Thứ sáu 13/03/2026 07:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và một số góp ý hoàn thiện

Bài viết tập trung phân tích quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), đồng thời chỉ ra những hạn chế còn tồn tại và từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện về vấn đề này.

Tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ đất đai. Để ngăn ngừa nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị và duy trì khối đại đoàn kết toàn dân, vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Theo đó, để phục vụ cho việc giải quyết các tranh chấp đất đai một cách kịp thời, hiệu quả thì việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp này một cách phù hợp là điều rất quan trọng. Hiện nay, theo quy định tại Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có sự khác biệt so với Luật Đất đai năm 2013, theo đó, với tinh thần đổi mới trong cách tiếp cận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thì chỉ có Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp về đất đai. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Vì vậy, để hướng tới sự thống nhất cũng như nhằm góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), việc tiếp tục đưa ra các ý kiến góp ý về vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong bối cảnh hiện nay là điều quan trọng và cấp thiết.

1. Quy định về xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Thứ nhất, quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án và của Ủy ban nhân dân.

Giải quyết tranh chấp về đất đai là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành, khi phát sinh tranh chấp đất đai, Nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải[1]. Trong trường hợp tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng không thành thì đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp nếu đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; trường hợp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là: (i) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định; (ii) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự[2].

Về vấn đề này, khoản 1 Điều 225 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định khác: “Tranh chấp đất đai, tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất để làm căn cứ cho Tòa án nhân dân giải quyết theo thẩm quyền khi được yêu cầu”. Theo cách quy định này, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, việc sửa đổi thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo hướng chỉ trao cho Tòa án không hẳn sẽ giải quyết được các vấn đề bất cập đã và đang tồn tại hiện nay trong giải quyết tranh chấp đất đai, mà ngược lại, còn tạo thêm gánh nặng cho Ngành Tòa án. Bởi vì, trên thực tế hiện nay, Tòa án đang dần trở nên bị quá tải bởi số lượng các tranh chấp trải dài trên khắp các lĩnh vực cần phải giải quyết ngày càng lớn, cũng như độ phức tạp ngày một tăng cao. Do đó, việc giao toàn bộ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án cần tiếp tục được xem xét một cách cẩn trọng trên cơ sở phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Trọng tài thương mại.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết” và tại điểm c khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam ghi nhận trường hợp: “Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam”, có thể hiểu, theo tinh thần của pháp luật hiện hành, bất động sản là một trong những đối tượng thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Dựa trên mục đích bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và cũng như theo Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay hoặc thuộc về Tòa án hoặc Ủy ban nhân dân. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án nhân dân được xem là phương thức phổ biến và lâu đời nhất. Việc giải quyết thông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét xử để đưa ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên tham gia tranh chấp, là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước về đất đai có những điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản án đã nêu. Ngoài ra, theo tổ chức bộ máy nhà nước thì Tòa án được tổ chức và có cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các phán quyết của Tòa án bảo đảm sự công bằng, khách quan[3].

Tuy nhiên, trên thực tế, các vụ án tranh chấp đất đai luôn mất rất nhiều thời gian để giải quyết. Thêm nữa, đối tượng bất động sản hiện nay còn xuất hiện nhiều trong các mối quan hệ thương mại. Tranh chấp, mâu thuẫn này diễn ra không phải vì tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai[4] mà cơ bản liên quan đến mục đích thương mại mà trong đó đối tượng là bất động sản. Đối với các thương nhân, nhà đầu tư… trong mối quan hệ kinh doanh, tính hiệu quả về thời gian và chi phí luôn được ưu tiên, trong khi đó, việc giao thẩm quyền cho cơ quan có thẩm quyền nhất định giải quyết vô hình trung đã tạo ra khối lượng công việc lớn dẫn đến thời gian giải quyết kéo dài và chi phí tăng cao. Điều này không chỉ gián tiếp làm ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế trong nước mà còn giảm thu hút đầu tư.

Trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), tại khoản 2 Điều 225 đã có sự thay đổi: “Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc do Trọng tài thương mại giải quyết theo quy định của pháp luật trọng tài thương mại”. Khác với những loại tranh chấp đất đai được hiểu là tranh chấp hướng về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất cần Tòa án nhân dân hay Ủy ban nhân dân giải quyết như hiện nay, tranh chấp đất đai phát sinh từ hoạt động thương mại lại hướng đến mục tiêu cuối cùng là về thương mại có liên quan đến đất đai mà những vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại là chuyên môn của Trọng tài thương mại. Vì vậy, việc phân chia thẩm quyền cho Trọng tài thương mại đối với những loại tranh chấp như vậy sẽ giúp san sẻ “gánh nặng” với Tòa án nhân dân. Hơn nữa, theo chúng tôi, quy định này là hợp lý, bởi vì, Trọng tài thương mại là phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của thương nhân, nhà đầu tư… trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay.

2. Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Để góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cũng như nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, theo chúng tôi, thay vì trao hết thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án như Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) thì cần giữ nguyên cách quy định như trong Luật Đất đai năm 2013; đồng thời nên có thêm những văn bản hướng dẫn cụ thể về quá trình thực hiện và giám sát khi có sự lựa chọn giải quyết tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Việc đưa ra kiến nghị nêu trên xuất phát từ hai lý do sau:

Một là, trên thực tế hiện nay, các tranh chấp đất đai được Tòa án giải quyết sẽ bảo đảm sự khách quan, công bằng, chính xác hơn do cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại các cơ quan nhà nước hiện nay thường là kiêm nhiệm, trình độ hiểu biết, áp dụng pháp luật trên thực tiễn chưa cao và pháp luật đất đai hiện nay chưa xác lập được cơ chế phù hợp để kiểm soát, giám sát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của các cơ quan nhà nước dù ghi nhận đất đai thuộc chủ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu[5]. Tuy nhiên, không phải vì thế mà loại bỏ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân, vì Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính có chức năng quản lý nhà nước về đất đai nên việc thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan đến nguồn gốc đất, đến quá trình sử dụng đất rất thuận lợi, do các hồ sơ, tài liệu này được lưu giữ tại cơ quan này. Cơ chế giải quyết thông qua Ủy ban nhân dân có thủ tục đơn giản hơn, người dân không phải nộp lệ phí. Dự thảo quy định theo hướng bỏ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân là thu hẹp phạm vi quyền của người dân, đã bỏ đi một cơ chế giải quyết có tính linh hoạt và ưu việt riêng. Hơn nữa, theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã nêu rõ phương châm “giải quyết triệt để tranh chấp về đất đai từ cơ sở, tránh vượt cấp lên Trung ương”. Do đó, việc bỏ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân trong Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) là chưa phù hợp.

Hai là, việc giao hết thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về cho Tòa án sẽ làm gia tăng số lượng vụ việc tranh chấp đất đai mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết. Điều này không những không thể giải quyết triệt để được thực trạng các tranh chấp đất đai bị kéo dài mà thậm chí còn đặt nặng lên “vai” Tòa án nhiều trách nhiệm, từ đó khó tránh khỏi những sơ suất trong quá trình tư pháp. Chính vì vậy, việc chuyển toàn bộ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án là không phù hợp, không khả thi và sẽ kéo dài thời gian giải quyết, mất nhiều thời gian, kinh phí cho các bên tham gia giải quyết, trong khi vụ việc đã có thể kết thúc ngay từ những buổi làm việc tại Ủy ban nhân dân.

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Nhà nước cần nhanh chóng từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai nói chung và các quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai nói riêng để từ đó góp phần nâng cao công tác thực thi pháp luật, tạo sự công bằng đối với toàn bộ những chủ thể sử dụng đất. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về đất đai ở nước ta còn có những hạn chế nhất định, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập. Do đó, các nhà làm luật cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn xã hội dựa trên tinh thần kế thừa giá trị của văn bản luật trước đó, góp phần hạn chế tranh chấp, bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của các bên cũng như nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.

ThS. Đỗ Thị Lan Anh

Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh

ThS. Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Điều 202 Luật Đất đai năm 2013.

[2]. Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Minh Tuấn, Vướng mắc, bất cập, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự, https://tapchitoaan.vn/vuong-mac-bat-cap-kien-nghi-hoan-thien-phap-luat-ve-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-theo-thu-tuc-to-tung-dan-su, truy cập ngày 20/5/2023.

[4]. Lê Thị Bích Chi, Nguyễn Thị Loan, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án: Một số bất cập và kiến nghị, http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211536/Tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-cua-toa-an—mot-so-bat-cap-va-kien-nghi.html, truy cập ngày 20/5/2023.

[5]. Minh Tuấn, Tlđd.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: