Thứ ba 26/05/2026 14:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định đối tượng khiếu nại hành chính - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Bài viết về vấn đề xác định đối tượng khiếu nại hành chính, trong đó, tác giả có so sánh với đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính và đưa ra các giải pháp hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết về vấn đề xác định đối tượng khiếu nại hành chính, trong đó, tác giả có so sánh với đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính và đưa ra các giải pháp hoàn thiện.

Abstract: The article is about the problem of determining the object of administrative complaint, in which, the author compares with the object of lawsuit in an administrative case and offers complete solutions.

1. Những vấn đề lý luận chung về đối tượng khiếu nại hành chính

Khiếu nại hành chính là quyền của cá nhân được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Khiếu nại hành chính thể hiện ý chí của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi cho rằng hoạt động quản lý hành chính trái pháp luật hoặc không hợp lý. Nó là phương thức để họ bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm bởi hoạt động quản lý hành chính.

Theo khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.

Chủ thể khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, bị điều chỉnh bởi hành vi hành chính hoặc ban hành quyết định hành chính, bắt buộc phải thực hiện hoặc tuân theo. Họ tham gia vào hoạt động quản lý hành chính đó, khi bị yêu cầu thực hiện nội dung quản lý hành chính, họ không đồng ý vì cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính này có thể làm tổn hại đến quyền lợi hoặc ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Chính vì sự không đồng ý đó, họ có quyền thể hiện ý chí dưới hình thức yêu cầu người đã ban hành quyết định hoặc đã thực hiện hành vi hành chí đó phải xem xét lại quyết định hoặc hành vi hành chính của mình. Toàn bộ những hoạt động này được gọi dưới tên gọi là “hoạt động khiếu nại”. Ngoài khiếu nại về quyết định hành chinh hay hành vi hành chính thì họ có quyền khiếu nại đối với quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.

Như vậy, có thể hiểu đối tượng khiếu nại bao gồm: Quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.

Quyết định hành chính theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

Hành vi hành chính theo quy định tại khoản 9 Điều 2 Luật Khiếu nại là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Còn quyết định kỷ luật theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

1.1. Các dấu hiệu để nhận biết đối tượng khiếu nại

Thứ nhất, dấu hiệu nhận biết quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại bao gồm:

Chủ thể ban hành là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. Hiến pháp năm 2013 quy định các cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương gồm có Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ. Trong đó bộ, cơ quan ngang bộ (gọi tắt là cơ quan cấp bộ) là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương; là cơ quan chuyên môn được tổ chức theo chế độ thủ trưởng, đứng đầu là các Bộ trưởng hay Chủ nhiệm Ủy ban. Các cơ quan cấp bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành - quản lý chức năng, quản lý liên ngành hay đối với lĩnh vực - quản lý tổng hợp trên phạm vi toàn quốc. Cơ quan hành chính nhà nước địa phương là những cơ quan hành chính nhà nước thay mặt chính quyền ở địa phương. Người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền (cán bộ, công chức) được pháp luật quy định có thể thay mặt tập thể ký ban hành các quyết định hành chính.

Về nội dung: Quyết định hành chính là văn bản được ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, là hoạt động thực thi quyền hành pháp, tức là hoạt động chấp hành và điều hành; để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường… nhằm duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân.

Tính cá biệt của quyết định hành chính: Quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quyết định hành chính là loại văn bản do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình để giải quyết những vụ việc cụ thể, đối với những đối tượng cụ thể. Ban hành quyết định hành chính cá biệt là hình thức hoạt động chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà nước, đặc biệt là cấp cơ sở. Nội dung của nó là áp dụng một hay nhiều quy phạm pháp luật vào một trường hợp cụ thể, trong những điều kiện cụ thể. Việc ban hành văn bản cá biệt làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Chính vì thế, nó sẽ có thể làm phát sinh quyền lợi, nghĩa vụ nên có thể bị khiếu nại và trở thành đối tượng khiếu nại hành chính

Thứ hai, dấu hiệu để nhận biết hành vi hành chính là đối tượng khiếu nại bao gồm:

Về mặt chủ thể thì hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. Tức là, cùng là những chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính. Có thể là cơ quan hành chính nhà nước theo cấp từ trung ương đến địa phương hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan đó.

Tuy nhiên, về mặt nội dung thì lại thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động (thực hiện hoặc không thực hiện) nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Pháp luật quy định khi thực hiện hoạt động quản lý hành chính của mình thì những chủ thể trên đã không làm hoặc làm không đúng chức năng nhiệm vụ mà pháp luật bắt buộc họ phải làm dẫn tới ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân nên họ có quyền khiếu nại về những hành vi hành chính này. Để xác định khi nào là nhiệm vụ, công vụ của cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thì cần căn cứ vào quy định của pháp luật chuyên ngành cho phép họ được thực hiện hoặc phải thực hiện chức năng nhiệm vụ gì. Tùy theo từng lĩnh vực chuyên ngành mà xác định hành vi hành chính của cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính cho chính xác để hoạt động khiếu nại được thụ lý, giải quyết.

Thứ ba, dấu hiệu để nhận biết quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là đối tượng khiếu nại:

Theo quy định của Điều 78 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) các hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm. Hình thức cách chức chỉ áp dụng đối với cán bộ được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ. Việc áp dụng các hình thức kỷ luật, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật, điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Các hình thức kỷ luật đối với công chức được quy định tại Điều 79 Luật Cán bộ công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2022), có những hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Với hình thức kỷ luật giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; hình thức hạ bậc lương chỉ áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Dấu hiệu quan trọng nhất và để xác định các đối tượng khiếu nại trên cần xác định xem chúng có xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó một cách trực tiếp hay không.

Với ba loại đối tượng khiếu nại hành chính nêu trên cũng sẽ bị loại trừ theo quy định tại Điều 11 Luật Khiếu nại đối với “các khiếu nại không được thụ lý giải quyết”, đó là: Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới. Những loại quyết định hành chính, hành vi hành chính này dù có chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của một quyết định hành chính, hành vi hành chính thì cũng không là đối tượng khiếu nại vì nó mang tính chất quản lý hành chính nội bộ trong cơ quan, tổ chức đó. Loại quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng không là đối tượng khiếu nại vì đây là loại quyết định mang tính quy phạm để áp dụng chung cho toàn xã hội nên không thể khiếu nại. Nếu muốn thay đổi quyết định mang tính chất quy phạm thì phải thực hiện theo trình tự thủ tục xây dựng luật, nghị định, thông tư… Loại thứ ba là quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định cũng không là đối tượng khiếu nại. Đây là loại quyết định hành chính mang tính chất loại trừ của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, là những vấn đề “mang tính chất sống còn” của một quốc gia nên nó được Chính phủ quy định thành danh mục riêng và nếu đã thuộc danh mục này thì sẽ không là đối tượng khiếu nại.

Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại thì dù xác định là đối tượng khiếu nại nhưng cũng không được thụ lý giải quyết. Bởi vì, người khiếu nại không thể khiếu nại đối với một quyết định hành chính, hành vi hành chính khi nó không xâm hại trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình, trừ trường hợp họ khiếu nại cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự theo thủ tục mà họ sẽ là người đại diện theo pháp luật…

Quyết định hành chính, hành vi hành chính không được thụ lý, giải quyết khi việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án, trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án. Quy định này nhằm hạn chế cùng một sự việc nhưng cả hai cơ quan cùng thụ lý giải quyết là Tòa án và cơ quan hành chính nhà nước, sẽ dẫn tới chồng chéo trong giải quyết nội dung sự việc. Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định khi đồng thời vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện thì người đó chỉ có thể lựa chọn hoặc khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc khởi kiện tại Tòa án. Đồng thời, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết việc khởi kiện vụ án hành chính khi cam kết không đồng thời khiếu nại theo thủ tục hành chính.

1.2. So sánh giữa đối tượng khiếu nại hành chính với đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính

Theo quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì Tòa án sẽ chỉ thụ lý giải quyết những loại việc sau: (i) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính (trừ các quyết định, hành vi sau đây: Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật; quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng; quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức). (ii). Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống. (iii) Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. (iv) Khiếu kiện danh sách cử tri.

Đây là những loại việc được xác định là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính. Như vậy, có những loại việc quy định là đối tượng khởi kiện sẽ trùng với đối tượng khiếu nại, có những loại việc thì sẽ rộng hơn nhưng cũng có những loại việc sẽ thu hẹp lại. Ví dụ: Với đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính, hành vi hành chính thì việc xác định đối tượng khởi kiện sẽ rộng hơn đối tượng khiếu nại. Bởi vì, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì đối tượng khởi kiện khi được ban hành dưới dạng quyết định hành chính hoặc thực hiện dưới dạng hành vi hành chính thì được mở rộng hơn khi chủ thể ban hành quyết định hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức được cơ quan hành chính nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý chuyên ngành đó theo quy định của pháp luật. Tương tự như vậy, đối với hành vi hành chính cũng được mở rộng hơn khi chủ thể có thẩm quyền thực hiện hành vi hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức được trao quyền thực hiện hành vi hành chính đó theo quy định của pháp luật.

Với đối tượng khởi kiện là quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì đối tượng khởi kiện bị thu hẹp trong phạm vi quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống. Còn với đối tượng khiếu nại thì sẽ là quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức. Quyết định kỷ luật với cán bộ có 04 hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm; còn đối với công chức có 06 hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Duy nhất chỉ có quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống là trở thành đối tượng khởi kiện, còn lại chỉ là đối tượng khiếu nại và sẽ không được phép khởi kiện vụ án hành chính. Phạm vi khởi kiện đã bị thu hẹp. Tuy nhiên, điều này sẽ mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về thời hiệu khởi kiện là quyết định giải quyết khiếu nại cũng là đối tượng khởi kiện vì bản thân nó là quyết định hành chính.

Với đối tượng khởi kiện là quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì trình tự khiếu nại là điều kiện bắt buộc, tiền tố tụng. Đối tượng khiếu nại là quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Thực ra, đây là loại quyết định theo trình tự thủ tục xử lý vụ việc cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại. Nó chỉ mang yếu tố quản lý nhà nước khi có việc khiếu nại quyết định xử lý cạnh tranh này và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Quyết định này trở thành đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính.

2. Thực trạng và giải pháp về việc xác định đối tượng khiếu nại hành chính trong hoạt động quản lý hành chính hiện nay

Trong thực tế, việc xác định đối tượng khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc, cụ thể:

Thứ nhất, chưa có sự thống nhất về khái niệm quyết định hành chính, hành vi hành chính. Theo quy định của Luật Khiếu nại thì quyết định hành chính, hành vi hành chính chỉ là quyết định và hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. Còn khái niệm về quyết định hành chính, hành vi hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì còn mở rộng chủ thể ban hành, thực hiện hành vi là cá nhân, cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó. Theo quy định của pháp luật chuyên ngành cụ thể sẽ giao quyền cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoạt động quản lý hành chính nên hoạt động quản lý hành chính đó sẽ được xem là đối tượng khởi kiện. Nếu đã là đối tượng khởi kiện thì nó nên là đối tượng khiếu nại vì họ có quyền có ý kiến khi cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khi người bị xâm hại thể hiện ý chí phản ứng ngay đối với người ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bằng hình thức khiếu nại trực tiếp thì người đó có cơ hội để xem xét, khắc phục kịp thời; giảm thiểu thời gian, chi phí tố tụng khi khởi kiện ra tòa án nhân dân. Mặc dù quy định như vậy, nhưng trong thực tế, cá nhân, cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền trong cơ quan tổ chức được giao thực hiện hoạt động quản lý vẫn tiến hành giải quyết khiếu nại khi có đơn khiếu nại. Chính vì vậy, cần hoàn thiện quy định của pháp luật, đó là đồng nhất khái niệm về quyết định hành chính, hành vi hành chính của Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Thứ hai, nếu đã quy định đối tượng khiếu nại là quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức thì nên quy định mở rộng đối tượng khởi kiện cũng là quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức. Vì hình thức kỷ luật cán bộ, hình thức kỷ luật công chức có rất nhiều hình thức. Đã bị kỷ luật, tức là quyền, lợi ích hợp pháp có thể sẽ bị xâm hại nên ngoài việc họ có quyền khiếu nại thì nên cho họ quyền khởi kiện. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chỉ cho khởi kiện đối với quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống. Giải pháp đặt ra là hoàn thiện quy định pháp luật, cần bổ sung trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015, mở rộng thêm đối tượng khởi kiện là quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức.

Thứ ba, nên mở rộng đối tượng khiếu nại ngoài việc được khiếu nại quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức thì cán bộ, công chức cũng có quyền khiếu nại đối với các quyết định quản lý hành chính khác của cơ quan hành chính nhà nước như: Quyết định nâng lương, hạ bậc lương, cho hưởng hoặc cắt chế độ chính sách… Đây là các quyết định hành chính có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức. Đây là quyền lợi thiết thực khi cán bộ, công chức được hưởng các chế độ liên quan đến lương, chính sách… Giải pháp đưa ra đối với vướng mắc này là quy định thêm trong điều luật về đối tượng khiếu nại.

Thứ tư, mở rộng quyền khiếu nại đối với văn bản quy phạm pháp luật. Pháp luật khiếu nại giới hạn chỉ cho phép công dân, tổ chức khiếu nại đối với các quyết định hành chính cá biệt ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, chưa cho phép khiếu nại đối với các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp luật khiếu nại cần sửa đổi, bổ sung cho phép công dân có quyền khiếu nại đối với các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương ban hành khi cho rằng văn bản đó trái pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Ví dụ, quyết định về khung giá đất tại địa phương… vấn đề này là cần thiết và hợp lý, đây là những vấn đề pháp lý liên quan đến văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại gây bức xúc và khiếu nại, khiếu kiện nhiều khi việc áp dụng khung giá đất bằng việc ban hành các quyết định hành chính cá biệt làm căn cứ bồi thường, giải phóng mặt bằng và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

ThS. Nguyễn Thị Thúy Hà
Học viện Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.
Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Tình trạng tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại ngày càng phổ biến, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý số dư các tài khoản này. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm tài khoản không xác định được chủ sở hữu, đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó, đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, minh bạch điều chỉnh các tài khoản này.
Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: