Thứ ba 25/08/2026 09:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý trong việc tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật

Năm 2014 có 64/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; năm 2015 có 108/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; năm 2016 có 113/159 xã, phường, thị trấn đủ điều kiện đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Sau 01 năm thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg thì việc xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã được tiếp tục triển khai nghiêm túc, đồng bộ, tích cực và kết quả là năm 2017 đã có 123/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Trong đó, các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới đều đạt tiêu chí về chuẩn tiếp cận pháp luật ở mức cao.

Công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm quyền được thông tin pháp luật, quyền được tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; khắc phục những vướng mắc, bất cập từ thực trạng tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; để người dân thực hiện quyền giám sát, đánh giá về trách nhiệm, chất lượng, thái độ của công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ; nâng cao hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác này. Theo đó, ngày 24/01/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg) và Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 ban hành quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 619/QĐ-TTg).

Quảng Bình là một trong 05 địa phương được lựa chọn để thí điểm thực hiện xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Dưới sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, Quảng Bình đã đạt được những kết quả bước đầu về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng và đổi mới hoạt động của một số nhiệm vụ quản lý nhà nước ở cơ sở, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ công chức trong thực thi công vụ với kết quả: Năm 2014 có 64/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; năm 2015 có 108/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; năm 2016 có 113/159 xã, phường, thị trấn đủ điều kiện đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Sau 01 năm thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg thì việc xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã được tiếp tục triển khai nghiêm túc, đồng bộ, tích cực và kết quả là năm 2017 đã có 123/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Trong đó, các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới đều đạt tiêu chí về chuẩn tiếp cận pháp luật ở mức cao.

Quá trình triển khai công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã có sự vào cuộc nghiêm túc, đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp xã. Trên cơ sở văn bản của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã cũng ban hành văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Theo đó, các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể các cấp căn cứ vào nhiệm vụ được phân công, nội dung của các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình để triển khai thực hiện. Sở Tư pháp cũng được giao nhiệm vụ tham mưu trực tiếp cho Ủy ban nhân dân tỉnh; theo dõi, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ này ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã.

Trợ giúp pháp lý là một hoạt động bổ trợ tư pháp đặc thù được Chính phủ giao cho Ngành Tư pháp với nhiệm vụ cung cấp dịch vụ tư vấn, bào chữa, đại diện ngoài tố tụng miễn phí để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, qua đó góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân; từng bước nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành Hiến pháp và pháp luật; góp phần cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Với ý nghĩa như vậy, Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg đã quy định 05 chỉ tiêu liên quan đến lĩnh vực trợ giúp pháp lý trong tổng số 41 chỉ tiêu tiếp cận pháp luật. Hiện nay, theo Quyết định số 619/QĐ-TTg thì bộ công cụ đánh giá đã giảm còn 05 tiêu chí với 25 chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, trong đó không quy định tiêu chí về trợ giúp pháp lý.

Trong quá trình thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg, để đảm bảo các chỉ tiêu về trợ giúp pháp lý được thực hiện tốt, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ chính trị của mình, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình đã triển khai nghiêm túc các hoạt động tham gia vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, cụ thể: Các chỉ tiêu trong tiêu chí về trợ giúp pháp lý cơ bản được chấm điểm ở mức cao: Các cộng tác viên trợ giúp pháp lý, luật sư tham gia trợ giúp pháp lý hoạt động tại những địa bàn cụ thể luôn tiếp nhận và thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, không có trường hợp từ chối trợ giúp pháp lý khi người thuộc diện được trợ giúp pháp lý có yêu cầu; Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn luôn phối hợp chặt chẽ với Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm để khảo sát nhu cầu trợ giúp pháp lý và tạo điều kiện thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động; các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý được triển khai sinh hoạt lồng ghép vào các hoạt động sinh hoạt cộng đồng... Năm 2017, mặc dù không còn tiêu chí về trợ giúp pháp lý nhưng với tính chất, đặc thù của mình thì hoạt động trợ giúp pháp lý đã đóng góp vai trò trong việc tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân trên địa bàn tỉnh, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu tiếp cận pháp luật có liên quan.

Vai trò của trợ giúp pháp lý được thể hiện thông qua hoạt động thực hiện tư vấn, hướng dẫn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng và tham gia bào chữa cho từng đối tượng cụ thể trong các vụ, việc cụ thể (từ năm 2013 đến tháng 6/2018, Trung tâm đã thực hiện trợ giúp pháp lý cho 6.013 đối tượng, trong đó: Tham gia tố tụng 659 vụ việc; đại diện ngoài tố tụng 32 vụ việc; tư vấn pháp luật 5.321 vụ việc; hòa giải 01 vụ việc); thông qua các hoạt động khác như phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động, thực hiện tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho bà con tại 563 điểm là các xã, thôn, bản, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, trung bình mỗi điểm đã thực hiện phổ biến, tuyên truyền 02 - 03 văn bản pháp luật quan trọng, mới, liên quan đến quyền lợi, chính sách của người dân, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trung tâm đã cấp phát miễn phí hơn 150.000 tờ rơi, tờ gấp pháp luật với nhiều nội dung thiết yếu liên quan đến đời sống của người dân; thực hiện in băng đĩa CD bằng tiếng Việt cấp phát cho 159/159 Ủy ban nhân dân cấp xã để tuyên truyền, phổ biến các lĩnh vực pháp luật phát trên hệ thống loa truyền thanh của cấp xã; thực hiện giải đáp vướng mắc pháp luật của người dân trong chuyên mục “Hỏi - đáp pháp luật” trên Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh; thực hiện chuyên mục “Giải đáp pháp luật” trên Bản tin Tư pháp và Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp… Trung tâm đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân; đồng thời, thông qua các vụ việc được trợ giúp pháp lý và các hoạt động khác đã tuyên truyền, phổ biến nhiều văn bản pháp luật cho nhân dân, tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật trong nhân dân, từ đó góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt có thể ngăn ngừa, kiềm chế, không để xảy ra trọng án, tội phạm và tệ nạn xã hội (ma túy, trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút) trên địa bàn; người dân biết và thực hiện được các quyền cơ bản của công dân như quyền được tiếp cận thông tin, quyền được lấy ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quyền được công khai đầy đủ và kịp thời các thủ tục hành chính, quyền được đề nghị hòa giải khi có mâu thuẫn, tranh chấp, quyền được tham gia ý kiến, bàn, quyết định trực tiếp và giám sát về các nội dung theo quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở; tránh sự tùy tiện, lạm quyền từ phía cơ quan, cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ (như trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết các thủ tục hành chính để bảo đảm sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp thông tin pháp luật, hòa giải cơ sở, thực hiện dân chủ ở cơ sở...).

Có thể khẳng định, hoạt động trợ giúp pháp lý có vai trò không nhỏ trong việc tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân, giáo dục ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; kịp thời tháo gỡ những mâu thuẫn, tranh chấp, vướng mắc, kiến nghị trong thi hành pháp luật, góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Bên cạnh đó, công tác trợ giúp pháp lý không những đem lại nhiều lợi ích cho người được trợ giúp pháp lý mà còn giúp các cơ quan chức năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân từ cơ sở, nhất là những nguyện vọng chính đáng của người nghèo và đối tượng chính sách, qua đó, Nhà nước sẽ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn trong việc thực hiện chức năng xã hội của mình, góp phần vào sự ổn định, phát triển của đất nước.

Trong thời gian tới, địa phương đang phấn đấu để đạt được các mục tiêu về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là “nâng cao nhận thức pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền được thông tin về pháp luật; kịp thời tháo gỡ mâu thuẫn, tranh chấp, vướng mắc, kiến nghị trong thi hành pháp luật trên địa bàn cấp xã. Tổ chức và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành Hiến pháp, pháp luật, quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã trong thực thi công vụ. Cải thiện điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, giải quyết thủ tục hành chính, phát huy dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân” theo Quyết định số 619/QĐ-TTg, thì cần thực hiện một số giải pháp như sau:

- Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tác động của công tác xây dựng, đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật. Trên cơ sở đó, xác định trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, đơn vị liên quan, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xây dựng xã, phường, thị trấn, bảo đảm việc tiếp cận pháp luật cho người dân gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh ở địa phương. Kết quả xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là tiêu chí đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới và phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh; đảng bộ, chính quyền cấp xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; đánh giá thi đua, khen thưởng hằng năm của chính quyền cấp xã.

- Hoàn thiện các quy định chưa phù hợp, bất cập trong Quyết định số 619/QĐ-TTg.

- Cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu sắc nội dung, nhiệm vụ, quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở đến toàn thể cán bộ, công chức trong cả hệ thống chính trị, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt, trực tiếp được giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, cơ quan, đơn vị và nhân dân.

- Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện quản lý nhà nước về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn nên cần phải phát huy tốt vai trò tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn của mình. Cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện nên cần phải tổ chức quán triệt, phổ biến một cách kịp thời, sâu rộng đến toàn thể cán bộ, công chức và nhân dân về nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Tạo được sự thống nhất đồng thuận của cấp ủy, chính quyền và nhân dân. Công chức tư pháp - hộ tịch đóng vai trò làm đầu mối, tuy nhiên, phải có sự phân công trách nhiệm cao cho các công chức khác vì nội dung các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhiều công chức khác nhau; đồng thời, cần phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể tham gia thực hiện xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

- Công khai, minh bạch công tác đánh giá tiếp cận pháp luật. Bố trí kinh phí, cơ sở vật chất đầy đủ, phù hợp. Thường xuyên kiểm tra để kịp thời khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc triển khai thực hiện; thực hiện khen thưởng, xử lý vi phạm, không phô trương, chạy đua, đánh giá không đúng với các tiêu chí đề ra.

- Tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức cấp xã. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động cơ quan hành chính các cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện các thủ tục hành chính; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.

- Đối với công tác trợ giúp pháp lý, các tổ chức trợ giúp pháp lý, những người thực hiện trợ giúp pháp lý cần nắm vững và xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý để góp phần xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Từ đó, nâng cao chất lượng các hoạt động trợ giúp pháp lý, đảm bảo 100% người dân khi có nhu cầu sẽ được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý tốt nhất.

Phan Thị Bích Thủy

Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: