Thứ ba 25/08/2026 11:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tuyên Quang phát huy vai trò, trách nhiệm của các ngành, các cấp thực hiện có hiệu quả quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Xác định được vị trí, vai trò của công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, thời gian qua, tỉnh Tuyên Quang đã có nhiều giải pháp để tổ chức thực hiện đồng bộ, có hiệu quả, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện, qua đó đã nâng cao được hiệu quả thực hiện quy định xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, các quan điểm, chủ trương của Đảng, các luật có liên quan về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân, ngày 22/7/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg). Đây là một bước tiến trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức hành chính ở cấp xã nhằm tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhất là ở cấp cơ sở trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Việc thực hiện các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá tiếp cận pháp luật có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, giáo dục ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền được thông tin về pháp luật; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã trong thực thi công vụ; cải thiện điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, giải quyết thủ tục hành chính, phát huy dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

1. Kết quả đạt được

Một là, đã phát huy được vai trò của Ngành Tư pháp trong việc làm đầu mối tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Để hoàn thiện thể chế và bảo đảm kinh phí thực hiện nhiệm vụ, Sở Tư pháp đã phối hợp với Sở Tài chính, các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 15/2014/NQ-HĐND ngày 23/7/2014 quy định một số mức chi thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, trong đó, quy định các mức chi cho công tác xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Nhằm triển khai thi hành kịp thời, đồng bộ quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các kế hoạch triển khai thực hiện[1], trong đó, triển khai thực hiện Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 201/KH-UBND ngày 22/11/2021 (Kế hoạch số 201/KH-UBND) với các quy định cụ thể về nội dung, phân công trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị, qua đó đã phát huy được vai trò của các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện, như: (i) Giao Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các cơ quan, đơn vị biên soạn tài liệu tuyên truyền, viết tin, bài tuyên truyền, tổ chức tọa đàm, các chương trình truyền thông, thông tin về việc triển khai và kết quả thực hiện Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg trên địa bàn tỉnh; (ii) Sở Tư pháp chủ trì ban hành hoặc tham mưu ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; (iii) Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng tài liệu nhằm quán triệt, phổ biến, tập huấn nội dung cơ bản của Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg; tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý, tham mưu thực hiện công tác đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; (iv) Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thành lập Hội đồng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật; thực hiện quy trình đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức tự chấm điểm, đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu, tiêu chí; (v) Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện, thành phố, các cơ quan, đơn vị tổ chức kiểm tra, khảo sát, đánh giá sự hài lòng của người dân về hiệu quả xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg.

Sở Tư pháp đã biên soạn 04 bộ tài liệu, sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ; in, cung cấp 1.200 cuốn cho các cơ quan, đơn vị. Triển khai Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg, Sở Tư pháp đã biên soạn bộ tài liệu “Hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật” hướng dẫn cụ thể về nội dung, điểm số, cách tính điểm các tiêu chí, chỉ tiêu, tài liệu để đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu, tài liệu được hoàn thành ngay trong tháng 12/2021 để kịp thời hướng dẫn các cơ quan, đơn vị triển khai Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg từ đầu năm 2022.

Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp huyện, thành phố đã tham mưu tổ chức 42 hội nghị, lớp tập huấn cho 3.050 lượt đại biểu đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; các cơ quan, đơn vị, phòng ban tham mưu theo dõi các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật; Văn phòng điều phối nông thôn mới; lãnh đạo, công chức cấp xã. Xây dựng Chuyên mục “Chuẩn tiếp cận pháp luật” trên Trang Thông tin điện tử Sở Tư pháp; thường xuyên đăng tải, cập nhật tin, bài, tài liệu, văn bản lên Chuyên mục “Chuẩn tiếp cận pháp luật”. Thực hiện đăng tải lên Trang Thông tin điện tử của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố và đề nghị Cổng Thông tin điện tử tỉnh đăng tải danh sách xã đạt chuẩn và không đạt chuẩn tiếp cận pháp luật hàng năm bảo đảm đúng thời gian quy định.

Sở Tư pháp đã trình Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh ban hành 05 kế hoạch kiểm tra, tự kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó có nội dung kiểm tra việc thực hiện quy định xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Ủy ban nhân dân huyện, thành phố ban hành 35 kế hoạch kiểm tra công tác tư pháp; tổ chức kiểm tra trực tiếp tại 05 Ủy ban nhân dân cấp huyện, 08 Ủy ban nhân dân cấp xã; hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tự kiểm tra, báo cáo kết quả tự kiểm tra theo quy định.

Hai là, có sự phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị trong việc theo dõi, hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện các tiêu chí đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, qua đó đã phát huy được tính chủ động, trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.

Để phát huy được tính chủ động, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và là căn cứ để đánh giá, kiểm tra, trong Kế hoạch số 201/KH-UBND, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị trong việc theo dõi, hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện các tiêu chí đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, theo đó: (i) Sở Tư pháp chủ trì đối với chỉ tiêu 1 của tiêu chí 1; các chỉ tiêu 1, 2, 3, 4 và 5 của tiêu chí 2; chỉ tiêu 1 và 3 của tiêu chí 3; (ii) Thanh tra tỉnh chủ trì đối với chỉ tiêu 1 của tiêu chí 5; (iii) Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì đối với chỉ tiêu 2 của tiêu chí 5; (iv) Sở Nội vụ chủ trì đối với chỉ tiêu 2 của tiêu chí 1; các chỉ tiêu của tiêu chí 4; chỉ tiêu 3 của tiêu chí 5; (v) Sở Tài chính chủ trì đối với chỉ tiêu 6 của tiêu chí 2; chỉ tiêu 2 của tiêu chí 3; (vi) Công an chủ trì đối với chỉ tiêu 4 của tiêu chí 5. Trên cơ sở nhiệm vụ được phân công, các cơ quan, đơn vị đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu; hướng dẫn đơn vị cấp huyện, cấp xã theo ngành dọc tổ chức thực hiện và tự chấm điểm, đánh giá theo quy định, qua đó đã nâng cao chất lượng thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu trên địa bàn tỉnh.

Ba là, có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan, đơn vị với Văn phòng Điều phối nông thôn mới trong việc tổ chức thực hiện, đánh giá tiêu chí 18.5 trong Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.

Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, một số cơ quan, đơn vị theo dõi các tiêu chí, chỉ tiêu là thành viên Ban Chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia cấp tỉnh, cấp huyện đã chủ động tham mưu, chỉ đạo thực hiện tiêu chí 18.5 trong Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới, từ năm 2017 đến nay đã tham gia Hội đồng thẩm định, đánh giá đề nghị công nhận 54 xã đạt nông thôn mới, trong đó bảo đảm không có xã nào không đạt nông thôn mới do không đạt tiêu chí 18.5.

Bốn là, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện tốt các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, tự đánh giá, chấm điểm, đề nghị công nhận theo quy định.

Cấp xã là cấp cơ sở trực tiếp tổ chức thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, xác định việc thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền được thông tin về pháp luật, xây dựng xã nông thôn mới, đô thị văn minh, trên cơ sở hướng dẫn của các cơ quan, đơn vị và qua tập huấn nghiệp vụ, Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn đã nhanh chóng tổ chức triển khai thực hiện quy định xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn, ban hành các kế hoạch thực hiện các quy định của Thủ tướng Chính phủ, trong đó phân công nhiệm vụ cụ thể cho công chức theo dõi, tổ chức thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu; hàng năm, ban hành kế hoạch thực hiện; tổ chức rà soát, tự chấm điểm, hoàn thiện hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp huyện đánh giá bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, thời gian theo quy định, kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn đều đạt tỷ lệ cao.

Năm là, phát huy vai trò của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện; tổ chức đánh giá, công nhận khách quan, công khai, công bằng và đúng quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh đã ban hành kế hoạch thực hiện quy định xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc triển khai Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg được thực hiện kịp thời, bài bản, ngay trong tháng 12/2021, 07/07 huyện, thành phố đã ban hành kế hoạch thực hiện; phân công các phòng, ban theo dõi, hướng dẫn thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu; triển khai thực hiện đến các xã, phường, thị trấn, đặc biệt là các quy định mới trong Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg về tiêu chí, điều kiện công nhận, trình tự, thủ tục đánh giá, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và quy định của Thông tư số 09/2021/TT-BTP ngày 15/11/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg (Thông tư số 09/2021/TT-BTP) về nội dung, điểm số, cách tính điểm các tiêu chí, chỉ tiêu; tài liệu đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu, các biểu mẫu phục vụ việc đánh giá, công nhận.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành phố đã thành lập Hội đồng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật bảo đảm về thành phần, số lượng theo quy định. Hội đồng, thành viên Hội đồng thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, tổ chức đánh giá, công nhận bảo đảm đúng quy định về thời gian, trình tự, thủ tục. Kết quả đánh giá, từ năm 2017 đến nay, có 676/699 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; 23 xã, phường, thị trấn không đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì việc thực hiện quy định xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang vẫn còn có một số tồn tại, hạn chế, như: Một số cơ quan, đơn vị chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong theo dõi, hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu được phân công, chưa sát sao hướng dẫn cơ sở thực hiện; Ủy ban nhân dân một số xã, phường, thị trấn chưa quan tâm đề ra các giải pháp để thực hiện có hiệu quả các tiêu chí, chỉ tiêu, một số nơi thực hiện còn hình thức; công tác biểu dương, khen thưởng chưa được thực hiện kịp thời.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về xã, phường thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Từ những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế nêu trên, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, phát huy được vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ quản lý nhà nước; thường xuyên chỉ đạo các cấp, các ngành phát huy vai trò, trách nhiệm, chủ động tham mưu, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Thứ hai, Sở Tư pháp làm tốt vai trò là cơ quan đầu mối tham mưu thực hiện ở địa phương, chủ động phối hợp với các ngành, các cấp để thực hiện; khẩn trương tổ chức tập huấn nghiệp vụ để triển khai các quy định mới tại Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg và Thông tư số 09/2021/TT-BTP, bảo đảm triển khai thực hiện các quy định này thống nhất, đồng bộ trên địa bàn tỉnh ngay từ đầu năm. Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp xã, phường, thị trấn chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật hoặc việc đánh giá, công nhận không đúng quy định pháp luật.

Thứ ba, các cơ quan, đơn vị được giao theo dõi các tiêu chí, chỉ tiêu chủ động theo dõi, hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị đối với các tiêu chí, chỉ tiêu thực hiện không hiệu quả, chất lượng kém.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân cấp xã thường xuyên đánh giá việc thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu, xác định chính xác những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, từ đó đề ra các giải pháp để khắc phục, bảo đảm việc thực hiện thực chất, có hiệu quả.

Thứ năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện tăng cường thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn cấp xã thực hiện; tổ chức đánh giá, công nhận bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ, khách quan, công bằng, đúng quy định pháp luật; thực hiện và chỉ đạo thực hiện các giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, trong thời gian tới, việc thực hiện quy định xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang sẽ đạt được kết quả cao hơn nữa, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.

Vũ Thị Minh Hiền
Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang



[1]. Kế hoạch số 72/KH-UBND ngày 17/10/2013 thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; Kế hoạch số 47/KH-UBND ngày 23/6/2017 thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: