Thứ tư 03/06/2026 23:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm thuốc lá ở Việt Nam

​Điều 6 Công ước khung về kiểm soát thuốc lá của Tổ chức Y tế Thế giới mà Việt Nam là thành viên xác định thuế là một trong những biện pháp quan trọng và hữu hiệu để giảm thiểu thuốc lá trong các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên, các số liệu cho thấy Việt Nam vẫn chưa đạt được kết quả khả quan trong việc giảm thiểu tiêu thụ thuốc lá khi vẫn thuộc các nước có tỷ lệ hút thuốc lá cao.

Tại Việt Nam, gần 39% nam giới trên 15 tuổi hút thuốc lá và mỗi năm vẫn có khoảng 40 nghìn người tử vong vì các bệnh liên quan đến thuốc lá[1]. Theo điều tra năm 2019 của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy, tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử trong học sinh từ 15 đến 17 tuổi ở Việt Nam là 2,6%. Trong khi đó, kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc lá trong học sinh năm 2022 cũng cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử ở học sinh độ tuổi 13 đến 15 tuổi là 3,5%[2]. Thuốc lá điện tử và dung dịch hóa hơi có chứa nicotine là chất gây nghiện cao, là nguyên nhân gây các bệnh tim, phổi cùng nhiều bệnh khác.

Dưới góc độ thuế, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với thuốc lá để nâng cao hơn nữa hiệu quả thi hành pháp luật và giảm thiểu tỷ lệ hút thuốc lá ở Việt Nam hiện nay.

1. Thực trạng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm thuốc lá ở Việt Nam

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam chưa xác định biện pháp hạn chế tiêu thụ đối với thuốc lá điện tử và dung dịch hóa hơi bằng biện pháp thuế hay biện pháp cấm hành vi tiêu thụ. Chúng ta chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào xác định thuốc lá điện tử và các sản phẩm dung dịch hóa hơi là các hàng hóa thuộc danh mục cấm kinh doanh. Pháp luật về thuế TTĐB đối với thuốc lá cũng không xác định thuốc lá điện tử và các sản phẩm dung dịch hóa hơi có phải là đối tượng bị đánh thuế hay không. Định nghĩa sản phẩm thuốc lá không được quy định trực tiếp trong luật thuế TTĐB mà được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan như Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 và một số nghị định, thông tư liên quan đến sản xuất thuốc lá của Chính phủ và các bộ. Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 ghi nhận “thuốc lá” là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác (khoản 1 Điều 2). Định nghĩa này đã có phần mở rộng phạm vi điều chỉnh so với các quy định năm 1990, tuy nhiên nó vẫn tồn tại hai hạn chế cơ bản:

- Định nghĩa chỉ xem xét các sản phẩm thuốc lá có nguồn gốc toàn bộ hoặc một phần thiên nhiên từ cây thuốc lá, không điều chỉnh các sản phẩm có chứa nicotine nhân tạo. Dung dịch nicotine tổng hợp (synthetic nicotine hay nicotine nhân tạo) được sử dụng trong các sản phẩm thuốc lá điện tử là các sản phẩm có chứa nicotine được tổng hợp thông qua một quá trình hóa học trong phòng thí nghiệm mà không thông qua chiết xuất trực tiếp từ các lá cây thuốc lá thiên nhiên[3]. Không có sự khác biệt về tác dụng giữa nicotine tổng hợp và nicotine tự nhiên, tuy nhiên, vì định nghĩa chỉ điều chỉnh các sản phẩm thuốc lá có nguồn gốc tự nhiên từ cây thuốc lá nên sản phẩm dung dịch nicotine tổng hợp sẽ không bị đánh thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá.

- Định nghĩa không nêu ra các tiêu chí nhận diện sản phẩm thuốc lá “dạng khác”. Thị trường tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam đang xuất hiện những sản phẩm thuốc lá thế hệ mới như thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng hay shisha. Mặc dù trên thực tế, người ta thừa nhận rằng các dạng thuốc lá thế hệ mới trên đều phù hợp với định nghĩa theo khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012[4], tuy nhiên, các tiêu chí nhận diện các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới nêu trên là sản phẩm thuốc lá “dạng khác” không được mô tả chi tiết trong các văn bản pháp luật hiện hành. Hơn nữa, việc thực hiện thu thuế TTĐB đối với các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới vẫn chưa được triển khai, mà chỉ dừng lại ở mức độ cân nhắc[5], từng được nhận diện hàng hóa theo thông tư của Bộ Tài chính[6] và dự thảo nghị định của Chính phủ[7] trong lĩnh vực thuế xuất nhập khẩu.

Thứ hai, hệ thống thuế tương đối đơn tầng hạn chế các hành vi tiêu dùng thuốc lá không hiệu quả. Bắt đầu từ năm 1990, hệ thống thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá là hệ thống thuế tương đối phân tầng áp dụng cho từng mặt hàng thuốc lá khác nhau. Sau khi Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 có hiệu lực, tất cả các loại sản phẩm thuốc lá được xác định chịu thuế đều chịu cùng một thuế suất phần trăm tính trên giá bán của nhà sản xuất (giá tính thuế chưa có thuế TTĐB). Đối với cùng một thuế suất phần trăm, các sản phẩm thuốc lá có giá trị thuốc lá càng cao thì gánh chịu thuế càng lớn. Hệ thống thuế này “ưu ái” những nhãn hàng độc quyền tại địa phương[8], thường có giá thấp hơn so với nhãn hàng nước ngoài nhập khẩu đắt hơn[9]. Vì vậy, người tiêu dùng sẽ thay đổi các hành vi tiêu dùng: Họ ưu tiên chuyển sang các sản phẩm thuốc lá với giá trị thấp hơn, thường là các sản phẩm trong nước thay vì ngừng sử dụng hoàn toàn sản phẩm thuốc lá. Hệ quả là tạo động lực cho nguồn cung sản phẩm thuốc lá giá rẻ gánh chịu thuế thấp, gia tăng cơ hội tiếp cận thuốc lá đối với người tiêu dùng. Hơn nữa, mức độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam đang tăng nhanh hơn mức độ tăng trưởng của giá thuốc lá qua các năm cho thấy cơ hội tiêu thụ thuốc lá đang tăng khi người tiêu thụ thuốc lá có nhiều nguồn lực tài chính hơn để chi trả cho hành vi tiêu thụ sản phẩm thuốc lá. Bằng chứng khảo sát tại Việt Nam cho thấy, từ năm 2014 đến 2020, tỷ lệ phần trăm của thu nhập bình quân tính theo năm để mua 2.000 điếu thuốc phổ biến trên thị trường giảm từ 4,49% xuống chỉ còn 2,63%[10].

Thứ ba, thuế suất TTĐB đối với các sản phẩm thuốc lá vẫn đang ở mức thấp so với xu hướng chung của thế giới. Căn cứ Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành, thuế suất đối với các sản phẩm thuốc lá bao gồm thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm từ cây thuốc lá là 75% đánh vào giá xuất xưởng. Tuy nhiên, tổng thuế trên giá bán lẻ cuối cùng chỉ đạt khoảng từ 36% - 38%[11], chỉ bằng một nửa so với mức khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới là từ 65% - 70% so với giá bán lẻ. So sánh tỷ lệ thuế TTĐB đối với giá bán lẻ cuối cùng của một số quốc gia trên thế giới, Việt Nam vẫn bị liệt kê vào nhóm các nước có mức thuế suất TTĐB thấp thuộc nhóm 15 quốc gia có tỷ lệ thuế TTĐB đối với các sản phẩm thuốc lá thấp nhất thế giới. Tỷ lệ thuế thấp là động cơ chính khuyến khích gia tăng lao động và sản xuất các sản phẩm thuốc lá, cũng như gia tăng cơ hội tiếp cận của người tiêu thụ thuốc lá vì giá bán lẻ thuốc lá rẻ do chịu ít áp lực về thuế TTĐB. Ở các nhóm hộ gia đình thu nhập thấp, chi tiêu dành cho thuốc lá tại Việt Nam gây ra các “hiệu ứng lấn át” các khoản chi tiêu khác trong hộ gia đình như chi tiêu dành cho giáo dục, lương thực và chi tiêu y tế cho các hậu quả thuốc lá mang lại[12].

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm thuốc lá ở Việt Nam

2.1. Cơ sở đề xuất giải pháp

Một là, Điều 43 Hiến Pháp năm 2013 ghi nhận “mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Các biện pháp hạn chế kinh doanh và tiêu thụ thuốc lá nhằm bảo đảm quyền được sống của con người trong môi trường không có khói thuốc lá và được thông tin đầy đủ về tác hại của thuốc lá (khoản 4 Điều 3 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012).

Hai là, giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá trong cộng đồng là mục tiêu quan trọng trong việc giảm các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe, giảm tỷ lệ tử vong do sử dụng các sản phẩm thuốc lá gây ra và thực hiện các cam kết của Việt Nam khi tham gia Công ước khung về kiểm soát thuốc lá.

Ba là, Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 24/5/2023 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm 2030 xác định các mục tiêu cụ thể Việt Nam cần đạt trong giai đoạn 2023 - 2025 là giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá trong nhóm nam từ 15 tuổi trở lên xuống dưới 39%; nhóm nữ từ 15 tuổi trở lên xuống dưới 1,4%; giảm tỷ lệ tiếp xúc thụ động với khói thuốc lá: Tại nơi làm việc xuống dưới 30%; tại nhà hàng xuống dưới 75%; tại quán bar, cà phê xuống dưới 80%; tại khách sạn xuống dưới 60%. Mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 là giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá trong nhóm nam từ 15 tuổi trở lên xuống dưới 36%; nhóm nữ từ 15 tuổi trở lên xuống dưới 1% và giảm tỷ lệ tiếp xúc thụ động với khói thuốc lá: Tại nơi làm việc xuống dưới 25%; tại nhà hàng xuống dưới 65%; tại quán bar, cà phê xuống dưới 70%, tại khách sạn xuống dưới 50%. Trong đó, nhiệm vụ quan trọng chính là hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật về phòng, chống tác tại của thuốc lá: Xây dựng lộ trình tăng thuế đối với các sản phẩm thuốc lá đảm bảo đến năm 2030 mức thuế đạt tỷ trọng trên giá bán lẻ theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới; quy định mức giá bán tối thiểu các sản phẩm thuốc lá, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của phương án tính thuế các sản phẩm thuốc lá trên giá bán lẻ để đạt mục tiêu giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá.

2.2. Một số giải pháp chủ yếu

Thứ nhất, Việt Nam nên lựa chọn một trong hai kịch bản nhằm hạn chế đối với hành vi kinh doanh và tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và dung dịch hóa hơi. Kịch bản thứ nhất cho phép kinh doanh có điều kiện đối với thuốc lá điện tử và xác định thuốc lá thế hệ mới là đối tượng của thuế TTĐB theo xu hướng chung của thế giới[13]. Kịch bản thứ hai là cấm thực hiện hành vi kinh doanh và tiêu thụ thuốc lá thế hệ mới. Cụ thể:

Theo kịch bản thứ nhất, Nhà nước cho phép kinh doanh có điều kiện đối với các sản phẩm thuốc lá. Cần quy định chi tiết về tiêu chí nhận diện các loại sản phẩm thuốc lá khác, trong đó bắt buộc nhận diện dung dịch hóa hơi thay thế thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, shisha là sản phẩm chịu thuế TTĐB. Vì vậy, khái niệm thuốc lá nên được quy định là “các sản phẩm được chế biến tự nhiên toàn phần hoặc một phần từ cây thuốc lá được sử dụng dưới dạng hút, ngửi, nhai, ngậm; hoặc là thiết bị thuốc lá điện tử gắn liền dung dịch hóa hơi; hoặc là thiết bị thuốc lá điện tử tách rời dung dịch hóa hơi; hoặc là các sản phẩm dung dịch hóa hơi thay thế nguyên liệu thuốc lá được tổng hợp nhân tạo chứa nicotine được sử dụng thông qua thiết bị thuốc lá điện tử”. Định nghĩa này không áp dụng với những sản phẩm được sử dụng với mục đích khác mà Nhà nước công nhận. Cụ thể hóa từ kiến nghị của Bộ Tài chính[14], định nghĩa trên bao gồm các loại sản phẩm thuốc lá có nguồn gốc toàn bộ hoặc một phần từ thiên nhiên, hoặc được chế biến hoàn toàn nhân tạo từ các phòng thí nghiệm. Hơn nữa, khái niệm của thuốc lá cũng đã phân loại hai dạng thiết bị dùng cho thuốc lá điện tử là “thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử gắn liền dung dịch hóa hơi và thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử tách rời dung dịch hóa hơi”. Đối với các dung dịch hóa hơi dùng trong thuốc lá điện tử có nguồn gốc tổng hợp trong phòng thí nghiệm, cần xác định đây là nhóm nguyên liệu thay thế nguyên liệu thuốc lá.

Khái niệm trên có ba ý nghĩa quan trọng:

- Xác định các dung dịch hóa hơi chứa nicotine dùng trong thuốc lá điện tử cũng thuộc đối tượng đánh thuế TTĐB. Đối với các sản phẩm thuốc lá, không quan trọng phương thức chế tạo có nguồn gốc từ thiên nhiên hay được tổng hợp nhân tạo thì các sản phẩm đều chứa nicotine là chất gây nghiện. Vì vậy, mọi sản phẩm thuốc lá chứa nicotine đều phải được áp dụng thuế TTĐB nhằm đảm bảo công bằng giữa các sản phẩm thuốc lá bị đánh thuế làm hạn chế hành vi chuyển đổi sử dụng các sản phẩm thuốc lá không bị đánh thuế của người tiêu dùng.

- Xác định các sản phẩm điện tử sử dụng trong thuốc lá điện tử thuộc đối tượng đánh thuế của thuế TTĐB. Các dung dịch hóa hơi không thể được tiêu thụ nếu thiếu các thiệt bị điện tử. Chức năng của các thiết bị điện tử dùng trong thuốc lá điện tử và các thiết bị hóa hơi tương tự khác dùng để đốt cháy các dung dịch hóa hơi, người tiêu dùng sẽ hút các hơi đốt nóng của dung dịch. Vì là một sản phẩm quan trọng trong việc tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá dưới dạng dung dịch hóa hơi, loại sản phẩm này cần phải được đánh thuế TTĐB.

- Việc quy định sản phẩm thuốc lá thế hệ mới là sản phẩm chịu thuế không chỉ hạn chế tương đối các hành vi tiêu dùng đối với các sản phẩm này, mà còn làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước thông qua thuế TTĐB, thuế thu nhập doanh nghiệp (đối với các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này), thuế xuất nhập khẩu và nhiều khoản thu từ thuế, phí và lệ phí khác.

Theo kịch bản thứ hai, Nhà nước quy định cấm kinh doanh và tiêu dùng thuốc lá thế hệ mới. Kịch bản này giữ nguyên các định nghĩa về thuốc lá hiện tại trong Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012; xác định thuốc lá thế hệ mới bao gồm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, dung dịch hóa hơi, shisha và các sản phẩm tương tự là mặt hàng cấm kinh doanh và tiêu thụ nên không thể chịu thuế. Các quy định cấm này cần phải được quy định trong pháp luật doanh nghiệp về các mặt hàng cấm kinh doanh, các văn bản xử phạt hành chính và có thể là xử lý hình sự. Đây là một biện pháp tuyệt đối nhằm chống lại hành vi tiêu thụ thuốc lá và đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng. Tuy nhiên, so sánh với kịch bản thứ nhất, kịch bản này không cân nhắc đến nguồn thu ngân sách nhà nước tiềm năng từ hoạt động sản xuất và tiêu các loại sản phẩm thuốc lá thế hệ mới.

Thứ hai, Việt Nam cần áp dụng phương pháp tính thuế TTĐB hỗn hợp bao gồm phương pháp tính thuế tương đối và phương pháp tính thuế tuyệt đối thay vì chỉ có phương pháp tính thuế tương đối như hiện nay. So sánh với phương pháp tính thuế TTĐB tương đối, phương pháp tính thuế thuế TTĐB tuyệt đối có ưu điểm sau đây:

- Mức thu thuế tuyệt đối không phụ thuộc vào giá cả của sản phẩm, vì vậy, không bị ảnh hưởng bởi các tác động của giá. Khác với phương pháp tính thuế tương đối khi phương pháp tính thuế là tỷ lệ phần trăm thuế suất với giá cả của sản phẩm và số lượng tiêu thụ của sản phẩm, phương pháp tính thuế tuyệt đối chỉ phụ thuộc vào số lượng sản phẩm được tiêu thụ trong thị trường. Vì vậy, phương pháp tính thuế tuyệt đối ổn định và dễ dự đoán hơn so với các phương pháp tính thuế tương đối.

- Vì không phụ thuộc vào giá cả của của nhãn hàng, thuế tuyệt đối hạn chế tạo các cơ hội cho người tiêu thụ sản phẩm thuốc lá chuyển đổi hành vi tiêu dùng từ các sản phẩm thuốc lá đắt hơn sang các sản phẩm thuốc lá rẻ hơn như áp dụng phương pháp thuế tương đối.

Tuy nhiên, phương pháp tính thuế TTĐB tuyệt đối vẫn tồn tại hạn chế nhưng có thể giải quyết được bằng phương pháp tính thuế tương đối. Phương pháp tính thuế tuyệt đối phụ thuộc và số lượng sản phẩm tiêu thụ, các nhà sản xuất có thể lợi dụng điều chỉnh các thông số kỹ thuật khác như chiều dài, khối lượng của điếu thuốc lá để bán với mức giá cao hơn trong khi vẫn phải chịu một mức thuế tuyệt đối không đổi. Các nhà sản xuất có thể sản xuất các sản phẩm có chiều dài gấp 02 đến 03 lần chiều dài điếu thuốc thông thường hoặc với khối lượng thuốc lá lớn hơn trong mỗi sản phẩm thuốc lá. Điều này có nghĩa là nhiều nicotine được tiêu thụ trong cộng đồng.

Hệ thống hỗn hợp giữa phương pháp tính tuyệt đối và tương đối sẽ giải quyết vấn đề này. Hệ thống thuế tương đối là “chốt chặn bên trên” chống lại các sự leo thang giá cả của các sản phẩm thuốc lá liên hệ với các thay đổi kỹ thuật và thương hiệu của sản phẩm thuốc lá; còn hệ thống thuế tuyệt đối là “chốt chặn bên dưới” chống lại các đợt hạ giá liên tục nhằm né tránh thuế tương đối và hành vi thay thế sản phẩm, đảm bảo cạnh tranh giữa các nhóm hàng hóa chất lượng cao có giá trị cao và các nhóm hàng hóa giá trị thấp với giá thấp. Hệ thống thuế hỗn hợp buộc doanh nghiêp thuốc lá phải nộp thuế gánh chịu hai khoản thuế và phải cân nhắc kỹ lưỡng cho các đợt tăng giá cũng như tăng sản lượng sản xuất các sản phẩm thuốc lá. Nhờ đó, lượng nicotine tiêu thụ trong cộng đồng sẽ giảm.

Thứ ba, hệ thống thuế TTĐB đối với các sản phẩm thuốc lá tại Việt Nam cần được thiết kế đa tầng. Hệ thống thuế đa tầng là khi cùng loại sản phẩm thuốc lá nhưng được chia làm nhiều tiểu loại, dựa trên những tiêu chí như kích cỡ (như khối lượng, chiều dài), loại (như thuốc lá có đầu lọc hoặc không có đầu lọc, thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử gắn liền với dung dịch hóa hơi và không gắn liền với dung dịch hóa hơi), giá (áp dụng với phương pháp tính thuế tương đối) và mỗi tầng có một thuế suất tiêu thụ đặc biệt riêng. Đối với mỗi loại sản phẩm thuốc lá sẽ được sản xuất và tiêu thụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trong thị trường như tỷ lệ chi cho thuốc lá và tổng thu nhập bình quân trong các nhóm khác nhau trong xã hội, nhãn hàng được ưa chuộng trên thị trường hay mức độ tiêu thụ ở các vùng địa phương. Do đó, mức thuế áp dụng trên các sản phẩm khác nhau sẽ phải khác nhau để đạt cùng hiệu quả chính sách y tế như nhau. Điều này làm giảm cơ hội chuyển đổi hành vi tiêu dùng và sản xuất vì hiệu quả của thuế là như nhau ở bất kỳ các phân tầng, tránh tình trạng xói mòn cơ sở thuế TTĐB. Thực tế ở Việt Nam, hệ thống thuế TTĐB phân tầng đã từng được áp dụng ngay thời kỳ đầu của thuế TTĐB đối với các sản phẩm thuốc lá vào năm 1990 khi các sản phẩm thuốc lá khác nhau sẽ chịu một mức thuế suất khác nhau. Cụ thể, thuốc lá sợi: 20%, thuốc lá có đầu lọc: 50%, thuốc lá không có đầu lọc và xì gà là 40%[15]. Vì vậy hoàn toàn có cơ sở thực tiễn khi áp dụng hệ thống thuế TTĐB phân tầng ở Việt Nam.

Thứ tư, tăng thuế suất TTĐB đối với các sản phẩm thuốc lá. Tăng thuế TTĐB đối với các sản phẩm thuốc lá là biện pháp trực tiếp để hạn chế tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá trong cộng đồng. Việt Nam cần tăng mức thuế suất sao cho tỷ lệ mức thuế phải nộp so với giá bán lẻ là 70% hoặc hơn theo mức khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới. Tuy nhiên, chính sách tăng thuế gặp phải trở ngại khi sẽ có quan điểm cho rằng tăng thuế sẽ ảnh hưởng đến ngành công nghiệp thuốc lá của Việt Nam dẫn đến giảm nguồn thu ngân sách nhà nước, ảnh hưởng tới lực lượng lao động và ngành nghề phụ thuộc vào thuốc lá. Tuy nhiên, quan điểm như vậy là chưa hợp lý vì những lý do sau:

- Giảm tiêu thụ thuốc lá, nhóm các hộ gia đình có thu nhập thấp sẽ có nguồn lực tài chính nhiều hơn để chi tiêu cho giáo dục, lương thực và y tế khác với tác động ròng thường là tích cực[16]. Việc làm trong ngành canh tác và sản xuất thuốc lá cũng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (0,3%) trong tổng số việc làm ở Việt Nam[17] nên các biến động sẽ không ngay lập tức gây ảnh hưởng. Ngành thuốc lá có thể giảm mức nhập khẩu nguyên liệu và tăng sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước tránh gánh nặng của thuế nhập khẩu; lao động trong ngành phân phối bán lẻ thuốc lá được đánh giá có tính linh hoạt cao, có thể chuyển đổi công việc dễ dàng và nhanh chóng[18].

- Việc tăng thuế suất không đồng nghĩa với việc giảm mức thu ngân sách nhà nước. Tăng thuế TTĐB đối với thuốc lá với cơ sở thuế rộng hơn bao gồm nhiều loại sản phẩm thuốc lá đã được kiến nghị ở trên sẽ làm tăng mức thu ngân sách nhà nước. Nếu hiện tượng từ bỏ tiêu dùng thuốc lá là đủ lớn dẫn đến sự sụt giảm của mức thu ngân sách từ thuế TTĐB thuốc lá, các khoản thu từ thuế khác (chẳng hạn như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) từ sự dịch chuyển chi tiêu cho thuốc lá sang các hàng hóa/dịch vụ khác có thể bù vào sự thâm hụt trên./.

Trần Duy Minh

Phan Từ Hiếu Ngân

Trần Hiếu Ngân

Sinh viên K46, Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Thùy Ngân (2023), Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ hút thuốc lá cao, nguồn: https://hanoimoi.vn/viet-nam-van-trong-nhom-quoc-gia-co-ty-le-hut-thuoc-la-cao-651723.html, truy cập ngày 14/01/2024.

[2] Kim Vân, Tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử trong học sinh gia tăng đáng kể, https://suckhoedoisong.vn/ty-le-su-dung-thuoc-la-dien-tu-trong-hoc-sinh-gia-tang-dang-ke-169231110140600819.htm.

[3] Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ (American Lung Association) (2022), What is Synthetic Nicotine?, nguồn: https://www.lung.org/blog/synthetic-nicotine, truy cập ngày 14/01/2024.

[4] Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam (2023), Quản lý thuốc lá thế hệ mới - cần góc nhìn thực tiễn, nguồn: https://dangcongsan.vn/day-manh-cai-cach-tu-phap-va-hoat-dong-tu-phap/dien-dan/quan-ly-thuoc-la-the-he-moi-can-goc-nhin-thuc-tien-653709.html, truy cập ngày 14/01/2024.

[5] Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam (2023), Cân nhắc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá mới, nguồn: https://dangcongsan.vn/day-manh-cai-cach-tu-phap-va-hoat-dong-tu-phap/dien-dan/can-nhac-ap-dung-thue-tieu-thu-dac-biet-doi-voi-thuoc-la-moi-642567.html, truy cập ngày 14/01/2024.

[6] Thông tư số 31/2022/TT-BTC ngày 08/6/2022 của Bộ Tài chính ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam (đã hết hiệu lực).

[7] Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan, nguồn: https://chinhphu.vn/du-thao-vbqppl/du-thao-nghi-dinh-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-nghi-dinh-so-26-2023-nd-cp-ngay-31-5-2023-cua-6121, truy cập ngày 17/01/2024.

[8] Tại Việt Nam, chỉ riêng sản lượng thuốc lá của Tổng công ty Thuốc lá Thăng Long đã chiếm xấp xỉ 67% tổng thị phần trong nước cho thấy thuốc lá sản xuất nội địa vẫn dễ tiếp cận hơn các sản phẩm nhập khẩu. Tham khảo thêm tại Tạp chí Kinh tế và Dự báo (2023), Chính sách thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá và những tác động tới cải thiện phúc lợi gia đình tại Việt Nam, nguồn: https://kinhtevadubao.vn/chinh-sach-thue-thuoc-la-va-nhung-tac-dong-toi-cai-thien-phuc-loi-gia-dinh-tai-viet-nam-27857.html, truy cập ngày 15/01/2024.

[9] TS. Auther B. Laffer (2016), Cẩm nang Đánh thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá: Lý thuyết và Thực hành, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 162.

[10] Đinh Công Luận (2020), Sự cần thiết cải cách thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03 tháng 02/2020, nguồn: http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=211580, truy cập ngày 16/01/2024.

[11] Tạp chí Kinh tế và Dự báo (2023), Chính sách thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá và những tác động tới cải thiện phúc lợi gia đình tại Việt Nam, nguồn: https://kinhtevadubao.vn/chinh-sach-thue-thuoc-la-va-nhung-tac-dong-toi-cai-thien-phuc-loi-gia-dinh-tai-viet-nam-27857.html, truy cập ngày 15/01/2024.

[12] Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Ngọc Anh (2022), Ngành công nghiệp thuốc lá Việt Nam: Lợi bất cập hại, Tạp chí Tia Sáng, nguồn: https://tiasang.com.vn/tin-noi-bat/tieu-diem/nganh-cong-nghiep-thuoc-la-vn-loi-bat-cap-hai/, truy cập ngày 15/01/2024.

[13] Có 71 quốc gia trên thế giới thu thuế TTĐB đối với thuốc lá điện tử và 61 quốc gia trên thế giới thu thuế TTĐB đối với thuốc lá nung nóng ở mức ngang bằng với thuốc lá truyền thống. Bộ Tài chính (2023), Tờ trình đề nghị xây dựng dự án Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi), nguồn:

https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/ChiDaoDieuHanh/Attachments/3767/T%C3%A0i%20li%E1%BB%87u%20th%E1%BA%A9m%

20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20%C4%91%E1%BB%81%20ngh%E1%BB%8B%20x%C3%A2y%20d%E1%BB%B1ng%20Lu%E1%

BA%ADt%20Thu%E1%BA%BF%20TT%C4%90B.pdf, truy cập ngày 14/01/2023.

[14] Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan, nguồn: https://chinhphu.vn/du-thao-vbqppl/du-thao-nghi-dinh-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-nghi-dinh-so-26-2023-nd-cp-ngay-31-5-2023-cua-6121, truy cập ngày 17/01/2024.

[15] TS. Hoàng Thị Minh (2012), Chính sách thuế đối với thuốc lá, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11(219), tháng 6/2012, nguồn: http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207822#:~:text=Vi%E1%BB%87t%20Nam%20%C4%91%C3%A3%20%C3%A1p%20d%E1%BB%A5ng,l%C3%A0%2040%

25%5B31%5D, truy cập ngày 17/01/2024.

[16] Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Tuấn Lâm, ĐặngVũ Trung, Hoàng Văn Kình, G Emmanuel Guindon, Emily McGirr (2010), Thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá ở Việt Nam, Báo cáo nghiên cứu về thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá tài trợ bởi quỹ Bloomberg Philanthropies và Bill and Melinda Gates Foundation, tr. 24, nguồn: https://assets.tobaccofreekids.org/global/pdfs/vt/Vietnam_economics_report_vt.pdf, truy cập ngày 17/01/2024.

[17] TS. Hoàng Thị Minh (2012), Chính sách thuế đối với thuốc lá, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11(219), tháng 6/2012, nguồn: http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207822#:~:text=Vi%E1%BB%87t%20Nam%20%C4%91%C3%A3%20%C3%A1p%20d%E1%BB%A5ng,l%C3%A0%2040%

25%5B31%5D, truy cập ngày 17/01/2024.

[18] PGS.TS Giang Thanh Long, NCS. Nguyễn Thị Thu Hiền (2014), Tác động của tăng thuế TTĐB đối với sản phẩm thuốc lá đến việc làm: tổng quan các nghiên cứu quốc tế và tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 18 (274), tháng 9/2014, nguồn: http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/208198/Tac-dong-cua-tang-thue-thuoc-la-den-viec-lam--tong-quan-cac-ket-qua-nghien-cuu-quoc-te-va-tai-Viet-Nam.html, truy cập ngày 17/01/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Theo dõi chúng tôi trên: