Thứ sáu 30/01/2026 02:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế của Việt Nam và một số quốc gia

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng rất nhiều quan hệ có yếu tố nước ngoài phát sinh như quan hệ dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài.

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng rất nhiều quan hệ có yếu tố nước ngoài phát sinh như quan hệ dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài. Khi các bên chủ thể hoặc cơ quan nhà nước áp dụng pháp luật nước ngoài sẽ phải tuân thủ những nội dung nhất định. Bài viết trình bày khái quát và thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế của Việt Nam và một số quốc gia, từ đó đề xuất một số khuyến nghị trong việc quy định và áp dụng pháp luật nước ngoài ở Việt Nam.

1. Khái quát về quy định áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế

Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, các quan hệ pháp luật sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật quốc gia. Nhưng cùng với sự phát triển của hội nhập quốc tế, nhiều quan hệ có yếu tố nước ngoài xoay quanh các cá nhân, tổ chức được thiết lập như quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ kinh doanh thương mại và quan hệ dân sự... Lúc này, các cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia sẽ xem xét áp dụng pháp luật để giải quyết cho các quan hệ đó. Thông thường, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia sẽ xem xét các quy phạm xung đột trong pháp luật nước mình hoặc sự lựa chọn của các bên để từ đó áp dụng pháp luật nước ngoài giải quyết vụ việc. Khi áp dụng pháp luật nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý nhất định. Mỗi quốc gia sẽ có các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý về áp dụng luật nước ngoài khác nhau. Tuy nhiên, phạm vi cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài phải được xác định trên cơ sở chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia; đồng thời, bảo đảm hiệu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và pháp luật của nước mình[1].

Áp dụng pháp luật nước ngoài là việc cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia sẽ xem xét áp dụng quy định của pháp luật nước ngoài giải quyết cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, quan hệ tố tụng dân sự quốc tế.

Ở Việt Nam, các quy định của tư pháp quốc tế được thể hiện ở nhiều văn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Hàng hải năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Lao động năm 2019… Quy định áp dụng pháp luật nước ngoài nằm trong văn bản chung nhất là Bộ luật Dân sự năm 2015 tại các điều 664, 667, 669 và 670. Cụ thể, pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên. Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định trên thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.

Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó. Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định. Pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu đến không được áp dụng trong trường hợp: Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng. Trường hợp pháp luật nước ngoài không được áp dụng theo quy định thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.

Như vậy, việc áp dụng pháp luật nước ngoài ở Việt Nam được chia thành 03 trường hợp: (i) Khi có các quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế quy định; (ii) Khi quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia quy định áp dụng pháp luật nước ngoài; (iii) Khi các bên trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thỏa thuận lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài và đáp ứng điều kiện.

Tham khảo pháp luật của các quốc gia khác thấy rằng, Trung Quốc là quốc gia đã ban hành đạo luật chuyên biệt về tư pháp quốc tế, đó là Luật Áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được thông qua vào ngày 28/10/2010, có hiệu lực kể từ ngày 01/4/2011. Theo đó, Luật này quy định: Các bên có thể chọn luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật này (Điều 3). Trường hợp việc áp dụng pháp luật nước ngoài gây phương hại đến xã hội và lợi ích công cộng của pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ được áp dụng (Điều 5). Trong trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng cho mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và luật khác được thực hiện ở các khu vực khác nhau của quốc gia đó thì luật của nước có mối liên hệ chặt chẽ nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ được áp dụng (Điều 6). Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật nước ngoài cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không bao gồm các quy tắc xung đột của quốc gia đó (Điều 9) và pháp luật nước ngoài áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ được xác định bởi tòa án nhân dân có liên quan, trọng tài hoặc cơ quan hành chính. Trường hợp các bên đã chọn một pháp luật nước ngoài để áp dụng thì các bên sẽ cung cấp pháp luật của nước đó. Trường hợp pháp luật nước ngoài không thể được xác định hoặc pháp luật của quốc gia đó không có điều khoản liên quan thì pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ được áp dụng (Điều 10).

2. Thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế ở một số quốc gia

Trong thực tiễn, có rất ít trường hợp Tòa án Trung Quốc áp dụng pháp luật nước ngoài vì đa số đều bị dựa vào đoạn 2 Điều 10 Luật Áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Đơn cử như những trường hợp sau đây[2]:

Trường hợp 1: Tranh chấp giữa Haicheng Bangda International Logistics Co., Ltd. và Appellee Yantai Zhonglian Industrial Co., Ltd trong hợp đồng vận tải hàng hóa hàng hải. Các bên đã thể hiện trong vận đơn đồng ý áp dụng pháp luật Hoa Kỳ. Về vấn đề này, tòa sơ thẩm tuyên bố rằng, mặc dù bị đơn ủng hộ việc áp dụng luật của Hoa Kỳ, nhưng bị đơn đã không tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ và không nêu rõ luật nào của Hoa Kỳ nên được áp dụng. Tòa án phúc thẩm cũng cho rằng, mặc dù bị đơn trong phiên sơ thẩm ủng hộ việc áp dụng luật của Hoa Kỳ, nhưng không cung cấp các quy định của luật pháp Hoa Kỳ cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, do đó các quy định của luật pháp Hoa Kỳ không thể được xác định.

Trường hợp 2: Trong trường hợp tranh chấp hợp đồng lao động giữa Long Zhongyong, Yongya Enterprise và Banghu Shipping Co., Ltd. Tòa sơ thẩm xác định rằng, mặc dù hợp đồng quy định rằng luật Singapore được áp dụng, bị đơn không xuất hiện tại tòa để tham gia vụ kiện. Nguyên đơn yêu cầu áp dụng luật pháp Trung Quốc, vì vậy luật pháp Trung Quốc nên được áp dụng để giải quyết các tranh chấp thực chất.

Trường hợp 3: Trong trường hợp vụ việc Zhejiang Shao Shangwai Chuzi số 76 năm 2010. Tòa án tuyên bố: Các bên đồng ý áp dụng luật của Bang New York, Hoa Kỳ và các bên nên cung cấp luật có liên quan. Hiện tại, nguyên đơn và bị đơn chưa cung cấp cho Tòa án này các luật nước ngoài đã thỏa thuận, luật Trung Quốc nên áp dụng cho trường hợp này.

Như vậy, đây là các trường hợp điển hình của việc pháp luật nước ngoài không thể xác định được để từ đó tòa án sẽ áp dụng pháp luật của Trung Quốc. Tháng 5/2015, Trung Quốc đã thành lập các trung tâm nghiên cứu về pháp luật nước ngoài như Trung tâm nghiên cứu chứng nhận luật nước ngoài do Tòa án nhân dân tối cao cùng với Đại học Khoa học chính trị và luật thành lập. Các trung tâm này sẽ đóng vai trò hỗ trợ trong việc cung cấp pháp luật nước ngoài, chứng nhận nội dung pháp luật nước ngoài.

Tương tự như Trung Quốc, ở Philippines, nếu luật pháp nước ngoài không được chứng minh thì các Tòa án Philippines sẽ áp dụng pháp luật của Philippines và cho rằng luật pháp nước ngoài tương tự như luật pháp của Philippines theo học thuyết giả định. Các quy tắc lựa chọn luật luôn bao gồm một mối quan hệ thực tế (chẳng hạn như quyền tài sản, yêu cầu hợp đồng) và một sự kiện hoặc địa điểm, chẳng hạn như nơi cử hành, nơi biểu diễn hoặc nơi xảy ra sai phạm.

Ở Hoa Kỳ, Tòa án không bắt buộc phải áp dụng pháp luật nước ngoài khi đương sự không khởi xướng (nêu ra). Thông báo việc khởi xướng áp dụng pháp luật nước ngoài cho bên đối tụng là nghĩa vụ bắt buộc. Nếu đương sự khởi xướng vi phạm nghĩa vụ này, vụ việc sẽ được giải quyết bởi luật quốc nội. Trong trường hợp không bên đương sự nào khởi xướng áp dụng pháp luật nước ngoài, Tòa án suy đoán rằng các bên từ bỏ quyền yêu cầu áp dụng pháp luật nước ngoài. Như vậy, đương nhiên luật nơi xét xử được áp dụng. Trong vụ Clarkson Co. v. Shaheen, 660 F.2d 506, 512 n.4 (2d Cir. 1981), Tòa án áp dụng luật của bang New York vì không đương sự nào đặt vấn đề luật của Canada được áp dụng để giải quyết vụ việc. Nếu nội dung của pháp luật nước ngoài không được chứng minh, cũng giống như các Tòa án ở Anh, Tòa án ở Hoa Kỳ áp dụng nguyên tắc suy đoán các hệ thống pháp luật tương tự. Trong vụ Loebig v. Larucci 572 F.2d 81 (2d Cir. 1978), cả nguyên đơn và bị đơn đều là công dân Hoa Kỳ, nguyên đơn gặp tai nạn tại Đức khi đang là hành khách trên xe mô tô được sở hữu và vận hành bởi bị đơn. Mặc dù, trong trường hợp này Tòa án xác định luật áp dụng là luật Đức. Tuy nhiên, do cả hai bên không thể chứng minh được nội dung của pháp luật Đức nên thẩm phán đã hướng dẫn bồi thẩm đoàn áp dụng pháp luật của bang New York[3].

Trong thực tiễn xét xử ở Việt Nam, việc áp dụng pháp luật nước ngoài rất ít được Tòa án áp dụng. Tòa án ở Việt Nam sẽ tiến hành áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết hầu hết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quy định mới chỉ dừng lại ở quy định chung, khung khuôn mẫu khi xác định các trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài.

3. Một số khuyến nghị về việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế ở Việt Nam

Để bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài một cách hợp lý, Việt Nam cần phải ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có hướng dẫn quy định về việc áp dụng pháp luật nước ngoài, cụ thể:

Thứ nhất, bổ sung quy định về cách thức xác định, tìm kiếm pháp luật nước ngoài dựa vào các nguồn như: Do các bên cung cấp; được cung cấp bởi các tổ chức dịch vụ pháp lý; được cung cấp bởi cơ quan trung ương của bên ký kết khác đã tham gia điều ước quốc tế với Việt Nam; được cung cấp bởi Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán của Việt Nam tại các quốc gia liên quan; được cung cấp bởi Đại sứ quán của nước liên quan ở Việt Nam.

Thứ hai, bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể về các trường hợp “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” và “nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng” tại Điều 670 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án nên có sự giải thích về nội dung về việc không áp dụng pháp luật nước ngoài để đảm bảo tính hợp lý, công bằng, rõ ràng hơn nữa của bản án.

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có đặc trưng khác biệt với các quan hệ thông thường trong nước. Cho nên, pháp luật nước ngoài sẽ có thể được áp dụng đề điều chỉnh quan hệ đặc biệt này. Vì thế, việc quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài cần được xem xét, bổ sung, đánh giá để việc áp dụng được hợp lý, đảm bảo quyền lợi của các bên chủ thể. Để làm được điều này, trong thời gian tới, cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

ThS. Phạm Thị Hồng Mỵ
Khoa Luật - Đại học Sài Gòn


[1] Bộ Tư pháp (2016), Áp dụng pháp luật nuớc ngoài tại Việt Nam - Những lợi ích và bất lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên năm 1980

[2] Đinh Xiaowei, Wang Jiwen (2016), Về vấn đề không cung cấp luật nước ngoài trong việc điều tra luật nước ngoài

[3] Đỗ Minh Tuấn (2014), Xác định nội dung pháp luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp dân sự quốc tế bởi Tòa án, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 70.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: