Thứ ba 18/08/2026 08:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp phiếu lý lịch tư pháp - Những vướng mắc từ thực tiễn

Xóa án tích nói chung và đương nhiên được xóa án tích nói riêng là một trong những chế định thể hiện rõ nét tính nhân văn của pháp luật hình sự Việt Nam.

Xóa án tích nói chung và đương nhiên được xóa án tích nói riêng là một trong những chế định thể hiện rõ nét tính nhân văn của pháp luật hình sự Việt Nam. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cũng có quy định liên quan đến vấn đề xóa án tích. Theo Điều 33 Luật Lý lịch tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án được xóa án tích. Tuy nhiên trên thực tiễn, việc thực hiện nhiệm vụ này gặp rất nhiều khó khăn. Trong bài viết này, tác giả phân tích những quy định của pháp luật hình sự, pháp luật lý lịch tư pháp liên quan đến vấn đề xóa án tích; thực tiễn công tác xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích và những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện.

Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (Bộ luật Hình sự năm 2015) có nhiều quy định mới về vấn đề xóa án tích, không quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích cho người bị kết án mà giao cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (LLTP) có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu LLTP xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này. Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp phiếu LLTP đang gặp phải những vướng mắc, bất cập...

1. Quy định của pháp luật hình sự về vấn đề xóa án tích

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định có 02 loại xóa án tích: Đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án, cụ thể:

(i) Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự (các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh). Điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 là quy định thời điểm để tính thời hạn xóa án tích sớm hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999 theo hướng kể từ khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án[1]; đồng thời, rút ngắn thời hạn để được xóa án tích theo hướng còn 02 năm (đối với trường hợp bị phạt tù đến 05 năm); 03 năm (đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm) và 05 năm (đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án) (khoản 2, 3 Điều 70).

Đặc biệt, Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích cho người bị kết án, mà giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu LLTP xác nhận không có án tích nếu có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự[2]. Khoản 4 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu LLTP xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này”. Đồng thời, khoản 1 Điều 369 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp phiếu LLTP là họ không có án tích.

(ii) Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự. Khác với trường hợp đương nhiên được xóa án tích, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội nêu trên (Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015). Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án. Nếu xét thấy đủ điều kiện, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích (khoản 2 Điều 369 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 72) cũng quy định về việc xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, theo đó, trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

2. Quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp liên quan đến vấn đề xóa án tích

Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cũng có quy định liên quan đến vấn đề xóa án tích. Theo Điều 33 Luật Lý lịch tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cập nhật, xử lý thông tin LLTP trong trường hợp người bị kết án được xóa án tích, cụ thể: (i) Khi nhận được giấy chứng nhận xóa án tích hoặc quyết định xóa án tích của Tòa án thì ghi “đã được xóa án tích” vào LLTP của người đó và (ii) Khi xác định một người có đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự thì ghi “đã được xóa án tích” vào LLTP của người đó.

Như vậy, theo quy định của Luật Lý lịch Tư pháp, trong quá trình cập nhật thông tin của người bị kết án, khi xác định được người bị kết án đã có đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cập nhật thông tin, ghi rõ việc “đã được xóa án tích” vào LLTP của người bị kết án; trường hợp người đó có yêu cầu thì cấp phiếu LLTP với nội dung xác nhận là “không có án tích”.

Để hướng dẫn nội dung này, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (Điều 17) đã xác định rõ trách nhiệm của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp trong việc xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích của người bị kết án. Theo đó, việc xác minh được tiến hành trong trường hợp người bị kết án đã có đủ thời gian để đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự, nhưng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp chưa nhận được giấy chứng nhận đương nhiên xóa án tích đối với người đó do Tòa án gửi đến.

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có nhiệm vụ xác minh về việc người đó có bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong thời hạn đang có án tích hay không. Việc xác minh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, làm việc sau khi chấp hành xong bản án. Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân thực hiện phối hợp xác minh. Trong quá trình xác minh tại Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, nếu thấy cần thiết thì xác minh tại cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan. Trình tự, thủ tục xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích cũng được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/5/2012 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin LLTP (Điều 25).

Ngoài việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cập nhật vào cơ sở dữ liệu LLTP như đã nêu ở trên, Luật Lý lịch tư pháp (khoản 3 Điều 44) cũng có quy định việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp phiếu LLTP, đó là “trong trường hợp cần thiết, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp phiếu LLTP”. Vì vậy, trong trường hợp thông tin về điều kiện đương nhiên được xóa án tích của người bị kết án chưa được cập nhật vào cơ sở dữ liệu LLTP, chủ yếu là đối với thông tin có trước ngày 01/7/2010 (ngày Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực pháp luật), Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp phiếu LLTP. Quy trình xác minh cũng tương tự như đối với trường hợp xác minh thông tin để cập nhật vào cơ sở dữ liệu LLTP.

3. Thực tiễn công tác xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích

- Trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành và có hiệu lực pháp luật, đối với những trường hợp người dân đã có án tích đến xin cấp phiếu LLTP, để bảo đảm thời hạn cấp phiếu LLTP, Sở Tư pháp thường hướng dẫn người dân đến Tòa án xin cấp giấy chứng nhận xóa án tích. Trên cơ sở giấy chứng nhận của Tòa án, Sở Tư pháp cấp phiếu LLTP cho người dân. Chỉ có một số ít trường hợp Sở Tư pháp trực tiếp xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp phiếu LLTP. Mặc dù xác minh với số lượng rất ít, nhưng các Sở Tư pháp đã gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất của các Sở Tư pháp khi thực hiện xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích, đó là không có đủ thông tin về bản án hình sự hoặc không có đủ thông tin về quá trình thi hành các quyết định của Tòa án trong bản án (như người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí, trách nhiệm dân sự cũng như thông tin về người bị kết án có phạm tội mới trong thời gian có án tích?), đặc biệt là đối với thông tin có trước ngày 01/7/2010[3].

- Đối với trường hợp kết quả tra cứu của cơ quan Công an xác nhận là có án tích, nếu người bị kết án đã đủ thời gian để đương nhiên được xóa án tích, Sở Tư pháp phải đề nghị Tòa án đã xét xử cung cấp bản án và các cơ quan có liên quan cung cấp thông tin về quá trình thi hành án, chủ yếu là đối với các bản án có trước ngày 01/7/2010. Nhiều trường hợp, bản án đã được Tòa án tuyên trước đây nhiều năm nên người bị kết án cũng như Tòa án và các cơ quan có liên quan không còn lưu giữ được hồ sơ bản án và các giấy tờ, tài liệu liên quan đến quá trình thi hành bản án... Cơ quan cấp phiếu LLTP còn gặp khó khăn đối với những trường hợp kết quả xác minh của cơ quan Công an cho thấy đương sự đã từng có hành vi vi phạm pháp luật (bị bắt, bị lập danh chỉ bản...) nhưng không có thông tin về kết quả xử lý cuối cùng nên phải tiến hành xác minh tiếp tại Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an, nơi trước đây đã thụ lý, giải quyết vụ việc để có kết quả rõ ràng về tình trạng án tích của đương sự. Đặc biệt, cơ quan cấp phiếu gặp rất nhiều khó khăn đối với những trường hợp người được cấp phiếu có nhiều án tích hoặc cư trú ở nhiều địa phương khác nhau. Có những trường hợp, Sở Tư pháp đã phải xác minh đến 07 - 08 cơ quan, trong khoảng 04 - 05 tháng nhưng vẫn chưa đủ căn cứ xác định rõ tình trạng án tích của công dân để cấp phiếu LLTP.

- Kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì toàn bộ việc xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp phiếu LLTP sẽ do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp) thực hiện. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định một trong những điều kiện đương nhiên được xóa án tích là người bị kết án không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn Bộ luật này quy định (khoản 2 Điều 70). Một người được xác định là thực hiện hành vi phạm tội khi người đó bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Trong khi đó, cơ sở dữ liệu LLTP hiện nay chỉ lưu trữ, quản lý thông tin từ giai đoạn có bản án có hiệu lực pháp luật (bị kết án), không quản lý và lưu trữ các thông tin từ giai đoạn khởi tố. Chính vì vậy, thủ tục xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thường mất rất nhiều thời gian do phải đi xác minh tại nhiều nơi, nhiều cơ quan khác nhau và hầu hết các trường hợp đã có án tích đến yêu cầu cấp phiếu LLTP đều bị chậm thời gian, ảnh hưởng đến quyền của người được cấp phiếu LLTP.

- Hơn nữa, công tác xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan cũng như đòi hỏi cán bộ làm công tác này phải có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu về pháp luật hình sự và pháp luật về LLTP. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ làm công tác LLTP tại các Sở Tư pháp còn thiếu về số lượng, kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác của Sở Tư pháp.

- Có quan điểm cho rằng, trường hợp kết quả tra cứu của cơ quan Công an xác nhận là “có án tích” và người bị kết án đã có đủ điều kiện về thời gian để đương nhiên được xóa án tích thì Sở Tư pháp vẫn thực hiện cấp phiếu LLTP với nội dung xác nhận là “có án tích”. Còn việc Sở Tư pháp thực hiện các thủ tục thu thập bản án, thông tin về quá trình thi hành bản án và điều kiện đương nhiên được xóa án tích của người được cấp phiếu LLTP không nằm trong quy trình cấp phiếu LLTP, mà đây là một quy trình riêng trong xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP của Sở Tư pháp. Sở Tư pháp chỉ cấp phiếu với nội dung “không có án tích” khi thông tin về việc đương nhiên được xóa án tích đã được cập nhật vào cơ sở dữ liệu LLTP.

Về vấn đề này, tác giả cho rằng, theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp, phiếu LLTP là giấy tờ xác nhận cá nhân có hay không có án tích. Cũng theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có trách nhiệm cập nhật thông tin về án tích và tình trạng thi hành án vào LLTP của người bị kết án, bao gồm cả thông tin về việc đương nhiên được xóa án tích (Điều 33 Luật Lý lịch tư pháp). Tuy nhiên, Luật Lý lịch tư pháp cũng quy định, trường hợp cần thiết, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp phiếu LLTP (khoản 3 Điều 44). Như vậy, trường hợp người bị kết án đã đủ điều kiện được đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự nhưng thông tin này chưa được cập nhật vào cơ sở dữ liệu LLTP thì Sở Tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia có trách nhiệm xác minh về điều kiện được đương nhiên được xóa án tích khi cấp phiếu LLTP. Quy trình xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích đã được quy định cụ thể tại Nghị định số 111/2010/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT/BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Để bảo đảm thi hành những quy định mới liên quan đến vấn đề xóa án tích của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn công tác xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích trong thời gian qua, tác giả có một số đề xuất, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã giao hoàn toàn trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP trong việc theo dõi vấn đề xóa án tích đương nhiên của người bị kết án. Do đó, để phục vụ việc xác minh điều kiện đương nhiên xóa án tích, bảo đảm thời hạn cấp phiếu LLTP cho cá nhân theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như đã nêu trên, cần thiết bổ sung quy định cụ thể về cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin giữa cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP và các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự... về điều kiện đương nhiên xóa án tích của người bị kết án, đặc biệt là thông tin về hành vi phạm tội mới trong thời gian có án tích của người bị kết án. Cũng cần nghiên cứu, bổ sung quy định trường hợp những bản án được tuyên trước đây nhưng các cơ quan có thẩm quyền không còn lưu trữ được hồ sơ bản án, quá trình thi hành án nên không cung cấp được thông tin về án tích của người đã bị kết án thì cơ quan cấp phiếu LLTP được xác nhận là người đó “không có án tích” trong phiếu LLTP.

Thứ hai, một số Sở Tư pháp đề nghị quy định vấn đề xác minh điều kiện đương nhiên xóa án tích là một thủ tục hành chính riêng biệt, tách riêng với thủ tục cấp phiếu LLTP, có mức phí riêng và thời hạn giải quyết riêng. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, khoản 4 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định: “Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu LLTP xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này” và trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 369 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp phiếu LLTP là họ không có án tích”, Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP trong cập nhật thông tin về tình hình án tích và cấp phiếu LLTP cho cá nhân khi có yêu cầu mà không quy định thủ tục riêng về xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích. Hiện nay, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có nhiệm vụ theo dõi, cập nhật thông tin về án tích của người bị kết án, trong đó có thông tin về điều kiện đương nhiên được xóa án tích (trừ thông tin về hành vi phạm tội mới). Chính vì vậy, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cần tăng cường công tác cung cấp, tiếp nhận thông tin LLTP để xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP, chủ động định kỳ tiến hành rà soát, xác minh, cập nhật thông tin về điều kiện đương nhiên được xóa án tích của người đã bị kết án vào cơ sở dữ liệu LLTP nhằm bảo đảm vai trò chủ động của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp trong xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu LLTP và cấp phiếu LLTP.

Thứ ba, tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, trong đó chú trọng bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ xử lý, cập nhật thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP và cấp phiếu LLTP, những nội dung mới có liên quan đến lĩnh vực LLTP của Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đặc biệt là nghiệp vụ xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích.

Thứ tư, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác LLTP, áp dụng các phương thức cấp phiếu LLTP qua dịch vụ bưu chính, cấp phiếu LLTP trực tuyến, đẩy mạnh cải cách hành chính, rút ngắn thời hạn cấp phiếu LLTP, tạo thuận lợi nhất cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu cấp phiếu LLTP.

Xóa án tích nói chung và đương nhiên được xóa án tích nói riêng là một trong những chế định thể hiện rõ nét tính nhân văn của pháp luật hình sự Việt Nam. Tính nhân văn đó càng được thể hiện đậm nét hơn khi những người đã được xóa án tích nhận được phiếu LLTP có nội dung xác nhận là “không có án tích”. Với xác nhận này của phiếu LLTP, người được xóa án tích mới “thực sự” coi như chưa bị kết án để tham gia vào các quan hệ xã hội như xin việc làm, xin cấp giấy phép làm một số ngành nghề, du học, xuất khẩu lao động... và tái hòa nhập cộng đồng một cách dễ dàng hơn.

ThS. Đỗ Thúy Lan

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia



[1]. Trước đây, theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), thời điểm để tính thời hạn xóa án tích là kể từ khi người bị kết án chấp hành xong bản án (chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác trong bản án (nghĩa vụ dân sự, án phí…) hoặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

[2]. Khoản 2 và 3 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp, cơ sở dữ liệu LLTP được xây dựng từ ngày 01/7/2010 (ngày Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực pháp luật). Đối với thông tin có trước ngày 01/7/2010, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an, Tòa án, Viện Kiểm sát và các cơ quan có liên quan xác minh, thu thập thông tin để cấp phiếu LLTP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Theo dõi chúng tôi trên: