sự tồn tại hay không tồn tại hoặc sự đúng, sai của một sự vật, hiện tượng trên cơ sở của những chứng cứ, căn cứ cụ thể. Hoạt động chứng minh được sử dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực của xã hội loài người, có thể trong lĩnh vực dân sự, thương mại, hành chính, hình sự…

Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ, hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp lý được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng hình sự và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền, nghĩa vụ cụ thể. Nó là công cụ để cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức được chính xác sự việc đã xảy ra trên thực tế, làm cơ sở để phán quyết giải quyết vụ án hình sự chính xác, khách quan, công bằng.

Trong điều tra, xét xử vụ án hình sự, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một cá nhân nào đó, điều kiện tiên quyết là phải chứng minh được hành vi của người đó thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể. Do đó, việc xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm trong vụ án hình sự có ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng. Đó là những nền tảng vững chắc cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, khách quan, đúng đắn, đúng người, đúng tội, công bằng, bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật và nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định về chứng minh tội phạm như sau:

- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 15); cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm a khoản 1 Điều 4); cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 1 Điều 34).

- Cơ quan được giao nhiệm giao vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các cơ quan của Bộ đội Biên phòng; các cơ quan của Hải quan; các cơ quan của Kiểm lâm; các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; các cơ quan của Kiểm ngư; các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 1 Điều 35).

Việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hoàn toàn hợp lý, bởi, theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều này cũng có nghĩa là thừa nhận người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình.

Chứng minh tội phạm là một quá trình diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử. Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc về Tòa án nhằm bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo theo nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Thực trạng thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự

Việc nghiên cứu về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự hiện nay đang được đặt ra bức thiết, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhằm phân tích mối liên hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh tội phạm cũng như chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, tồn tại khi quy định trách nhiệm chứng minh cho các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó đưa ra được những giải pháp có tính khả thi nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.

Quá trình thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đến nay và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần đạt được mục tiêu hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Những năm qua, chất lượng công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có nhiều chuyển biến tích cực, hạn chế tối đa để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm, xét xử bảo đảm đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, hạn chế tối đa để xảy ra các khiếu kiện, tố cáo xuất phát từ những thiếu sót trong hoạt động tư pháp. Trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thủ tục giải quyết vụ án bảo đảm các nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp, khẳng định trách nhiệm giải trình hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp (Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), thực hiện tốt và hiệu quả việc hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp trong tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, thực tiễn thực thi nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án” trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn đang còn nhiều vấn đề tồn tại, bất cập. Trên thực tế, chỉ cần một sai sót nhỏ từ phía cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ gây thiệt hại đối với người bị kết án, dẫn đến còn những vụ án oan sai hoặc “sót người, lọt tội”. Hiện nay, tình trạng án oan sai, sót người, lọt tội vẫn còn tồn tại gây bức xúc trong dư luận. Một số bất cập, vướng mắc trong quá trình thi hành pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự có thể kể đến:

Thứ nhất, việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng như hiện nay, vô hình trung đã trao cho ba cơ quan này về “cùng một bên” trong hoạt động chứng minh tội phạm. Trên thực tế, hiện nay, trước khi xử án, bằng những con đường chính thức hoặc không chính thức, có tình trạng ba cơ quan này đã có sự tiếp xúc để thảo luận về kết quả bản án, dẫn đến có tình trạng án “bỏ túi”, gây bức xúc trong dư luận nhân dân hiện nay.

Thứ hai, do trình độ và nhận thức chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt của một bộ phận không nhỏ những người tiến hành tố tụng dẫn đến việc không chứng minh được hành vi phạm tội, khiến cho tiến trình giải quyết vụ án bị ngưng trệ, đi vào bế tắc, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không thực hiện tội phạm, gây oan sai, gây tổn hại nghiêm trọng về tinh thần, vật chất cho người bị kết án.

Thứ ba, luật sư đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bị can, bị cáo. Luật sư là người đưa ra những chứng cứ, bào chữa gỡ tội cho bị can, bị cáo. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn chưa thực sự tạo điều kiện tham gia chứng minh tội phạm của luật sư trong vụ án hình sự. Điều này đã làm giảm đi vai trò, vị thế tranh tụng tại phiên tòa, khiến cho luật sư có vị thế thấp hơn kiểm sát viên thực hành quyền công tố.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề quyền con người đang được toàn cầu quan tâm, nếu không thực hiện tốt vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến hội nhập và tiến trình phát triển chung của thế giới.

Thứ tư, trong quá trình xét xử, Tòa án đứng ở vị trí người phân xử công minh, khách quan, công bằng. Như vậy, nếu thực hiện trình tự tố tụng tranh tụng, Tòa án là cơ quan đứng giữa cơ quan công tố và bị cáo. Việc quy định Tòa án có nghĩa vụ phải chứng minh tội phạm là không khả thi trong điều kiện tổ chức bộ máy cán bộ của hệ thống Tòa án hiện nay và có thể dẫn đến xu hướng “đẩy” Tòa án về phía cơ quan công tố, nghĩa là, Tòa án phải thực hiện công việc “chứng minh tội phạm” trong quá trình xét xử. Vẫn còn tình trạng việc xét xử dựa vào “nhận tội” của bị cáo là chính hoặc căn cứ vào những chứng cứ thiếu vững chắc… Điều này không phù hợp với mục tiêu nâng cao được vị thế độc lập của Tòa án trong hệ thống tư pháp trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta.

3. Đề xuất, kiến nghị

Trong bối cảnh tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, yêu cầu cấp thiết nhanh chóng hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nói chung, trong đó có quy định pháp luật về trách nhiệm chứng minh tội phạm cần đáp ứng 03 yêu cầu lớn: Cải cách hệ thống tư pháp, hội nhập quốc tế và bảo vệ quyền con người. Trên cơ sở phân tích những bất cập, vướng mắc nêu trên, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống cơ quan điều tra thống nhất gồm Cơ quan điều tra của Công an và Cơ quan điều tra của Quân đội.

Thứ hai, về thẩm quyền của Viện kiểm sát, quy định Viện kiểm sát có quyền trực tiếp điều tra vụ án hình sự với tư cách là cơ quan công tố; trách nhiệm xét hỏi để chứng minh tội phạm chủ yếu thuộc về Viện kiểm sát; bảo đảm Viện kiểm sát có thể chủ động quản lý được đầy đủ các nguồn tố giác, tin báo về tội phạm diễn ra và bảo đảm các tố giác, tin báo đó đều được tiến hành xác minh, giải quyết đúng quy định của pháp luật; bổ sung thẩm quyền khởi tố bị can của Viện kiểm sát trong trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện khởi tố, đồng thời, yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Quy định thêm phạm vi, điều kiện để Viện kiểm sát có quyền lựa chọn việc không truy tố (miễn tố) đối với một số loại tội phạm hoặc trường hợp phạm tội cụ thể khi xét thấy việc truy tố không phục vụ lợi ích của cộng đồng cũng như cá nhân, không được xã hội ủng hộ.

Thứ ba, về thẩm quyền của Tòa án, cần nghiên cứu bỏ quy định về quyền khởi tố vụ án hình sự và trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án.

Thứ tư, quy định cụ thể các quyền của người bào chữa trong vụ án hình sự, trình tự thu thập tài liệu, chứng cứ của người bào chữa và việc xem xét, đánh giá chứng cứ mà họ cung cấp phải ngang bằng với các chứng cứ do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập.

Thứ năm, thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chứng minh tội phạm: (i) Đổi mới công tác sắp xếp cán bộ, đầu tư phương tiện kỹ thuật hình sự phục vụ hoạt động điều tra và hoạt động giám định; (ii) Nâng cao trình độ pháp lý, nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, đề cao tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác; (iii) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo đảm cho công dân tham gia tích cực vào việc điều tra chứng minh tội phạm./.

ThS. Ngô Doanh

Phó Viện trưởng Viện Quản trị Kinh tế Việt Nam

[1]. Hoàng Phê chủ biên, Nxb. Đà Nẵng, 1997, tr. 985.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: