Thứ tư 26/08/2026 00:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện một số việc đăng ký hộ tịch

Sau gần 02 năm triển khai thực hiện, có thể thấy, Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành[1] với nhiều quy định mới mang tính cải cách, đột phá, tạo điều kiện thuận lợi cho người có yêu cầu đăng ký hộ tịch đã thực sự đi vào cuộc sống, thổi “luồng gió mới” vào công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, được người dân và cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch đánh giá cao.

Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều hội nghị quán triệt, chương trình tuyên truyền, bồi dưỡng, tập huấn các quy định của Luật Hộ tịch và văn bản quy định chi tiết thi hành, nhưng qua phản ánh từ người dân, phương tiện thông tin đại chúng, kết quả khảo sát, kiểm tra của cơ quan quản lý cấp trên, vẫn thấy có nhiều quy định về thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện một số việc đăng ký hộ tịch chưa được người dân và công chức làm công tác hộ tịch hiểu đúng, dẫn đến không thực hiện đúng quyền/trách nhiệm đăng ký hộ tịch; xác định sai thủ tục, thành phần hồ sơ, thậm chí sai thẩm quyền giải quyết việc hộ tịch. Trong bài viết này, tác giả nêu và phân tích, đưa ra một số quan điểm về việc xác định thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết một số việc hộ tịch.

Thứ nhất, xác định nơi cư trú để xác định thẩm quyền, trách nhiệm đăng ký hộ tịch

Khoản 4 Điều 5 Luật Hộ tịch có quy định: Cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Tuy nhiên, Luật Hộ tịch, các văn bản quy định chi tiết thi hành đều quy định việc xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch cụ thể theo nơi cư trú của cá nhân[2].

Nhưng theo quy định của Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú; nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. Chỉ trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú thì nơi cư trú của công dân mới là nơi người đó đang sinh sống.

Do đó, chỉ trong trường hợp cá nhân không có nơi đăng ký thường trú, cũng không có nơi đăng ký tạm trú thì nơi mà người đó đang sinh sống thực tế mới được xác định là nơi cư trú của cá nhân và do đó, cơ quan đăng ký hộ tịch nơi người đó cư trú được xác định là cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm đăng ký sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Ngược lại, nếu cá nhân có nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú thì phải thực hiện yêu cầu đăng ký hộ tịch tại nơi cư trú đó, không thể thực hiện tại nơi đang sinh sống thực tế ngoài nơi cư trú nêu trên.

Thứ hai, xác định thẩm quyền, trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em

- Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký, Điều 13 Luật Hộ tịch quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh, các văn bản quy định chi tiết thi thành Luật Hộ tịch không có quy định hướng dẫn nào thêm về thẩm quyền này, do đó, về “giả thuyết thông thường” sẽ có 04 cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em là: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người cha và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người mẹ, việc xác định cơ quan đăng ký khai sinh cho trẻ trong trường hợp này thuộc quyền lựa chọn của người đi đăng ký khai sinh và có “mức độ ưu tiên ngang bằng”, tức là không buộc phải theo thứ tự ưu tiên nơi cư trú của người mẹ trước, nếu người mẹ không có nơi cư trú mới đến nơi cư trú của người cha như quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP[3] trước đây.

- Xác định người có quyền, trách nhiệm đi đăng ký khai sinh cho trẻ:

Khoản 1, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định: Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 của Luật Hộ tịch được ủy quyền cho người khác thực hiện thay, trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật; phạm vi ủy quyền có thể gồm toàn bộ công việc theo trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch từ khi nộp hồ sơ đến khi nhận kết quả đăng ký hộ tịch. Quy định này cần được hiểu là quy định về khả năng “giao quyền” của người có quyền yêu cầu đăng ký hộ tịch cho người khác thực hiện thay do không thể hoặc không muốn trực tiếp thực hiện, người được ủy quyền vốn là người không có quyền yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 15/2015/TT-BTP còn quy định thêm: Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người ủy quyền. Nên trong thực tế, nhiều công chức làm công tác hộ tịch đã hiểu nhầm rằng mọi việc đăng ký hộ tịch nêu tại Điều 3 Luật Hộ tịch, trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con nếu do ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột thực hiện - trong đó có việc đăng ký khai sinh - thì đều phải thực hiện theo quy định này, tức là phải có văn bản ủy quyền, do đó, yêu cầu ông, bà nội, ngoại... khi đăng ký khai sinh cho cháu cũng phải có văn bản ủy quyền.

Điều 15 Luật Hộ tịch quy định: Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em. Theo tác giả, quy định này được hiểu là quy định giao trách nhiệm đồng thời cũng là xác định “quyền” thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ. Do đã có quyền/trách nhiệm này nên khi ông, bà nội hoặc ông, bà ngoại đi đăng ký khai sinh cho trẻ chính là thực hiện đúng quyền/trách nhiệm của mình, nên không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ.

Nếu có ràng buộc phải có sự đồng thuận của cha, mẹ trẻ thì là ràng buộc về nội dung đăng ký khai sinh cho trẻ, bởi theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Quốc tịch Việt Nam và Luật Hộ tịch thì họ, tên, quốc tịch, quê quán của trẻ phải được xác định theo thông tin của cha hoặc của mẹ, do cha, mẹ thỏa thuận lựa chọn; trong tờ khai đăng ký khai sinh đã yêu cầu người đi đăng ký khai sinh cam đoan nội dung đề nghị đăng ký khai sinh là đúng sự thật, được sự thỏa thuận nhất trí của các bên liên quan theo quy định pháp luật và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về nội dung cam đoan của mình.

Thứ ba, về trách nhiệm xác minh khi giải quyết yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã qua nhiều nơi thường trú khác nhau

Khoản 4 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Như vậy, cần hiểu rằng, trước hết người có yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tại thời điểm hiện tại, ở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hiện nay có trách nhiệm chứng minh tình trạng hôn nhân của mình (có thể bằng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, có thể bằng văn bản, giấy tờ do Ủy ban nhân dân cấp xã các nơi đã từng thường trú trước đây cấp, phù hợp với thời gian đăng ký thường trú của người đó, nếu người yêu cầu đang có). Nhưng trường hợp người đó không chứng minh được, tức là không có giấy tờ chứng minh, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đang thường trú không được yêu cầu người đó phải quay lại các nơi thường trú trước đây để đề nghị cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, mà có trách nhiệm chủ động trao đổi với Ủy ban nhân dân cấp xã tương ứng để kiểm tra, xác minh; sau đó xem xét, cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trên cơ sở kết quả xác minh. Chỉ trong trường hợp quá thời hạn pháp luật quy định mà không nhận được văn bản trả lời kết quả xác minh thì mới cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung cần xác minh (cam đoan về tình trạng hôn nhân tương ứng theo thời gian thường trú), tự chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan của mình và giải quyết yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Thứ tư, về trách nhiệm thực hiện việc cải chính hộ tịch

Khoản 12 Điều 4 Luật Hộ tịch quy định, cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân trong trường hợp có sai sót khi đăng ký hộ tịch. Do khi đăng ký hộ tịch nói chung, đăng ký khai sinh, khai tử nói riêng, cơ quan đăng ký hộ tịch đều thực hiện việc đăng ký vào sổ hộ tịch, nhập dữ liệu vào phần mềm đăng ký hộ tịch (đối với các địa bàn đã áp dụng phần mềm đăng ký hộ tịch) và cấp giấy tờ hộ tịch tương ứng (trích lục đăng ký hộ tịch bản chính, giấy khai sinh bản chính) cho người đi đăng ký, nên khi phát hiện có sai sót sẽ phải thực hiện việc cải chính (chỉnh sửa) thông tin trên cả trích lục hộ tịch bản chính, giấy khai sinh (bản chính) và nội dung trong sổ hộ tịch tương ứng.

Như vậy, trường hợp bản chính trích lục hộ tịch, bản chính giấy khai sinh không còn thì khi phát hiện có sai sót và có yêu cầu cải chính, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền vẫn có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết, thực hiện việc đăng ký vào sổ thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc; cấp trích lục cải chính hộ tịch, sau đó ghi chú nội dung được cải chính vào sổ đăng ký việc hộ tịch tương ứng trước đây (nếu cơ quan giải quyết việc cải chính hộ tịch đang lưu giữ sổ hộ tịch) hoặc gửi văn bản thông báo tới cơ quan đang lưu giữ sổ hộ tịch để thực hiện ghi chú theo quy định (trường hợp yêu cầu cải chính hộ tịch tại nơi cư trú hiện nay, không phải là cơ quan đăng ký hộ tịch trước đây).

Việc cải chính hộ tịch được giải quyết đối với tất cả các loại việc hộ tịch đã được đăng ký, do đó bao gồm cả việc đăng ký khai tử, nếu phát hiện có sai sót trong nội dung đăng ký khai tử. Trong trường hợp này sẽ có vướng mắc trong việc xác định người có quyền yêu cầu cải chính việc đăng ký khai tử. Theo tác giả, nên áp dụng theo hướng xác định việc bảo đảm thông tin cung cấp để thực hiện đăng ký khai tử đúng, chính xác thuộc về những người có quyền/trách nhiệm thực hiện việc khai tử cho người chết theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch, do đó, những người này cũng là những người có quyền/trách nhiệm đề nghị thực hiện việc cải chính thông tin đăng ký khai tử.

Như vậy, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật hộ tịch, thuận lợi cho người dân khi thực hiện quyền đăng ký hộ tịch, cũng như tránh tình trạng các cơ quan đăng ký hộ tịch lúng túng, áp dụng thiếu nhất quán hoặc không giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân, thiết nghĩ các nội dung vướng mắc, bất cập, chưa được hiểu thống nhất này cần được thể chế hóa, sớm quy định bổ sung trong các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Hộ tịch.

ThS. Đồng Ngọc Dám

Học viện Chính trị Khu vực I

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

[2]. Điều 7 Luật Hộ tịch quy định, Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký sự kiện hộ tịch quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 3 của Luật cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước…; Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài (trừ việc khai sinh, kết hôn, khai tử tại xã khu vực biên giới), đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước…; cơ quan đại diện đăng ký các việc hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài…

[3]. Nghị định ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: