Thứ năm 12/03/2026 16:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hiểm hưu trí bổ sung - Quy định của pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam

Trong các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí được coi là quan trọng nhất và là mối quan tâm hàng đầu của người lao động và xã hội. bảo hiểm hưu trí bổ sung là một loại hình bảo hiểm xã hội, được thực hiện theo nguyên tắc đóng góp tự nguyện của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc, giúp người lao động có thêm thu nhập khi về hưu. Hiện nay, pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam đã được ban hành và có hiệu lực, tuy nhiên, hiệu quả thực hiện vẫn còn một số hạn chế, như: Mức độ bao phủ chưa rộng, mức hưởng chưa cao, quản lý và giám sát còn chưa chặt chẽ…

1. Khái quát về bảo hiểm hưu trí bổ sung

1.1. Về đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung

Hiện nay, trên thế giới, chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện có hai hình thức tham gia: (i) Người lao động và người sử dụng lao động cùng tham gia (hình thức này phổ biến nhất tại hầu hết các quốc gia); (ii) Chỉ người lao động tham gia mà không yêu cầu sự đóng góp từ người sử dụng lao động (hình thức này thường áp dụng cho các đối tượng lao động tự do hoặc có thu nhập thấp). Tại hầu hết các quốc gia, pháp luật quy định sự tham gia của cả người lao động và người sử dụng lao động là bắt buộc. Tuy nhiên, có một số nước tiêu biểu như Đan Mạch áp dụng hình thức “bán bắt buộc” cho người sử dụng lao động, nghĩa là người sử dụng lao động không bắt buộc phải tham gia bảo hiểm, nhưng khi người lao động muốn tham gia, họ có thể thông báo ý định của mình và thương lượng với người sử dụng lao động[1].

Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì “Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách bảo hiểm xã hội mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật”[2]. Mục tiêu của bảo hiểm hưu trí bổ sung là bổ sung vào chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội bắt buộc thông qua quỹ tài khoản tiết kiệm cá nhân của người tham gia. Người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung phải đáp ứng các điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung được quy định tại Điều 6 Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện (Nghị định số 88/2016/NĐ-CP). Theo đó, người tham gia quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện bao gồm: Người sử dụng lao động đóng góp cho người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; cá nhân đủ 15 tuổi trở lên, không làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

Tính đến năm 2023, Bộ Tài chính đã cấp phép cho 04 công ty quản lý quỹ để cung cấp dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung. Các công ty được cấp phép bao gồm: Dragon Capital Việt Nam (DCVFM), MB (MBVF), SSI (SSIAM) và Vietcombank (VCBF) với tổng số người tham gia là 890 người[3].

1.2. Điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung

Để hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung, người tham gia quỹ cần đáp ứng các điều kiện như: Tham gia quỹ trong thời gian quy định; đến độ tuổi nghỉ hưu; thỏa mãn điều kiện về cách thức nhận chi trả. Các điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung có thể khác nhau tùy theo quy định của từng quỹ hoặc chương trình.

Thứ nhất, về điều kiện hưởng hàng tháng.

Do đây là chính sách hưu trí nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, việc chi trả sẽ được thực hiện hàng tháng cùng với hưởng lương hưu của bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, mức hưởng phụ thuộc vào số tiền tích lũy trong tài khoản tiết kiệm cá nhân của từng người lao động. Người lao động được hưởng hưu trí bổ sung hàng tháng khi hưởng lương hưu hàng tháng từ chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc (hoặc khi đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc mà không đủ điều kiện về thời gian đóng để được hưởng lương hưu hàng tháng) và số tiền tích lũy trong tài khoản tiết kiệm cá nhân của người lao động đạt một giá trị tối thiểu theo quy định. Giá trị tối thiểu của số tiền tích lũy trong tài khoản cá nhân của người lao động sẽ phụ thuộc vào thời gian hưởng.

Thứ hai, về điều kiện hưởng một lần.

Trong trường hợp người lao động không đủ điều kiện để hưởng lương hưu bổ sung hàng tháng theo quy định nêu trên hoặc thuộc một trong các trường hợp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội về hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì được hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung một lần trong các trường hợp sau: Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, nhưng giá trị tài khoản tiết kiệm cá nhân tại thời điểm nghỉ hưu thấp hơn 120 lần mức lương cơ sở; bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như: Ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế; ra nước ngoài để định cư.

1.3. Chế độ hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới bao gồm hai hình thức chính là hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân. Chế độ hưu trí nghề nghiệp hình thành dựa trên quá trình đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động, nhằm thể hiện trách nhiệm hỗ trợ của người sử dụng lao động đối với người lao động. Mức đóng góp từ người sử dụng lao động có thể là 1/2 hoặc 2/3 của tổng số đóng góp vào quỹ hưu trí nghề nghiệp, tùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia. Tuy nhiên, mức đóng góp từ người sử dụng lao động không được thấp hơn mức đóng góp từ người lao động.

Chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân khác biệt với chế độ hưu trí bắt buộc và hưu trí nghề nghiệp vì không áp đặt sự tham gia đóng góp từ cả người lao động và người sử dụng lao động theo quy định bắt buộc của Nhà nước. Chế độ này hoạt động dựa trên sự tham gia tự nguyện của người lao động. Người lao động có toàn quyền quyết định mức đóng, thời gian đóng, mức lãi suất và các lợi ích ưu đãi khác mà họ muốn nhận sau quá trình đóng góp. Tính tự nguyện này giúp chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân mở rộng phạm vi hưởng và tầm bao phủ cho đa số lực lượng lao động trong xã hội, khi họ mong muốn đạt được một kế hoạch nghỉ hưu đầy đủ với nguồn tài chính dồi dào.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 chưa có quy định cụ thể về mức hưởng hưu trí bổ sung. Theo quy định tại Nghị định số 88/2016/NĐ-CP thì số tiền thanh toán từ tài khoản hưu trí cá nhân phụ thuộc vào giá trị tài khoản hưu trí cá nhân và kế hoạch chi trả quy định tại hợp đồng tham gia quỹ hưu trí và văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia quỹ hưu trí. Mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung hàng tháng được tính như sau: Mức chi trả hàng tháng khi đến tuổi về hưu do đối tượng nhận chi trả lựa chọn, nhưng tối đa không vượt qua tổng giá trị tài khoản hưu trí cá nhân ở thời điểm nghỉ hưu chia cho 120 tháng. Sau 10 năm, người tham gia quỹ có thể nhận chi trả một lần. Trong trường hợp mức chi trả hàng tháng thấp hơn mức lương cơ sở theo quy định hiện hành, thì mức chi trả hàng tháng tối đa không vượt quá mức lương cơ sở cho đến khi tất toán tài khoản hưu trí cá nhân.

1.4. Nguồn quỹ thực hiện bảo hiểm hưu trí bổ sung

Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được hình thành thông qua việc đóng góp từ người lao động và người sử dụng lao động theo hình thức “tài khoản tiết kiệm cá nhân”. Người lao động tham gia chế độ này hoàn toàn tự nguyện thông qua việc mở tài khoản tiết kiệm cá nhân[4]. Tài khoản tiết kiệm cá nhân là tài khoản riêng của người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc, được quản lý bởi các tổ chức chuyên nghiệp như công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư hoặc ngân hàng... Mức hưởng được xác định dựa trên số tiền đóng góp cùng với khoản sinh lời từ phần đóng góp đó. Tài khoản này được quản lý và đầu tư bởi các tổ chức quản lý quỹ và các chương trình trợ cấp từ chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ được chi trả toàn bộ từ hệ thống tài khoản tiết kiệm cá nhân khi người lao động đủ các điều kiện hưởng theo quy định pháp luật.

Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 19/2018/TT-BLĐTBXH ngày 30/10/2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn xây dựng văn bản thỏa thuận tham gia chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện tại doanh nghiệp quy định: Mức đóng góp có thể là số tiền tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm trên mức tiền lương của người lao động; tần suất đóng góp có thể là hằng tháng, hai tháng một lần, ba tháng một lần hoặc tần suất khác do người lao động lựa chọn phù hợp với khả năng và nhu cầu của họ; thời gian đóng góp do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, phù hợp với chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện mà người sử dụng lao động đã xây dựng và người lao động lựa chọn tham gia, thời gian đóng góp được ghi cụ thể trong văn bản thỏa thuận; về hình thức đóng góp, người lao động đóng góp vào quỹ hưu trí thông qua người sử dụng lao động ủy thác hoặc trích từ tiền lương hàng tháng của mình để đóng vào quỹ hưu trí.

Điểm mới của bảo hiểm hưu trí bổ sung là quỹ hưu trí từ sự đóng góp tự nguyện của người tham gia quỹ và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản hưu trí cá nhân. Mỗi cá nhân có thể có một hoặc nhiều tài khoản hưu trí cá nhân được quản lý bởi doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí khác nhau. Doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, tài khoản hưu trí này được sử dụng rất linh hoạt để tiếp nhận các khoản đóng góp của người tham gia quỹ và của người sử dụng lao động, tiếp nhận đầu tư quy định tại điều lệ quỹ, thanh toán các khoản phí nộp cho ngân sách nhà nước, chi trả cho người tham gia quỹ và người sử dụng lao động. Người thừa kế hợp pháp của người tham gia quỹ được thừa hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ trong trường hợp người tham gia quỹ bị chết hoặc mất tích theo quy định về thừa kế của Bộ luật Dân sự.

Hiện tại, trong số 04 công ty quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, công ty DCVFM đã triển khai thành công 3 quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, quản lý với tổng giá trị tài sản ròng lên đến hơn 73 tỷ đồng. Đồng thời, công ty MBVF cũng đã triển khai 2 quỹ hưu trí bổ sung với tổng giá trị tài sản ròng là hơn 11 tỷ đồng. Hai công ty quản lý quỹ còn lại đang trong quá trình thành lập và triển khai các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện[5]. Nhờ vào sự đóng góp từ các cá nhân và doanh nghiệp, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện ngày càng phát triển, đồng hành cùng các chế độ bảo hiểm xã hội cơ bản, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội.

2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam

Thứ nhất, để hoàn thiện hệ thống bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam, cần xây dựng một hệ thống bảo hiểm hưu trí đa tầng theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Theo đó, cần triển khai chính sách mở rộng đối tượng bao phủ bảo hiểm xã hội dựa vào hệ thống hưu trí đa tầng. Tầng thứ nhất là lương hưu do Chính phủ hỗ trợ từ các nguồn thu công để đảm bảo an sinh tuổi già cho mọi người. Tầng thứ hai là hưu trí bắt buộc dựa trên đóng góp của người lao động, người dân tham gia. Tầng thứ ba là hưu trí bổ sung với mức đóng được xác định, theo đó người dân được hưởng mức hưu trí cao hơn tùy theo mức đóng tiền hàng tháng. Đồng thời bổ sung quy định về liên kết giữa tầng trợ cấp hưu trí xã hội với tầng bảo hiểm xã hội cơ bản nhằm mở rộng đối tượng thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

Để thực hiện giải pháp này, cần có các giải pháp cụ thể như sau: Đối với tầng thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung pháp luật về bảo hiểm xã hội để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng. Tăng cường nguồn lực tài chính cho tầng thứ nhất, bao gồm cả nguồn thu từ ngân sách nhà nước và nguồn thu từ các hoạt động đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội. Đối với tầng thứ hai, mở rộng đối tượng tham gia tầng thứ hai, bao gồm cả người lao động tự do và người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức. Tăng mức đóng góp tầng thứ hai để bảo đảm quyền lợi cho người lao động khi về hưu. Đối với tầng thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tầng thứ ba, bao gồm cả về thủ tục tham gia và mức đóng góp. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến về tầng thứ ba để nâng cao nhận thức của người dân về chính sách này.

Thứ hai, cần sửa đổi các quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng đưa bảo hiểm hưu trí bổ sung về quỹ bảo hiểm xã hội. Quy định hiện hành về bảo hiểm hưu trí bổ sung cho phép người lao động có thu nhập cao hơn 20 lần mức lương cơ sở tham gia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hoạt động thương mại bảo hiểm hưu trí bổ sung cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả. Để cải thiện tình hình này, cần sửa đổi quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng đưa loại bảo hiểm này vào cùng một hệ thống với bảo hiểm xã hội do Nhà nước quản lý. Việc này có thể mở rộng đối tượng tham gia, bao gồm cả người lao động tự do và người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức. Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ được đầu tư theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, nên sẽ có thể bảo đảm mức hưởng cao hơn cho người lao động. Đồng thời, việc quản lý và giám sát cũng sẽ chặt chẽ hơn, ngăn chặn tình trạng trục lợi, lạm dụng quỹ. Tuy nhiên, khi đưa bảo hiểm hưu trí bổ sung vào cùng hệ thống bảo hiểm xã hội, cần bảo đảm rõ ràng về số tiền đóng góp được đầu tư như thế nào, kiểm tra rủi ro và cam kết lợi nhuận. Điều này giúp người lao động có sự tin tưởng và yên tâm tham gia.

Thứ ba, cần nghiên cứu nâng cao mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung. Để nâng cao mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung cần tăng mức đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung, cải cách cách tính mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung để bảo đảm mức hưởng phù hợp với mức sống của người dân, tăng cường đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng an toàn, hiệu quả để tăng nguồn thu cho quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Thứ tư, quản lý và giám sát chặt chẽ quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Cụ thể: Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm hưu trí bổ sung; sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý và giám sát quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; các bên liên quan bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm hưu trí bổ sung… cần nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Hoàng Văn Nhất

Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội


[1] Torben M. Andersen (2022), Hệ thống hưu trí Đan Mạch trong một so sánh quốc tế, Nxb. Đại học Oxford.

[2] Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[3] Lê Hữu Việt, 21/05/2023, Lý do chỉ gần 900 người tham gia quỹ hưu trí trong 7 năm, Báo Tiền Phong, https://tienphong.vn/ly-do-chi-gan-900-nguoi-tham-gia-quy-huu-tri-trong-7-nam-post1536157.tpo.

[4] Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[5] Đỗ Thoa - Kim Thanh, 22/12/2021, Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện: Cần một “cú hích” mạnh, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/multimedia/mega-story/chinh-sach-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-can-mot-cu-hich-manh-601053.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: