Thứ bảy 16/05/2026 12:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và một số góp ý hoàn thiện

Bài viết tập trung phân tích quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), đồng thời chỉ ra những hạn chế còn tồn tại và từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện về vấn đề này.

Tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ đất đai. Để ngăn ngừa nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị và duy trì khối đại đoàn kết toàn dân, vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Theo đó, để phục vụ cho việc giải quyết các tranh chấp đất đai một cách kịp thời, hiệu quả thì việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp này một cách phù hợp là điều rất quan trọng. Hiện nay, theo quy định tại Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có sự khác biệt so với Luật Đất đai năm 2013, theo đó, với tinh thần đổi mới trong cách tiếp cận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thì chỉ có Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp về đất đai. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Vì vậy, để hướng tới sự thống nhất cũng như nhằm góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), việc tiếp tục đưa ra các ý kiến góp ý về vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong bối cảnh hiện nay là điều quan trọng và cấp thiết.

1. Quy định về xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Thứ nhất, quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án và của Ủy ban nhân dân.

Giải quyết tranh chấp về đất đai là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành, khi phát sinh tranh chấp đất đai, Nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải[1]. Trong trường hợp tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng không thành thì đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp nếu đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; trường hợp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là: (i) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định; (ii) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự[2].

Về vấn đề này, khoản 1 Điều 225 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định khác: “Tranh chấp đất đai, tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất để làm căn cứ cho Tòa án nhân dân giải quyết theo thẩm quyền khi được yêu cầu”. Theo cách quy định này, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, việc sửa đổi thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo hướng chỉ trao cho Tòa án không hẳn sẽ giải quyết được các vấn đề bất cập đã và đang tồn tại hiện nay trong giải quyết tranh chấp đất đai, mà ngược lại, còn tạo thêm gánh nặng cho Ngành Tòa án. Bởi vì, trên thực tế hiện nay, Tòa án đang dần trở nên bị quá tải bởi số lượng các tranh chấp trải dài trên khắp các lĩnh vực cần phải giải quyết ngày càng lớn, cũng như độ phức tạp ngày một tăng cao. Do đó, việc giao toàn bộ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án cần tiếp tục được xem xét một cách cẩn trọng trên cơ sở phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Trọng tài thương mại.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết” và tại điểm c khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam ghi nhận trường hợp: “Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam”, có thể hiểu, theo tinh thần của pháp luật hiện hành, bất động sản là một trong những đối tượng thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Dựa trên mục đích bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và cũng như theo Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay hoặc thuộc về Tòa án hoặc Ủy ban nhân dân. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án nhân dân được xem là phương thức phổ biến và lâu đời nhất. Việc giải quyết thông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét xử để đưa ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên tham gia tranh chấp, là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước về đất đai có những điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản án đã nêu. Ngoài ra, theo tổ chức bộ máy nhà nước thì Tòa án được tổ chức và có cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các phán quyết của Tòa án bảo đảm sự công bằng, khách quan[3].

Tuy nhiên, trên thực tế, các vụ án tranh chấp đất đai luôn mất rất nhiều thời gian để giải quyết. Thêm nữa, đối tượng bất động sản hiện nay còn xuất hiện nhiều trong các mối quan hệ thương mại. Tranh chấp, mâu thuẫn này diễn ra không phải vì tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai[4] mà cơ bản liên quan đến mục đích thương mại mà trong đó đối tượng là bất động sản. Đối với các thương nhân, nhà đầu tư… trong mối quan hệ kinh doanh, tính hiệu quả về thời gian và chi phí luôn được ưu tiên, trong khi đó, việc giao thẩm quyền cho cơ quan có thẩm quyền nhất định giải quyết vô hình trung đã tạo ra khối lượng công việc lớn dẫn đến thời gian giải quyết kéo dài và chi phí tăng cao. Điều này không chỉ gián tiếp làm ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế trong nước mà còn giảm thu hút đầu tư.

Trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), tại khoản 2 Điều 225 đã có sự thay đổi: “Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc do Trọng tài thương mại giải quyết theo quy định của pháp luật trọng tài thương mại”. Khác với những loại tranh chấp đất đai được hiểu là tranh chấp hướng về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất cần Tòa án nhân dân hay Ủy ban nhân dân giải quyết như hiện nay, tranh chấp đất đai phát sinh từ hoạt động thương mại lại hướng đến mục tiêu cuối cùng là về thương mại có liên quan đến đất đai mà những vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại là chuyên môn của Trọng tài thương mại. Vì vậy, việc phân chia thẩm quyền cho Trọng tài thương mại đối với những loại tranh chấp như vậy sẽ giúp san sẻ “gánh nặng” với Tòa án nhân dân. Hơn nữa, theo chúng tôi, quy định này là hợp lý, bởi vì, Trọng tài thương mại là phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của thương nhân, nhà đầu tư… trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay.

2. Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Để góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cũng như nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, theo chúng tôi, thay vì trao hết thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án như Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) thì cần giữ nguyên cách quy định như trong Luật Đất đai năm 2013; đồng thời nên có thêm những văn bản hướng dẫn cụ thể về quá trình thực hiện và giám sát khi có sự lựa chọn giải quyết tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Việc đưa ra kiến nghị nêu trên xuất phát từ hai lý do sau:

Một là, trên thực tế hiện nay, các tranh chấp đất đai được Tòa án giải quyết sẽ bảo đảm sự khách quan, công bằng, chính xác hơn do cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại các cơ quan nhà nước hiện nay thường là kiêm nhiệm, trình độ hiểu biết, áp dụng pháp luật trên thực tiễn chưa cao và pháp luật đất đai hiện nay chưa xác lập được cơ chế phù hợp để kiểm soát, giám sát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của các cơ quan nhà nước dù ghi nhận đất đai thuộc chủ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu[5]. Tuy nhiên, không phải vì thế mà loại bỏ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân, vì Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính có chức năng quản lý nhà nước về đất đai nên việc thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan đến nguồn gốc đất, đến quá trình sử dụng đất rất thuận lợi, do các hồ sơ, tài liệu này được lưu giữ tại cơ quan này. Cơ chế giải quyết thông qua Ủy ban nhân dân có thủ tục đơn giản hơn, người dân không phải nộp lệ phí. Dự thảo quy định theo hướng bỏ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân là thu hẹp phạm vi quyền của người dân, đã bỏ đi một cơ chế giải quyết có tính linh hoạt và ưu việt riêng. Hơn nữa, theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã nêu rõ phương châm “giải quyết triệt để tranh chấp về đất đai từ cơ sở, tránh vượt cấp lên Trung ương”. Do đó, việc bỏ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân trong Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) là chưa phù hợp.

Hai là, việc giao hết thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về cho Tòa án sẽ làm gia tăng số lượng vụ việc tranh chấp đất đai mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết. Điều này không những không thể giải quyết triệt để được thực trạng các tranh chấp đất đai bị kéo dài mà thậm chí còn đặt nặng lên “vai” Tòa án nhiều trách nhiệm, từ đó khó tránh khỏi những sơ suất trong quá trình tư pháp. Chính vì vậy, việc chuyển toàn bộ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án là không phù hợp, không khả thi và sẽ kéo dài thời gian giải quyết, mất nhiều thời gian, kinh phí cho các bên tham gia giải quyết, trong khi vụ việc đã có thể kết thúc ngay từ những buổi làm việc tại Ủy ban nhân dân.

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Nhà nước cần nhanh chóng từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai nói chung và các quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai nói riêng để từ đó góp phần nâng cao công tác thực thi pháp luật, tạo sự công bằng đối với toàn bộ những chủ thể sử dụng đất. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về đất đai ở nước ta còn có những hạn chế nhất định, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập. Do đó, các nhà làm luật cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn xã hội dựa trên tinh thần kế thừa giá trị của văn bản luật trước đó, góp phần hạn chế tranh chấp, bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của các bên cũng như nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.

ThS. Đỗ Thị Lan Anh

Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh

ThS. Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Điều 202 Luật Đất đai năm 2013.

[2]. Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Minh Tuấn, Vướng mắc, bất cập, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự, https://tapchitoaan.vn/vuong-mac-bat-cap-kien-nghi-hoan-thien-phap-luat-ve-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-theo-thu-tuc-to-tung-dan-su, truy cập ngày 20/5/2023.

[4]. Lê Thị Bích Chi, Nguyễn Thị Loan, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án: Một số bất cập và kiến nghị, http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211536/Tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-cua-toa-an—mot-so-bat-cap-va-kien-nghi.html, truy cập ngày 20/5/2023.

[5]. Minh Tuấn, Tlđd.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: