Chủ nhật 16/08/2026 05:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam đối với cộng đồng doanh nghiệp

Nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung, sản xuất nhỏ đi lên, các thành phần tham gia vào nền kinh tế, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh cá thể chiếm khoảng 97%. Với quá trình hội nhập và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực, khả năng đóng góp, liên kết doanh nghiệp tạo thành thế mạnh cho từng ngành hàng, từng lĩnh vực.

1. Sự ra đời và phát triển của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung, sản xuất nhỏ đi lên, các thành phần tham gia vào nền kinh tế, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh cá thể chiếm khoảng 97%. Với quá trình hội nhập và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực, khả năng đóng góp, liên kết doanh nghiệp tạo thành thế mạnh cho từng ngành hàng, từng lĩnh vực. Vì vậy, việc ra đời một tổ chức như Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - là nơi phản ánh khó khăn, kiến nghị, đề xuất, tháo gỡ cho các doanh nghiệp; là nơi đề đạt, đóng góp xây dựng chính sách và cũng là động lực lớn nhất trong việc sử dụng lao động, sản xuất ra hàng hóa xuất khẩu, đóng góp cho ngân sách của Nhà nước, đặc biệt trong việc xóa đói, giảm nghèo… Tất cả các lý do trên đòi hỏi phải ra đời một tổ chức có tính chất xã hội, đại diện hợp pháp cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời là cầu nối giữa doanh nghiệp và những người sản xuất, kinh doanh nhỏ với các cơ quan lãnh đạo, cơ quan hoạch định chính sách Nhà nước. Đó cũng là nơi để hỗ trợ về mặt pháp lý, tham mưu công nghệ, đào tạo lao động cho cộng đồng doanh nghiệp… Đặc biệt, trong thế kỷ XXI và thời gian gần đây, chúng ta đã có những bước đổi mới và hội nhập sâu hơn mà trước hết là đổi mới về chính sách và kinh tế. Việc phát huy tiềm năng, thế mạnh, vị thế và đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa lại càng quan trọng, cấp thiết, kể cả những tiềm năng thế mạnh cần phát huy hay những yếu thế, khó khăn của họ cần phải khắc phục. Trong khi chúng ta hội nhập sâu hơn, đổi mới toàn diện hơn, thì việc giúp đỡ, tập hợp, bảo vệ quyền lợi cho người sản xuất nhỏ lại càng cần thiết để nâng cao sức cạnh tranh, đảm bảo thu nhập của người lao động cũng như vị thế của đất nước tương xứng với khu vực và thế giới.

Từ khi thành lập (năm 2005) cho tới nay, mặc dù tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, những mặt tiêu cực như sức ép cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trong quá trình hội nhập đã bắt đầu tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam, song với tinh thần trách nhiệm rất cao, với năng lực và uy tín... nên mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, tập thể Ban Thường vụ, Thường trực Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã không ngừng tuyên truyền, vận động, luôn sâu sát cơ sở, nên tổ chức Hội không ngừng được phát triển cả về số lượng và chất lượng. Khi thành lập năm 2005, tổ chức Hội chỉ có 02 Liên minh Hợp tác xã cấp tỉnh là thành viên và 300 hội viên, đến nay, sau gần 10 năm (trải qua 02 nhiệm kỳ), Hiệp hội đã phát triển được 55 Hiệp hội cấp tỉnh/thành phố với 52.000 hội viên, đảm nhiệm vai trò tư vấn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Đây được coi là thành tích đặc biệt xuất sắc, bởi đặt trong bối cảnh có nhiều tổ chức xã hội được thành lập, nhưng rất khó phát triển và hoạt động rất khó khăn, nhiều tổ chức hoạt động mang tính hình thức..., thì Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đã có hội viên ở hầu hết các tỉnh/thành phố, một số nơi phát triển tới cấp huyện, thị xã, nghề và đặc biệt là đã thành lập được một số văn phòng đại diện tại nước ngoài... Điều đó chứng tỏ vai trò, uy tín của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam ngày càng cao. Những thành tích công tác của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam được thể hiện trên mấy điểm sau:

- Cùng với Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý, luật pháp để doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh một cách có lợi thông qua các cơ chế, chính sách. Hiệp hội là nơi tập trung phản ánh chính sách, cơ chế, khó khăn, cũng như vướng mắc của doanh nghiệp để đề nghị cơ quan lãnh đạo cấp trung ương và địa phương tháo gỡ, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp, đồng thời, phản ảnh những khó khăn đó để góp phần xây dựng chính sách, xây dựng cơ chế, biện pháp xử lý giải quyết những vấn đề tồn tại, bức xúc.

- Cùng với cộng đồng doanh nghiệp, với sự hỗ trợ, quy hoạch chung của Nhà nước, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động trợ giúp doanh nghiệp như: Tổ chức các khóa đào tạo về tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, quản trị doanh nghiệp; tổ chức các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; thiết lập mạng lưới tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp ở những vùng có điều kiện khó khăn; trợ giúp cho doanh nghiệp tìm hiểu thị trường, phát triển thị trường, tổ chức hoặc phối hợp tổ chức hàng chục cuộc triển lãm trong và ngoài nước với hàng ngàn lượt doanh nghiệp tham gia, nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa và quảng bá sản phẩm Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

- Tham gia thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao vào các Hội đồng, các Ban chỉ đạo liên ngành của Chính phủ (như Hội đồng Khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Hội đồng Quan hệ lao động, Hội đồng Tiền lương Quốc gia...).

- Công tác xã hội trong hơn 10 năm qua được các cấp hội ở cả trung ương và địa phương đặc biệt quan tâm, luôn đặt ở nhóm nhiệm vụ trọng tâm, được thực hiện với tinh thần trách nhiệm rất cao vì cộng đồng, vì sự phát triển bền vững của xã hội, nhất là các cuộc vận động vì người nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ khuyến học, hướng về biển đảo... Đặc biệt, năm 2014, nhân sự kiện Trung Quốc hạ đặt dàn khoan 981 trong thềm lục địa của Việt Nam, Hiệp hội đã kịp thời tổ chức hội nghị lớn, với hàng trăm hội viên tham gia, tại hội nghị đã ra Nghị quyết phản đối Trung Quốc về hành động nêu trên (là Hội đầu tiên của cả nước ban hành nghị quyết về vấn đề này), vận động, kêu gọi các tổ chức và cá nhân trong và ngoài Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã quyên góp được gần 500 triệu đồng. Đây được coi là thành tích đặc biệt xuất sắc, rất đáng tự hào, bởi hoạt động đó được tổ chức rất kịp thời, đáp ứng đươc tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của xã hội (trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa) và mang tính thực tế cao. Năm 2015, nhân kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2015) và để tỏ lòng tri ân các anh hùng liệt sỹ đã hi sinh cho nền độc lập của dân tộc, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị phát động cuộc quyên góp lớn trong các doanh nghiệp để xây dựng khu lưu trú cho thân nhân các liệt sỹ và nhân dân cả nước khi đến thăm viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn. Cho đến nay, đã có hàng chục doanh nghiệp, nhà hảo tâm đăng ký hiến tặng khoảng 20 tỷ đồng để thực hiện dự án đầy ý nghĩa nhân văn này.

Bằng sự chỉ đạo điều hành, thực hiện một cách quyết liệt, bền bỉ và sự nỗ lực vượt qua khó khăn, không ngừng nâng cao năng lực trình độ, đến nay ngoài hệ thống hội viên 55 Hiệp hội cấp tỉnh/thành phố, cơ quan Trung ương Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có 04 ban, 10 trung tâm, đơn vị trực thuộc, 03 chi nhánh, văn phòng đại diện trong nước, 02 văn phòng đại diện tại nước ngoài, 02 tạp chí với 03 ấn phẩm báo viết và báo điện tử...

2. Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam với việc xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Về việc tham gia góp ý kiến vào việc xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã và đang dành được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và những người khởi nghiệp. Có thể nói, cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa đang mong mỏi, kỳ vọng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tạo được hành lang pháp lý trong việc cụ thể hóa các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, khắc phục những dàn trải, phân tán nguồn lực… Với mong muốn xây dựng lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam ngày càng lớn mạnh về số lượng, vững chắc về nền tảng, trong thời gian vừa qua, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã thực hiện nhiều cách thức để lấy ý kiến các doanh nghiệp góp ý cho Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khi ra đời phát huy hiệu quả tích cực, đảm bảo tính khả thi, thiết nghĩ, chúng ta cần nhận định những thực tại của việc tham gia các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua, đồng thời xác định rõ nguồn lực nhà nước có thể đáp ứng. Trong bối cảnh tình hình mới, khi chúng ta hội nhập ngày càng sâu rộng, Nhà nước cần xác định hỗ trợ những nội dung nào là trọng tâm, trọng điểm, từ đó, xây dựng các tiêu chí để doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ. Có những nội dung chúng ta phải hỗ trợ thường xuyên và phải triển khai có bài bản, có tổ chức, huy động sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương, ví dụ như hỗ trợ về đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hỗ trợ về pháp lý, hỗ trợ về xúc tiến thương mại, hỗ trợ khởi nghiệp… Có những nội dung chúng ta phải hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm không dàn trải, ví dụ như hỗ trợ đổi mới sáng tạo, hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin, hỗ trợ vườn ươm doanh nghiệp, bởi nguồn lực nhà nước không thể đủ để hỗ trợ tất cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phát huy được vai trò của các tổ chức hội, hiệp hội đại diện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo được bước đột phá về cơ chế để phát huy sự tham gia của các tổ chức đại diện doanh nghiệp cùng tham gia vào xây dựng và thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, coi việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là việc của Nhà nước .

TS. Nguyễn Văn Thân
Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Theo dõi chúng tôi trên: