Thứ năm 18/06/2026 01:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tình hình buôn lậu ở miền Đông Nam Bộ - Nguyên nhân và giải pháp

Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu về các nguyên nhân của tình hình buôn lậu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, từ đó, đề xuất một số giải pháp phòng ngừa tội phạm trên địa bàn này.

Hiện nay, tình hình buôn lậu vẫn đang xảy ra, diễn biến ngày càng phức tạp trên địa bàn nhiều tỉnh thành trong cả nước. Trong đó, miền Đông Nam Bộ luôn được xác định là điểm nóng, là một trong những địa bàn tiêu thụ hàng hóa với sức mua rất lớn, trong đó có nhiều hàng hóa nhập lậu; đồng thời là nơi tập kết, trung chuyển của nhiều loại hàng hóa từ nước ngoài nhập lậu vào Việt Nam và đưa đi các tỉnh khác. Hoạt động buôn lậu diễn ra trên tất cả các tuyến, tập trung tại các tuyến biên giới và tuyến đường biển.

Buôn lậu và gian lận thương mại ở nước ta đã xuất hiện từ nhiều năm nay và đặc biệt phát triển sau khi mở cửa thị trường, tăng cường hội nhập với diễn biến ngày càng phức tạp trên tất cả các tuyến, bằng nhiều hình thức khác nhau. Là quốc gia đang phát triển có quy mô dân số hơn 90 triệu người, nằm ở trung tâm khu vực sản xuất năng động của thế giới, vì vậy, Việt Nam nói chung và miền Đông Nam Bộ nói riêng luôn là địa điểm “hấp dẫn” đối với hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

Hiện nay, tình hình buôn lậu vẫn đang xảy ra, diễn biến ngày càng phức tạp trên địa bàn nhiều tỉnh thành trong cả nước. Trong đó, miền Đông Nam Bộ luôn được xác định là điểm nóng, là một trong những địa bàn tiêu thụ hàng hóa với sức mua rất lớn, trong đó có nhiều hàng hóa nhập lậu; đồng thời là nơi tập kết, trung chuyển của nhiều loại hàng hóa từ nước ngoài nhập lậu vào Việt Nam và đưa đi các tỉnh, thành khác. Hoạt động buôn lậu diễn ra trên tất cả các tuyến, tập trung tại các tuyến biên giới và tuyến đường biển.

1. Nguyên nhân của tình hình buôn lậu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

1.1. Nguyên nhân do hạn chế của pháp luật về phòng, chống buôn lậu

Việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn rất khó khăn bởi hệ thống pháp luật của nước ta chưa đồng bộ, còn chồng chéo, quy định pháp luật còn thiếu, nhiều điều luật còn chưa phù hợp dẫn đến việc áp dụng khó khăn, hiệu quả thấp. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu và chống buôn lậu còn chung chung, thiếu những chế tài cụ thể và nghiêm minh, không đồng bộ hoặc có kẽ hở để tội phạm lợi dụng buôn lậu, buôn bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ, thuốc lá lậu… qua biên giới.

Theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì hành vi khách quan của tội buôn lậu là buôn bán trái phép hàng hóa qua biên giới ở định lượng luật định. Mục đích của hành vi buôn lậu là kiếm lợi nhuận. Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt tội buôn lậu với tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189). Trên thực tế, việc chứng minh mục đích buôn bán kiếm lời của người phạm tội rất khó khăn vì người phạm tội thường không thừa nhận mục đích này để được xử lý về tội nhẹ hơn. Chính vì vậy, đây cũng là một khó khăn, hạn chế trong thực tiễn xử lý tội buôn lậu.

Về pháp luật hình sự, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã mở rộng khái niệm tội phạm quy định tại Điều 8 bao gồm cả chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại phạm tội. Đồng thời, Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, trong đó có tội buôn lậu (Điều 188). Mặt khác, Điều 424 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định về những điều cần chứng minh trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Tuy nhiên, cho đến nay, những quy định rất mới này của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, trong khi nhận thức của những người tiến hành tố tụng về các vấn đề này còn hạn chế, còn tồn tại các quan điểm khác nhau, thiếu thống nhất. Chính sự thiếu vắng các văn bản hướng dẫn trong bối cảnh lần đầu tiên nước ta quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một trong những nguyên nhân, điều kiện tồn tại của tình hình tội buôn lậu do pháp nhân thương mại thực hiện.

Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nhưng trong suốt thời gian qua chỉ có một vụ án liên quan đến pháp nhân bị khởi tố[1]. Có thể thấy rằng, đây là một hạn chế trong thực tiễn phòng ngừa tội buôn lậu do pháp nhân thượng mại thực hiện.

1.2. Nguyên nhân do hạn chế trong quản lý phòng chống buôn lậu

- Vùng Đông Nam Bộ là địa bàn tương đối rộng và phức tạp, hoạt động quản lý của các cấp, các ngành và của từng địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Trình độ, kinh nghiệm quản lý và điều hành kinh tế còn nhiều hạn chế, nền sản xuất trong nước còn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước cả về chủng loại cũng như chất lượng hàng hóa. Điều này dẫn đến nhiều kẽ hở trong hoàn thiện việc điều hành, quản lý nền kinh tế.

- Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý, các bộ, ngành liên quan đến hoạt động chống buôn lậu không còn phù hợp. Hoạt động thanh tra, kiểm tra công vụ chưa được thường xuyên, hiệu quả thấp; việc xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu theo từng địa bàn, lĩnh vực phụ trách chưa nghiêm; việc điều chuyển, đề xuất điều chuyển, thay thế người đứng đầu các cơ quan, đơn vị không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có biểu hiện bao che, dung túng cho buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, việc xử lý các vi phạm chưa nghiêm.

- Vấn đề quản lý về sự thành lập và hoạt động của các tổ chức kinh tế, các công ty, doanh nghiệp trong vùng còn hạn chế như thành lập tràn lan, dưới nhiều hình thức, tội phạm buôn lậu và tội phạm có tổ chức cũng “núp bóng” doanh nghiệp để hoạt động mà không bị xử lý hoặc bị xử lý nhưng mức phạt chưa cao, chưa có tính răn đe. Các đối tượng gian lận thương mại đã lợi dụng sự thông thoáng từ khâu thành lập doanh nghiệp, thuê mượn giấy tờ tùy thân để lập doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp được thành lập theo quy định pháp luật nhưng qua xác minh thì hầu hết là doanh nghiệp “ma”, khi cơ quan điều tra đến xác minh thì phát hiện ra đó chỉ là những doanh nghiệp trên giấy, không có hoạt động trong thực tế.

- Cơ quan trực tiếp được Chính phủ giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, xử lý hành vi buôn lậu tại địa bàn Đông Nam Bộ hoạt động chưa thực sự hiệu quả, việc triển khai chưa quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để thực hiện nhiệm vụ được giao; gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị với kết quả thực hiện nhiệm vụ chưa sâu sát.

- Hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thông qua các hoạt động hỗ trợ từ phía các hiệp hội, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước chưa được chú trọng và khai thác triệt để; hoạt động hợp tác quốc tế, phối hợp với các tổ chức, thương hiệu toàn cầu, hợp tác chống hàng trốn thuế còn lỏng lẻo và mang tính hình thức, chưa đi vào khuôn khổ.

- Hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm, đôn đốc của lực lượng quản lý thị trường triển khai các kế hoạch chuyên đề trọng điểm về chống buôn chưa đồng bộ, chưa làm tốt hoạt động điều tra cơ bản, nắm tình hình thị trường, lập danh sách đối tượng, cơ sở có biểu hiện nghi vấn buôn lậu, gian lận thương mại; các kho tàng, bến bãi chứa hàng lậu.

- Sự phối hợp với các lực lượng chức năng như: Hải quan, biên phòng, công an, cảnh sát biển và các cơ quan thanh tra chuyên ngành để xây dựng các phương án cụ thể kiểm tra, xử lý các đường dây, ổ nhóm, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu; việc ngăn chặn kịp thời việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng trên thị trường nội địa, đặc biệt là địa bàn TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước… còn chưa thực sự chặt chẽ.

1.3. Nguyên nhân do hạn chế trong xử lý và phòng ngừa tội phạm buôn lậu

- Hạn chế trong xử lý tội phạm buôn lậu: Việc thực thi các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu còn nhiều bất cập, kém hiệu quả như: Kết quả khởi tố, điều tra các vụ án buôn lậu còn thấp; đối tượng chủ mưu, “đầu nậu” lớn bị phát hiện, bắt giữ còn chiếm tỷ lệ ít; số vụ việc được phát hiện chủ yếu xử lý hành chính nên họ có điều kiện phạm tội trở lại.

- Hạn chế trong phòng ngừa riêng: Hoạt động đấu tranh phòng, chống nói chung và phòng ngừa nói riêng đối với tội phạm buôn lậu của các lực lượng chức năng còn một số hạn chế, thiếu sót. Việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng như lực lượng quản lý thị trường, hải quan, cảnh sát kinh tế chưa được thống nhất, thường xuyên, tích cực, tạo nhiều kẽ hở cho các đối tượng buôn lậu hoạt động.

- Hạn chế về lực lượng phòng ngừa: Lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu ở địa bàn miền Đông Nam Bộ, trong đó có lực lượng cảnh sát kinh tế còn mỏng, trình độ nghiệp vụ không đồng đều, một số cán bộ chiến sỹ vẫn còn biểu hiện lơ là, mất cảnh giác, hoặc có biểu hiện ngại va chạm; có nơi, có lúc còn biểu hiện buông lỏng quản lý, chưa có phương án phòng, chống thường xuyên để chủ động phòng ngừa, kiềm chế hành vi buôn lậu.

- Hạn chế về trang thiết bị, kinh phí: Trang thiết bị, kinh phí phục vụ hoạt động phòng, chống tội phạm buôn lậu còn hạn hẹp, do vậy, trên từng mặt chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu trong tình hình mới.

- Hạn chế trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp: Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền một số nơi, một số bộ, ban, ngành còn chưa quan tâm, chưa thực sự quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động kiểm tra, thanh tra, điều tra, phát hiện xử lý vi phạm pháp luật. Vai trò của các lực lượng chức năng ở cơ sở còn nhiều hạn chế, chưa xây dựng được lực lượng nòng cốt, chưa sâu sát nắm bắt tình hình cơ sở, khu dân cư. Trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chuyên trách, người đứng đầu chưa cao, còn có biểu hiện tiêu cực, bao che, thậm chí “bảo kê” cho các hành vi vi phạm pháp luật; chưa kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa và chủ động phát hiện tội phạm buôn lậu.

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống buôn lậu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ trong thời gian tới

Một là, hoàn thiện hệ thống giám sát cửa khẩu và biên giới: Giám sát cửa khẩu và biên giới rất quan trọng đối với phòng, chống buôn lậu. Để giám sát cửa khẩu tốt, cần chú trọng cả việc tổ chức lực lượng kết hợp với trang thiết bị hiện đại, cần tăng cường lắp đặt hệ thống camera thông minh ở khu vực cửa khẩu quốc tế để phòng, chống buôn lậu. Bên cạnh đó, lực lượng chuyên trách cũng cần tiến hành các hoạt động tâm lý, tuyên truyền, giáo dục để mỗi gia đình, mỗi hộ dân sống ở khu vực biên giới là một “biên phòng” cho đất nước nói chung và chống buôn lậu nói riêng. Phát huy sức mạnh của người dân trong phòng, chống buôn lậu cần được coi là biện pháp quan trọng cần được tiến hành bền bỉ, lâu dài, thường xuyên.

Hai là, kiểm soát tại các cảng hàng không, cảng biển: Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về kiểm tra, giám sát an ninh hàng không và hàng hải, ví dụ như: Thông tư số 13/2019/TT-BGTVT ngày 29/3/2019 của Bộ Giao thông vận tải về quy định chi tiết Chương trình an ninh hàng không và kiểm soát chất lượng an ninh hàng không Việt Nam; Nghị định số 77/2017/NĐ-CP ngày 03/7/2017 của Chính phủ quy định về quản lý, bảo vệ an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng. Để giám sát cảng hàng không và cảng biển tốt, tăng hiệu quả phát hiện và xử lý buôn lậu thì cần triển khai thực hiện tốt nội dung trong các văn bản này. Đồng thời, tăng cường tổ chức lực lượng tinh nhuệ, vững vàng chuyên môn nghiệp vụ tại các cảng này.

Ba là, đẩy mạnh phát triển nền sản xuất trong nước nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam ngay trong thị trường nội địa và thị trường quốc tế, cần đổi mới quy trình, công nghệ sản xuất, cải tiến về mẫu mã hàng hóa, giảm thiểu các chi phí sản xuất để sản phẩm có giá phù hợp với mức sống trung bình của người dân, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước hình thành tâm lý, thói quen dùng hàng sản xuất trong nước, chiếm lĩnh lòng tin của người tiêu dùng trong nước.

Bốn là, tăng cường chính sách thu hút, khuyến khích đầu tư của các doanh nghiệp tới các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, đặc biệt là các vùng giáp biên, ven biển, góp phần tạo công ăn việc làm, không ngừng nâng cao đời sống của người dân ở các khu vực biên giới, ven biển. Việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo ở vùng biên giới phải được sự phối hợp lãnh đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng và có sự tiến hành đồng bộ của chính quyền các cấp, các bộ, ngành liên quan...

Năm là, ban hành các thủ tục hải quan bảo đảm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử lưu giữ hàng hóa tại kho ngoại quan trước khi giao hàng cho khách hàng bảo đảm quản lý được hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho doanh nghiệp, người tiêu dùng, nhất là nhận thức về hàng lậu, hàng cấm, hàng giả, hàng nhái.

Sáu là, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, các lực lượng chức năng trong công tác quản lý của mình, chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa hiệu quả các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại trong hoạt động thương mại điện tử; từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động thương mại điện tử.

Bảy là, hiện nay, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về phòng chống buôn lậu chưa được sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành nên kết quả đạt được còn thấp so với yêu cầu, sự hiểu biết pháp luật của cán bộ, nhân dân còn nhiều hạn chế. Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ đơn thuần được thực hiện đối với cộng đồng dân cư mà còn phải được thực hiện ngay trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, đặc biệt là những cán bộ chiến sỹ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống buôn lậu bởi chính họ sẽ là người giải thích và áp dụng các quy định của pháp luật để chống lại nạn buôn lậu. Giáo dục, xây dựng tâm lý và nhận thức đúng đắn về việc không dùng hàng lậu, cần chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục cho những tầng lớp, thành phần nhân dân khác nhau ý thức không dùng hàng rẻ do buôn lậu.

Tám là, rà soát, đánh giá, tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về xuất nhập khẩu cũng như các vấn đề liên quan đến hoạt động ngoại thương. Sửa đổi, bổ sung các luật về thuế, đặc biệt là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để phù hợp với điều kiện mới hiện nay; mạnh dạn giảm thuế xuất nhập khẩu đối với những mặt hàng mà hàng nội địa có khả năng cạnh tranh. Xây dựng văn bản quy định về chuyển khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh và văn bản quy định về quy chế quản lý hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới, chế độ miễn kiểm hóa... để tránh tình trạng rất nhiều tội phạm buôn lậu hiện nay lợi dụng kẽ hở của pháp luật về tạm nhập tái xuất, quá cảnh, trung chuyển để buôn lậu hàng hóa vào nước ta.

Chín là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các lực lượng có chức năng phòng, chống buôn lậu vững mạnh và tinh nhuệ; tập trung đào tạo và đào tạo lại nguồn cán bộ cho các lực lượng này theo hướng nâng cao trình độ và năng lực hoạt động. Bên cạnh đó, phải có chế độ đãi ngộ thích đáng đối với những người làm công tác phòng ngừa, đấu tránh chống buôn lậu (chính sách về tiền lương, phụ cấp, đào tạo...) để những người thực hiện hoạt động chống buôn lậu và gian lận thương mại yên tâm, dốc tâm vào thực hiện nhiệm vụ.

Mười là, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng tinh giản, khắc phục những bất cập, chồng chéo trong cơ chế quản lý. Tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động phòng ngừa sẽ bảo đảm cho việc quản lý những hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu, ngoại thương được thống nhất và thông suốt, tránh tình trạng các cơ quan quản lý nhà nước đùn đẩy công việc cho nhau, tạo ra những khoảng trống trong quản lý để người buôn lậu lợi dụng thực hiện các hành vi phạm tội.

ThS. Nguyễn Đăng Phú

Đại học Lao động - Xã hội, TP. Hồ Chí Minh



1. Xem bài: Vụ án xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được phát hiện như thế nào?,

http://m.cand.com.vn/Lan-theo-dau-vet-toi-pham/Vu-an-xam-pham-quyen-so-huu-cong-nghiep-duoc-phat-hien-nhu-the-nao-572863/, 06/12/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: