Thứ hai 24/08/2026 15:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần xây dựng nông thôn mới

Luôn bám sát, quán triệt, phổ biến và thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới nói chung và các văn bản về xây dựng xã

Ngày 04/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 (Quyết định số 800/QĐ-TTg) với mục tiêu chung là “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nếu như Quyết định số 800/QĐ-TTg nêu rõ 19 tiêu chí, 39 chỉ tiêu thành phần và 07 nhóm giải pháp, trong đó, phần lớn các tiêu chí, chỉ tiêu là về hạ tầng, cơ sở vật chất, số ít các tiêu chí, chỉ tiêu về văn hóa, không có tiêu chí, chỉ tiêu nào về tiếp cận pháp luật, thì bước sang giai đoạn 2016 - 2020, trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng và đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo Hiến pháp năm 2013, vấn đề cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và thực thi công khai đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần quan tâm, nhận thức đúng đắn việc xây dựng nông thôn mới không phải là một dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đơn thuần mà là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, pháp luật và an ninh quốc phòng. Người dân ở địa bàn nông thôn là trung tâm, là đối tượng của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và nhận định rõ việc xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (Quyết định số 1600/QĐ-TTg) và Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, trong đó có tiêu chí thành phần 18.5 về “Xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định” và Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Ngành Tư pháp được giao chủ trì, hướng dẫn thực hiện “đánh giá, công nhận, xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân”. Như vậy, lần đầu tiên, chuẩn tiếp cận pháp luật được xác định và trở thành một trong những nội dung của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Đặt trong tổng thể với xây dựng nông thôn mới, việc thực hiện nhiệm vụ này có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Luôn bám sát, quán triệt, phổ biến và thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới nói chung và các văn bản về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật nói riêng, Sở Tư pháp, Ngành Tư pháp tỉnh Quảng Bình, một mặt tích cực hưởng ứng phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới” trên cơ sở hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; mặt khác, tiếp tục kế thừa, phát huy các kết quả đã đạt được và rút kinh nghiệm từ thực tiễn trong thời gian qua là một trong 05 địa phương được chọn làm thử (cùng với tỉnh Thái Bình, tỉnh Điện Biên, tỉnh Cà Mau và thành phố Hồ Chí Minh) triển khai thực hiện xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở. Đồng thời, để thực hiện Quyết định số 1600/QĐ-TTg và Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng chính phủ ban hành quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 619/QĐ-TTg), trong đó, triển khai đánh giá, công nhận, xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong cả nước, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tích cực chỉ đạo, hướng dẫn triển khai đồng bộ, nghiêm túc, đặc biệt chú trọng việc đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật đối với các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới và giao Sở Tư pháp trực tiếp tham mưu thực hiện nhiệm vụ này; bổ sung đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp, Ngành Tư pháp làm thành viên Ban Chỉ đạo; bằng nhiều hình thức khác nhau đã chỉ đạo Sở Tư pháp, Ngành Tư pháp chủ trì, phối hợp tổ chức thông tin, tuyên truyền, tập huấn, biên soạn tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ về nhiệm vụ này; bố trí nguồn lực, tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính, phát huy dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong tiếp cận thông tin, nhất là ở cơ sở; xiết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng phục vụ và cung cấp dịch vụ công, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp, Ngành Tư pháp tỉnh Quảng Bình đã ban hành kế hoạch chi tiết và nhiều văn bản chỉ đạo hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện như: Công văn hướng dẫn việc triển khai xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, công văn hướng dẫn việc thực hiện tiêu chí chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở đối với các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018 và tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn về thời điểm đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, việc sử dụng kết quả xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật để đánh giá xã đạt nông thôn mới. Sở Tư pháp, Ngành Tư pháp tỉnh Quảng Bình đã đề ra mục tiêu và biện pháp tổ chức triển khai thực hiện các lĩnh vực công tác tư pháp liên quan mật thiết đến việc thực hiện 05 tiêu chí tiếp cận pháp luật và thực hiện đánh giá kết quả đạt được thông qua việc chấm điểm, gồm: (i) Tiêu chí “Bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật” với 03 chỉ tiêu (15 điểm); (ii) Tiêu chí “Thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã” với 05 chỉ tiêu (30 điểm); (iii) Tiêu chí “Phổ biến, giáo dục pháp luật” với 09 chỉ tiêu (25 điểm); (iv) Tiêu chí “Hòa giải ở cơ sở” với 03 chỉ tiêu (10 điểm); (v) Tiêu chí “Thực hiện dân chủ ở cơ sở” với 05 chỉ tiêu (20 điểm).

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Tư pháp, các địa phương đã thành lập Hội đồng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm túc nội dung đánh giá xã chuẩn tiếp cận pháp luật trong tổng thể đánh giá xã đạt nông thôn mới. Đến nay, có 123/159 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới hàng năm đều đạt tiêu chí về chuẩn tiếp cận pháp luật ở mức cao (từ 90 điểm trở lên và khảo sát đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng và thái độ khi thực hiện thủ tục hành chính đạt từ 90% trở lên). Có 36/159 xã, phường, thị trấn chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Các xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật chủ yếu do có cán bộ bị kỷ luật và số ít là do không đạt điểm, trong đó có 11 xã phấn đấu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong năm 2018 và đây cũng là 11 xã phấn đấu đạt chuẩn về xây dựng nông thôn mới năm 2018.

Qua thực tiễn thi hành, nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vẫn có những khó khăn, tồn tại như: Tiêu chí về xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở là tiêu chí mới được bổ sung trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới, nhiều chỉ tiêu mang tính định tính, nên ít được quan tâm để đầu tư như các tiêu chí về hạ tầng, cơ sở vật chất. Nội dung của các chỉ tiêu mang tính bao trùm, xuyên suốt, kết quả đạt được tùy thuộc vào hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành, mức độ dân chủ, quyết tâm cải cách thủ tục hành chính của bộ máy chính quyền, nhất là cấp cơ sở và mức độ, ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Tuy nhiên, việc chỉ đạo thực hiện công tác này ở một số địa phương còn chậm, việc thực hiện các tiêu chí về chuẩn tiếp cận pháp luật còn phiến diện; chưa chú trọng đến xây dựng các tiêu chí tiếp cận pháp luật mà chỉ chú trọng việc đánh giá các tiêu chí tiếp cận pháp luật. Về công tác chấm điểm, kết quả đánh giá tiếp cận pháp luật ở một số huyện còn chưa thực sự phản ánh sát đúng với tình hình thực tiễn của địa phương. Đây là tiêu chí khó đạt được (nếu đánh giá một cách khách quan, chính xác) nhưng rất khó giữ, tuy nhiên, một số địa phương còn chủ quan, chưa có giải pháp hữu hiệu để duy trì, phát huy một cách bền vững. Việc tổ chức triển khai các thiết chế pháp luật chưa cao, còn mang tính hình thức, chưa bám sát yêu cầu của người dân; chưa có sự phối hợp, gắn kết giữa các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là ở cấp xã, để có sự đánh giá, giải quyết một cách toàn diện, tổng thể đối với công tác xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, nhiều địa phương còn coi đây chỉ là nhiệm vụ của cơ quan tư pháp; một số công chức cấp xã chưa nắm rõ được những nội dung cơ bản của các tiêu chí đánh giá tiếp cận pháp luật để tham mưu xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, do vậy, kết quả đánh giá chưa có độ chính xác cao...

Có thể nói rằng, việc triển khai nhiệm vụ đánh giá, công nhận, xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới là minh chứng rõ nét, thể hiện vai trò của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Ngành Tư pháp trong việc triển khai các nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, góp phần đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã được xác định trong các nghị quyết của Đảng, Chính phủ và các quyết định, văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước, nhất là tại cơ sở trong bối cảnh xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Để thực hiện nhiệm vụ này một cách đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trong tổng thể xây dựng nông thôn mới, tác giả xin đề xuất một số giải pháp như sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh việc thông tin, tuyên truyền về vị trí, vai trò, mục tiêu, ý nghĩa của nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, qua đó, thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Sự thống nhất, đồng thuận, sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và của nhân dân là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ này đạt hiệu quả. Phát huy vai trò tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn của Ngành Tư pháp, đồng thời, cần phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể.

Hai là, bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật thông qua việc chỉ đạo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch triển khai nhiệm vụ được giao để thi hành Hiến pháp, pháp luật đúng yêu cầu, tiến độ; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Ba là, thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã đúng quy định của pháp luật thông qua việc công khai đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính; giải quyết các thủ tục hành chính đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định; bảo đảm sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính.

Bốn là, thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp xã, người dân với nội dung và hình thức phù hợp với đối tượng, địa bàn; tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức đối thoại chính sách, pháp luật theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Năm là, lồng ghép tư vấn, phổ biến pháp luật cho người dân thông qua hòa giải, giải quyết kịp thời các tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải được hòa giải; thực hiện các hình thức phát huy dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Sáu là, nội dung thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều ngành, lĩnh vực, cơ quan như công an, quân sự; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm cơ quan thanh tra; thực hiện dân chủ ở cơ sở thuộc trách nhiệm cơ quan nội vụ, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên… nên cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này với các cơ quan tư pháp trong hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Bảy là, phải đặt ra và chú trọng, quan tâm đến các chỉ tiêu, tiêu chí chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở như bất cứ chỉ tiêu, tiêu chí nào trong tổng thể triển khai chương trình, kế hoạch và trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới. Phải gắn với việc thực hiện các phong trào thi đua và thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

Tám là, cần phải thực chất, tránh hình thức, phong trào, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Cần phải bảo đảm nguồn nhân lực, kinh phí, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ tham mưu thực hiện nhiệm vụ này. Kịp thời tổ chức sơ kết, tổng kết, động viên, khen thưởng đối với những tập thể được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và tập thể, cá nhân có thành tích trong xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; phát hiện các mô hình, cách làm hiệu quả trong thực tiễn để rút kinh nghiệm, nhân ra diện rộng.

Nguyễn Thị Lài

Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: