Chủ nhật 14/12/2025 00:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hiểm hưu trí bổ sung - Quy định của pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam

Trong các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí được coi là quan trọng nhất và là mối quan tâm hàng đầu của người lao động và xã hội. bảo hiểm hưu trí bổ sung là một loại hình bảo hiểm xã hội, được thực hiện theo nguyên tắc đóng góp tự nguyện của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc, giúp người lao động có thêm thu nhập khi về hưu. Hiện nay, pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam đã được ban hành và có hiệu lực, tuy nhiên, hiệu quả thực hiện vẫn còn một số hạn chế, như: Mức độ bao phủ chưa rộng, mức hưởng chưa cao, quản lý và giám sát còn chưa chặt chẽ…

1. Khái quát về bảo hiểm hưu trí bổ sung

1.1. Về đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung

Hiện nay, trên thế giới, chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện có hai hình thức tham gia: (i) Người lao động và người sử dụng lao động cùng tham gia (hình thức này phổ biến nhất tại hầu hết các quốc gia); (ii) Chỉ người lao động tham gia mà không yêu cầu sự đóng góp từ người sử dụng lao động (hình thức này thường áp dụng cho các đối tượng lao động tự do hoặc có thu nhập thấp). Tại hầu hết các quốc gia, pháp luật quy định sự tham gia của cả người lao động và người sử dụng lao động là bắt buộc. Tuy nhiên, có một số nước tiêu biểu như Đan Mạch áp dụng hình thức “bán bắt buộc” cho người sử dụng lao động, nghĩa là người sử dụng lao động không bắt buộc phải tham gia bảo hiểm, nhưng khi người lao động muốn tham gia, họ có thể thông báo ý định của mình và thương lượng với người sử dụng lao động[1].

Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì “Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách bảo hiểm xã hội mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật”[2]. Mục tiêu của bảo hiểm hưu trí bổ sung là bổ sung vào chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội bắt buộc thông qua quỹ tài khoản tiết kiệm cá nhân của người tham gia. Người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung phải đáp ứng các điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung được quy định tại Điều 6 Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện (Nghị định số 88/2016/NĐ-CP). Theo đó, người tham gia quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện bao gồm: Người sử dụng lao động đóng góp cho người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; cá nhân đủ 15 tuổi trở lên, không làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

Tính đến năm 2023, Bộ Tài chính đã cấp phép cho 04 công ty quản lý quỹ để cung cấp dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung. Các công ty được cấp phép bao gồm: Dragon Capital Việt Nam (DCVFM), MB (MBVF), SSI (SSIAM) và Vietcombank (VCBF) với tổng số người tham gia là 890 người[3].

1.2. Điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung

Để hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung, người tham gia quỹ cần đáp ứng các điều kiện như: Tham gia quỹ trong thời gian quy định; đến độ tuổi nghỉ hưu; thỏa mãn điều kiện về cách thức nhận chi trả. Các điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung có thể khác nhau tùy theo quy định của từng quỹ hoặc chương trình.

Thứ nhất, về điều kiện hưởng hàng tháng.

Do đây là chính sách hưu trí nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, việc chi trả sẽ được thực hiện hàng tháng cùng với hưởng lương hưu của bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, mức hưởng phụ thuộc vào số tiền tích lũy trong tài khoản tiết kiệm cá nhân của từng người lao động. Người lao động được hưởng hưu trí bổ sung hàng tháng khi hưởng lương hưu hàng tháng từ chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc (hoặc khi đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc mà không đủ điều kiện về thời gian đóng để được hưởng lương hưu hàng tháng) và số tiền tích lũy trong tài khoản tiết kiệm cá nhân của người lao động đạt một giá trị tối thiểu theo quy định. Giá trị tối thiểu của số tiền tích lũy trong tài khoản cá nhân của người lao động sẽ phụ thuộc vào thời gian hưởng.

Thứ hai, về điều kiện hưởng một lần.

Trong trường hợp người lao động không đủ điều kiện để hưởng lương hưu bổ sung hàng tháng theo quy định nêu trên hoặc thuộc một trong các trường hợp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội về hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì được hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung một lần trong các trường hợp sau: Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, nhưng giá trị tài khoản tiết kiệm cá nhân tại thời điểm nghỉ hưu thấp hơn 120 lần mức lương cơ sở; bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như: Ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế; ra nước ngoài để định cư.

1.3. Chế độ hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới bao gồm hai hình thức chính là hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân. Chế độ hưu trí nghề nghiệp hình thành dựa trên quá trình đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động, nhằm thể hiện trách nhiệm hỗ trợ của người sử dụng lao động đối với người lao động. Mức đóng góp từ người sử dụng lao động có thể là 1/2 hoặc 2/3 của tổng số đóng góp vào quỹ hưu trí nghề nghiệp, tùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia. Tuy nhiên, mức đóng góp từ người sử dụng lao động không được thấp hơn mức đóng góp từ người lao động.

Chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân khác biệt với chế độ hưu trí bắt buộc và hưu trí nghề nghiệp vì không áp đặt sự tham gia đóng góp từ cả người lao động và người sử dụng lao động theo quy định bắt buộc của Nhà nước. Chế độ này hoạt động dựa trên sự tham gia tự nguyện của người lao động. Người lao động có toàn quyền quyết định mức đóng, thời gian đóng, mức lãi suất và các lợi ích ưu đãi khác mà họ muốn nhận sau quá trình đóng góp. Tính tự nguyện này giúp chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân mở rộng phạm vi hưởng và tầm bao phủ cho đa số lực lượng lao động trong xã hội, khi họ mong muốn đạt được một kế hoạch nghỉ hưu đầy đủ với nguồn tài chính dồi dào.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 chưa có quy định cụ thể về mức hưởng hưu trí bổ sung. Theo quy định tại Nghị định số 88/2016/NĐ-CP thì số tiền thanh toán từ tài khoản hưu trí cá nhân phụ thuộc vào giá trị tài khoản hưu trí cá nhân và kế hoạch chi trả quy định tại hợp đồng tham gia quỹ hưu trí và văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia quỹ hưu trí. Mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung hàng tháng được tính như sau: Mức chi trả hàng tháng khi đến tuổi về hưu do đối tượng nhận chi trả lựa chọn, nhưng tối đa không vượt qua tổng giá trị tài khoản hưu trí cá nhân ở thời điểm nghỉ hưu chia cho 120 tháng. Sau 10 năm, người tham gia quỹ có thể nhận chi trả một lần. Trong trường hợp mức chi trả hàng tháng thấp hơn mức lương cơ sở theo quy định hiện hành, thì mức chi trả hàng tháng tối đa không vượt quá mức lương cơ sở cho đến khi tất toán tài khoản hưu trí cá nhân.

1.4. Nguồn quỹ thực hiện bảo hiểm hưu trí bổ sung

Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được hình thành thông qua việc đóng góp từ người lao động và người sử dụng lao động theo hình thức “tài khoản tiết kiệm cá nhân”. Người lao động tham gia chế độ này hoàn toàn tự nguyện thông qua việc mở tài khoản tiết kiệm cá nhân[4]. Tài khoản tiết kiệm cá nhân là tài khoản riêng của người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc, được quản lý bởi các tổ chức chuyên nghiệp như công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư hoặc ngân hàng... Mức hưởng được xác định dựa trên số tiền đóng góp cùng với khoản sinh lời từ phần đóng góp đó. Tài khoản này được quản lý và đầu tư bởi các tổ chức quản lý quỹ và các chương trình trợ cấp từ chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ được chi trả toàn bộ từ hệ thống tài khoản tiết kiệm cá nhân khi người lao động đủ các điều kiện hưởng theo quy định pháp luật.

Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 19/2018/TT-BLĐTBXH ngày 30/10/2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn xây dựng văn bản thỏa thuận tham gia chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện tại doanh nghiệp quy định: Mức đóng góp có thể là số tiền tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm trên mức tiền lương của người lao động; tần suất đóng góp có thể là hằng tháng, hai tháng một lần, ba tháng một lần hoặc tần suất khác do người lao động lựa chọn phù hợp với khả năng và nhu cầu của họ; thời gian đóng góp do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, phù hợp với chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện mà người sử dụng lao động đã xây dựng và người lao động lựa chọn tham gia, thời gian đóng góp được ghi cụ thể trong văn bản thỏa thuận; về hình thức đóng góp, người lao động đóng góp vào quỹ hưu trí thông qua người sử dụng lao động ủy thác hoặc trích từ tiền lương hàng tháng của mình để đóng vào quỹ hưu trí.

Điểm mới của bảo hiểm hưu trí bổ sung là quỹ hưu trí từ sự đóng góp tự nguyện của người tham gia quỹ và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản hưu trí cá nhân. Mỗi cá nhân có thể có một hoặc nhiều tài khoản hưu trí cá nhân được quản lý bởi doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí khác nhau. Doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, tài khoản hưu trí này được sử dụng rất linh hoạt để tiếp nhận các khoản đóng góp của người tham gia quỹ và của người sử dụng lao động, tiếp nhận đầu tư quy định tại điều lệ quỹ, thanh toán các khoản phí nộp cho ngân sách nhà nước, chi trả cho người tham gia quỹ và người sử dụng lao động. Người thừa kế hợp pháp của người tham gia quỹ được thừa hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ trong trường hợp người tham gia quỹ bị chết hoặc mất tích theo quy định về thừa kế của Bộ luật Dân sự.

Hiện tại, trong số 04 công ty quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, công ty DCVFM đã triển khai thành công 3 quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, quản lý với tổng giá trị tài sản ròng lên đến hơn 73 tỷ đồng. Đồng thời, công ty MBVF cũng đã triển khai 2 quỹ hưu trí bổ sung với tổng giá trị tài sản ròng là hơn 11 tỷ đồng. Hai công ty quản lý quỹ còn lại đang trong quá trình thành lập và triển khai các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện[5]. Nhờ vào sự đóng góp từ các cá nhân và doanh nghiệp, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện ngày càng phát triển, đồng hành cùng các chế độ bảo hiểm xã hội cơ bản, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội.

2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam

Thứ nhất, để hoàn thiện hệ thống bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam, cần xây dựng một hệ thống bảo hiểm hưu trí đa tầng theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Theo đó, cần triển khai chính sách mở rộng đối tượng bao phủ bảo hiểm xã hội dựa vào hệ thống hưu trí đa tầng. Tầng thứ nhất là lương hưu do Chính phủ hỗ trợ từ các nguồn thu công để đảm bảo an sinh tuổi già cho mọi người. Tầng thứ hai là hưu trí bắt buộc dựa trên đóng góp của người lao động, người dân tham gia. Tầng thứ ba là hưu trí bổ sung với mức đóng được xác định, theo đó người dân được hưởng mức hưu trí cao hơn tùy theo mức đóng tiền hàng tháng. Đồng thời bổ sung quy định về liên kết giữa tầng trợ cấp hưu trí xã hội với tầng bảo hiểm xã hội cơ bản nhằm mở rộng đối tượng thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

Để thực hiện giải pháp này, cần có các giải pháp cụ thể như sau: Đối với tầng thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung pháp luật về bảo hiểm xã hội để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng. Tăng cường nguồn lực tài chính cho tầng thứ nhất, bao gồm cả nguồn thu từ ngân sách nhà nước và nguồn thu từ các hoạt động đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội. Đối với tầng thứ hai, mở rộng đối tượng tham gia tầng thứ hai, bao gồm cả người lao động tự do và người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức. Tăng mức đóng góp tầng thứ hai để bảo đảm quyền lợi cho người lao động khi về hưu. Đối với tầng thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tầng thứ ba, bao gồm cả về thủ tục tham gia và mức đóng góp. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến về tầng thứ ba để nâng cao nhận thức của người dân về chính sách này.

Thứ hai, cần sửa đổi các quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng đưa bảo hiểm hưu trí bổ sung về quỹ bảo hiểm xã hội. Quy định hiện hành về bảo hiểm hưu trí bổ sung cho phép người lao động có thu nhập cao hơn 20 lần mức lương cơ sở tham gia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hoạt động thương mại bảo hiểm hưu trí bổ sung cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả. Để cải thiện tình hình này, cần sửa đổi quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng đưa loại bảo hiểm này vào cùng một hệ thống với bảo hiểm xã hội do Nhà nước quản lý. Việc này có thể mở rộng đối tượng tham gia, bao gồm cả người lao động tự do và người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức. Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ được đầu tư theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, nên sẽ có thể bảo đảm mức hưởng cao hơn cho người lao động. Đồng thời, việc quản lý và giám sát cũng sẽ chặt chẽ hơn, ngăn chặn tình trạng trục lợi, lạm dụng quỹ. Tuy nhiên, khi đưa bảo hiểm hưu trí bổ sung vào cùng hệ thống bảo hiểm xã hội, cần bảo đảm rõ ràng về số tiền đóng góp được đầu tư như thế nào, kiểm tra rủi ro và cam kết lợi nhuận. Điều này giúp người lao động có sự tin tưởng và yên tâm tham gia.

Thứ ba, cần nghiên cứu nâng cao mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung. Để nâng cao mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung cần tăng mức đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung, cải cách cách tính mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung để bảo đảm mức hưởng phù hợp với mức sống của người dân, tăng cường đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng an toàn, hiệu quả để tăng nguồn thu cho quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Thứ tư, quản lý và giám sát chặt chẽ quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Cụ thể: Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm hưu trí bổ sung; sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý và giám sát quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; các bên liên quan bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm hưu trí bổ sung… cần nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Hoàng Văn Nhất

Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội


[1] Torben M. Andersen (2022), Hệ thống hưu trí Đan Mạch trong một so sánh quốc tế, Nxb. Đại học Oxford.

[2] Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[3] Lê Hữu Việt, 21/05/2023, Lý do chỉ gần 900 người tham gia quỹ hưu trí trong 7 năm, Báo Tiền Phong, https://tienphong.vn/ly-do-chi-gan-900-nguoi-tham-gia-quy-huu-tri-trong-7-nam-post1536157.tpo.

[4] Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[5] Đỗ Thoa - Kim Thanh, 22/12/2021, Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện: Cần một “cú hích” mạnh, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/multimedia/mega-story/chinh-sach-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-can-mot-cu-hich-manh-601053.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.

Theo dõi chúng tôi trên: