Thứ bảy 07/02/2026 21:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tinh gọn bộ máy theo hướng không tổ chức cấp huyện giúp chính quyền địa phương hoạt động chủ động, hiệu quả, phục vụ tốt nhất lợi ích của Nhân dân

Đây là ý kiến của PGS.TS. Tô Văn Hòa, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” do Bộ Tư pháp phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức ngày 06/3/2025.

PGS.TS. Tô Văn Hòa, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội.

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn bài tham luận “Định hướng nghiên cứu việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đáp ứng yêu cầu thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS. Tô Văn Hòa, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội tại Hội thảo:

Mở đầu

Kể từ bài viết “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” của Tổng Bí thư Tô Lâm ngày 05/11/2024 toàn thể hệ thống chính trị của chúng ta đã tiến hành cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy một cách hết sức khẩn trương và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, được sự ủng hộ, hưởng ứng rộng rãi của toàn thể hệ thống chính trị và Nhân dân.

Những kết quả bước đầu đã khẳng định chủ trương cải cách là đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước. Việc thu gọn đầu mối, sắp xếp lại tổ chức bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống hành chính đã đem lại những tác động tích cực, đặt nền móng cho mô hình quản trị nhà nước hiện đại, góp phần cải thiện năng lực quản lý điều hành, giảm thiểu sự chồng chéo, lãng phí nguồn lực. Những thành tựu này là cơ sở để tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy một cách toàn diện, đồng bộ và triệt để hơn trong thời gian tới, chuẩn bị cho đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới. Ngày 14/02/2025, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 126-KL/TW về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025; ngày 28/02/2025, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 127-KL/TW về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, trong đó nhấn mạnh về tổ chức bộ máy nhà nước:

- Tiếp tục sắp xếp, xây dựng đề án bỏ cấp hành chính trung gian (cấp huyện); xây dựng phương án tiếp tục sắp xếp cấp xã phù hợp với mô hình tổ chức mới, đề xuất tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cấp xã.

- Làm rõ mối quan hệ công tác giữa các cấp chính quyền địa phương (giữa cấp tỉnh và cấp xã); mối quan hệ công tác theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp xã (giữa bộ, ngành Trung ương, các cơ quan chuyên ngành và đơn vị, cá nhân phụ trách theo lĩnh vực), bảo đảm hoạt động thuận lợi, đồng bộ, liên thông, hiệu lực, hiệu quả.

Hai nội dung trên đây là những vấn đề căn bản của tổ chức chính quyền địa phương cũng như mối quan hệ giữa các cấp trong hệ thống hành chính nhà nước, do Hiến pháp điều chỉnh. Chính vì vậy, việc đặt vấn đề nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là hết sức cấp thiết, vừa tạo cơ sở hiến định vững chắc để tiếp tục tiến hành cách mạng về tinh gọn bộ máy vừa bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp.

Tuy nhiên, Hiến pháp là đạo luật gốc, có hiệu lực tối cao, điều chỉnh những vấn đề quan trọng nhất của đất nước, qua đó quy định những nguyên tắc khái quát nhất, căn cốt nhất của hệ thống chính trị, trực tiếp là tổ chức bộ máy nhà nước. Các điều khoản của Hiến pháp có tính khái quát cao và tác động bao trùm hệ thống pháp luật. Quy trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp được thực hiện theo thủ tục chặt chẽ với sự tham gia rộng rãi. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này đòi hỏi hết sức khẩn trương song cũng phải được nghiên cứu kỹ, làm rõ những vấn đề nguyên lý, có cơ sở lý luận vững chắc. Các đề xuất sửa đổi, bổ sung không chỉ bó hẹp trong câu từ của Hiến pháp mà phải có tầm nhìn rộng hơn, xa hơn để làm rõ phương hướng, nội dung cần thể chế hóa trong các đạo luật có liên quan.

Trên cơ sở Kết luận số 127-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ rõ “nghiên cứu việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp với phạm vi là các vấn đề về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”, qua nghiên cứu, rà soát bước đầu có thể thấy hướng nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cần tập trung vào các quy định sau: (i) các quy định về chính quyền địa phương nhằm hiến định việc không tổ chức chính quyền trung gian (cấp huyện); (ii) các quy định cơ bản nhất về hệ thống chính trị.

1. Hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp để thực hiện chủ trương không tổ chức chính quyền trung gian (cấp huyện)

Việc không tổ chức cấp huyện trong hệ thống hành chính địa phương ở Việt Nam không chỉ đơn thuần là bãi bỏ đơn vị hành chính cấp huyện rồi sáp nhập các xã lại với nhau. Để bảo đảm ổn định, thông suốt trong công tác hành chính ở địa phương, đặc biệt là dịch vụ công phục vụ Nhân dân, chủ trương này đòi hỏi phải tiếp cận toàn cảnh đối với hệ thống hành chính địa phương, đặt ra yêu cầu xem xét thiết kế tổng thể hệ thống hành chính lãnh thổ của Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là: hệ thống hành chính lãnh thổ địa phương ở Việt Nam cần được cấu trúc như thế nào để phát huy hiệu quả quản lý, giải phóng các nguồn tài nguyên, kiến tạo và thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc với mục tiêu rất cao về phát triển kinh tế.

Để giải quyết vấn đề này, cần làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản, mang tính nguyên lý về tổ chức hệ thống hành chính địa phương của một quốc gia. Trước tiên, cần làm rõ khái niệm “đơn vị hành chính” và khái niệm “đơn vị hành chính chuyên biệt”.

Đơn vị hành chính hay đơn vị hành chính lãnh thổ, là một phần lãnh thổ quốc gia có ranh giới được xác định rõ ràng, trên đó có dân cư sinh sống tập trung, ổn định thành cộng đồng và có đủ điều kiện để thành lập chính quyền địa phương để tổ chức quản lý hành chính nhà nước, phục vụ đời sống người dân, quản lý dân cư và lãnh thổ tại địa phương. Ví dụ điển hình về đơn vị hành chính là các thành phố, tức những nơi có dân cư sinh sống tập trung.

Đơn vị hành chính chuyên biệt là những phạm vi lãnh thổ quốc gia có ranh giới rõ ràng do Nhà nước phân định nhưng không có hoặc có rất ít dân cư sinh sống ổn định. Vì vậy, các khu vực này không đủ điều kiện để thành lập chính quyền địa phương đầy đủ tại chỗ. Trong những trường hợp này, Nhà nước chỉ thiết lập cơ chế quản lý lãnh thổ nhằm phục vụ các mục đích chuyên biệt phù hợp điều kiện, lợi thế tự nhiên ở đó, như quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế hoặc bảo vệ tài nguyên, môi trường…

Trong quản trị hành chính địa phương hiện đại, lãnh thổ quốc gia thường được Nhà nước ở Trung ương phân chia thành các đơn vị hành chính và các đơn vị hành chính chuyên biệt sao cho mỗi mét vuông đều phải được quản lý và có chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, không phải mỗi mét vuông đều được quản lý theo cơ chế giống hệt nhau mà có sự khác biệt phù hợp với điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội của nơi đó.

Về mặt lý luận, tại các đơn vị hành chính, do có dân cư tập trung nên có đủ điều kiện để thiết lập chính quyền địa phương đầy đủ. Chính quyền địa phương trong những đơn vị này bao gồm cơ quan đại diện của Nhân dân địa phương quyết định các vấn đề ở địa phương và cơ quan chấp hành của nó thực hiện quản lý hành chính nhà nước, phục vụ đời sống nhân dân.

Trong khi đó, tại đơn vị hành chính chuyên biệt, Nhà nước chỉ thiết lập các cơ quan quản lý hành chính chuyên trách trên những lĩnh vực phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn. Ví dụ: tại địa bàn là nơi có rừng, cơ quan quản lý tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ tài nguyên; còn tại vùng núi thì tập trung vào việc bảo vệ lãnh thổ và giữ gìn trật tự trị an... Tại những địa bàn loại này không hình thành chính quyền địa phương đầy đủ; tuy nhiên, chủ quyền quốc gia vẫn được thể hiện thông qua hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước, có thể do chính quyền địa phương cấp trên đảm nhiệm hoặc do cơ quan Trung ương trực tiếp quản lý.

Khi vận dụng những nguyên lý trên vào việc tổ chức hệ thống hành chính địa phương ở Việt Nam, có thể xác định về phương diện đơn vị hành chính sẽ có hai cấp: cấp tỉnh, bao gồm các tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương; cấp cơ sở (dưới cấp tỉnh, có thể gọi là “cấp xã” hay “cấp cơ sở”), bao gồm các đơn vị hành chính gần dân nhất, tức là các xã và các khu vực đô thị tập trung (có thể gọi là thành phố, được phân loại thành các nhóm tùy theo quy mô và trình độ phát triển).

Như vậy, việc thực hiện chủ trương bỏ đơn vị hành chính cấp huyện sẽ cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Hiến pháp theo hướng sau:

- Đối với Điều 110 về các đơn vị hành chính ở Việt Nam có thể nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng:

Thứ nhất, quy định nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm các đơn vị hành chính và các đơn vị hành chính chuyên biệt, trong đó:

- Có 2 cấp đơn vị hành chính là: đơn vị hành chính cấp tỉnh (gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) và đơn vị hành chính cấp cơ sở, hay cấp xã (gồm xã, thành phố, thị xã ở tỉnh; thành phố, thị xã, nội đô ở thành phố trực thuộc trung ương). Trong đó, nội đô là đơn vị hành chính mới, bao gồm khu vực đô thị lõi, thủ phủ của thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm các quận nội thành hiện nay của các thành phố trực thuộc Trung ương, ví dụ nội đô thành phố Hà Nội (gồm 12 quận), nội đô Thành phố Hồ Chí Minh (gồm 16 quận), nội đô thành phố Hải Phòng (gồm 06 quận)… Các đơn vị hành chính cơ sở có thể phân chia thành những địa bàn lãnh thổ nhỏ hơn nhưng đó không phải là đơn vị hành chính mà chỉ là các địa bàn quản lý hành chính; ở đó không thành lập chính quyền địa phương mà chỉ có các bộ phận/cơ sở của các cơ quan hành chính cấp trên thực hiện công tác quản lý hành chính trên địa bàn.

- Các đơn vị hành chính chuyên biệt gồm các đơn vị hành chính chuyên biệt ở các cấp được thành lập và quản lý theo quy định của luật. Luật Tổ chức chính quyền địa phương có thể quy định hai cấp đơn vị hành chính chuyên biệt hoặc nhiều hơn, trong đó có các đơn vị hành chính chuyên biệt do chính quyền địa phương cấp tỉnh quản lý và đơn vị hành chính chuyên biệt do cấp Trung ương quản lý.

Thứ hai, quy định việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính và đơn vị hành chính chuyên biệt được thực hiện theo quy định của luật. Việc phân chia, điều chỉnh ranh giới của các đơn vị hành chính, đơn vị hành chính chuyên biệt là vấn đề tổ chức hoạt động hành chính nhà nước và cần sự thích ứng cao với tình hình thực tiễn ở từng giai đoạn. Vì vậy, quy định trình tự thủ tục trong luật là phù hợp, vừa bảo đảm dân chủ vừa tạo độ linh hoạt cần thiết phù hợp với sự đa dạng của các loại hình đơn vị hành chính, đơn vị hành chính chuyên biệt.

- Đối với Điều 111 về tổ chức chính quyền địa phương có thể nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng:

Thứ nhất, quy định tại các đơn vị hành chính đều thành lập chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Không phân biệt giữa chính quyền địa phương và “cấp chính quyền địa phương” bởi vì đã là chính quyền địa phương là phải có cơ cấu đầy đủ Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Thứ hai, quy định tại các đơn vị hành chính chuyên biệt không thành lập chính quyền địa phương mà có thể thành lập các cơ chế quản lý hành chính phù hợp với mục đích thành lập đơn vị hành chính chuyên biệt đó theo quy định của luật.

2. Hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp để thực hiện chủ trương tiếp tục tinh giản bộ máy hệ thống chính trị

Chương I Hiến pháp năm 2013 có vai trò đặc biệt quan trọng, quy định những nguyên tắc nền tảng nhất của chế độ chính trị Việt Nam. Đây là chương xác lập chủ quyền quốc gia, bản chất của chế độ, hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các yếu tố nhận diện quốc gia, đồng thời định hình cấu trúc tổng thể của hệ thống chính trị.

Về hệ thống chính trị, Hiến pháp chỉ quy định những nội dung mang tính nguyên tắc, như cấu trúc hệ thống, các thành tố cấu thành, vị trí, vai trò của từng thành tố trong hệ thống chính trị, thuộc tính cơ bản của chúng. Trên tinh thần đó, nội dung về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong Chương I cũng cần được thể hiện theo hướng cô đọng, chỉ tập trung vào những vấn đề căn bản nhất, tương xứng với cách thức quy định về Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, tương tự như cách thức quy định về hệ thống chính trị trong cương lĩnh.

Việc sửa đổi Hiến pháp theo hướng này không chỉ bảo đảm tính nhất quán về tiếp cận điều chỉnh của Chương I, mà còn phù hợp với chủ trương tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị đang được triển khai. Theo đó, các quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên được quy định ở một điều và giới hạn ở những nội dung cốt lõi, gồm: thuộc tính cơ bản, vai trò trong hệ thống chính trị và các nhiệm vụ trọng tâm của Mặt trận Tổ quốc để thực hiện vai trò này. Các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc cũng có thể được phân loại và đề cập trong một chỉnh thể chung để làm nổi bật thêm vai trò của Mặt trận Tổ quốc. Các nội dung cụ thể hơn sẽ được quy định tại các văn bản luật, phù hợp với nguyên tắc Hiến pháp chỉ quy định những nguyên tắc nền tảng, trong khi tổ chức thực hiện được điều chỉnh bởi luật và các văn bản dưới luật.

Kết luận

Việc tinh gọn bộ máy chính quyền địa phương theo hướng không tổ chức cấp huyện là bước đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương hoạt động chủ động và hiệu quả, phục vụ tốt nhất lợi ích của Nhân dân. Việc không tiếp tục tổ chức cấp hành chính trung gian (cấp huyện) nếu được thực hiện tốt sẽ giúp giảm bớt sự “cồng kềnh” trong hệ thống hành chính nhà nước, đồng thời tạo ra một mô hình hành chính tinh gọn, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu phát triển trong bối cảnh hiện nay.

Để thực hiện thành công chủ trương này, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 là điều cần thiết nhằm tạo nền tảng hiến định rõ ràng, ổn định cho quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Việc điều chỉnh các điều khoản liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương không chỉ phản ánh nguyên tắc quản trị hiện đại, mà còn bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa Trung ương và địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao quyền quản lý phù hợp với điều kiện, đặc thù của từng địa phương. Bên cạnh đó, các quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được sửa đổi, bổ sung theo hướng tinh gọn cũng sẽ tập trung làm nổi bật hơn vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị, phù hợp với các nội dung quy định khác về Đảng Cộng sản và Nhà nước trong Chương I Hiến pháp năm 2013.

Với sự chỉ đạo nhất quán của Đảng, sự quyết tâm của các cơ quan nhà nước, hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 sẽ là nhân tố then chốt đưa mô hình quản trị hành chính của đất nước phát triển bền vững, góp phần xây dựng một nền hành chính tinh gọn, hiệu quả và thích ứng linh hoạt với những yêu cầu của thời kỳ phát triển sắp tới./.

PGS.TS. Tô Văn Hòa

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Dự thảo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới; phát huy vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật trên thực tế, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật, giảm chi phí tuân thủ pháp luật.
Thẩm định Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh

Thẩm định Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh

Tiếp tục hoàn thiện quy định về thành phần hồ sơ theo hướng chấp nhận bản sao, bản sao điện tử và khai thác dữ liệu; không yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng

Phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng

Chính sách Luật Luật sư (sửa đổi) được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trong tình hình mới; xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi kỹ năng hành nghề, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II)

Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II)

Trong hai ngày 19 và 20/01, tại tỉnh Phú Thọ, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị “Triển khai Dự án Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II) và Thảo luận với các đối tác Việt Nam về Lộ trình 5 năm triển khai Dự án và Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Dự án EU JULE II”. Dự án xác định mục tiêu xuyên suốt là “Tăng cường năng lực các chủ thể có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bảo vệ quyền hợp pháp cho tất cả người dân”.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Đẩy mạnh triển khai đấu giá tài sản trực tuyến

Đẩy mạnh triển khai đấu giá tài sản trực tuyến

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai đấu giá tài sản trực tuyến theo quy định của Luật Đấu giá tài sản gồm 8 điều, được ban hành nhằm đẩy mạnh triển khai đấu giá tài sản trực tuyến toàn trình trên môi trường điện tử; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường tính công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu giá.
Sắp xếp Ban Chỉ huy quân sự cấp xã bảo đảm phù hợp với hệ thống chính trị

Sắp xếp Ban Chỉ huy quân sự cấp xã bảo đảm phù hợp với hệ thống chính trị

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu gồm 8 điều, được xây dựng nhằm sắp xếp Ban Chỉ huy quân sự cấp xã phù hợp với hệ thống chính trị và quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân.
15 sự kiện nổi bật năm 2025 của ngành Tư pháp

15 sự kiện nổi bật năm 2025 của ngành Tư pháp

Ngày 31/12, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 3802/QĐ-BTP phê duyệt và công bố 15 sự kiện nổi bật năm 2025 của ngành Tư pháp.
Công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10

Công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10

Sáng 07/01, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố 12 luật vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì Họp báo.
Hoàn thiện các nội dung liên quan đến Luật Hộ tịch (sửa đổi)

Hoàn thiện các nội dung liên quan đến Luật Hộ tịch (sửa đổi)

Dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi) cho phép 5 sự kiện hộ tịch quan trọng gồm: Khai sinh, kết hôn, đăng ký giám hộ, nhận cha, mẹ, con và khai tử được thực hiện phi địa giới trong phạm vi một tỉnh.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: