Thứ năm 30/04/2026 04:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hiểm hưu trí bổ sung - Quy định của pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam

Trong các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí được coi là quan trọng nhất và là mối quan tâm hàng đầu của người lao động và xã hội. bảo hiểm hưu trí bổ sung là một loại hình bảo hiểm xã hội, được thực hiện theo nguyên tắc đóng góp tự nguyện của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc, giúp người lao động có thêm thu nhập khi về hưu. Hiện nay, pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam đã được ban hành và có hiệu lực, tuy nhiên, hiệu quả thực hiện vẫn còn một số hạn chế, như: Mức độ bao phủ chưa rộng, mức hưởng chưa cao, quản lý và giám sát còn chưa chặt chẽ…

1. Khái quát về bảo hiểm hưu trí bổ sung

1.1. Về đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung

Hiện nay, trên thế giới, chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện có hai hình thức tham gia: (i) Người lao động và người sử dụng lao động cùng tham gia (hình thức này phổ biến nhất tại hầu hết các quốc gia); (ii) Chỉ người lao động tham gia mà không yêu cầu sự đóng góp từ người sử dụng lao động (hình thức này thường áp dụng cho các đối tượng lao động tự do hoặc có thu nhập thấp). Tại hầu hết các quốc gia, pháp luật quy định sự tham gia của cả người lao động và người sử dụng lao động là bắt buộc. Tuy nhiên, có một số nước tiêu biểu như Đan Mạch áp dụng hình thức “bán bắt buộc” cho người sử dụng lao động, nghĩa là người sử dụng lao động không bắt buộc phải tham gia bảo hiểm, nhưng khi người lao động muốn tham gia, họ có thể thông báo ý định của mình và thương lượng với người sử dụng lao động[1].

Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì “Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách bảo hiểm xã hội mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật”[2]. Mục tiêu của bảo hiểm hưu trí bổ sung là bổ sung vào chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội bắt buộc thông qua quỹ tài khoản tiết kiệm cá nhân của người tham gia. Người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung phải đáp ứng các điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung được quy định tại Điều 6 Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện (Nghị định số 88/2016/NĐ-CP). Theo đó, người tham gia quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện bao gồm: Người sử dụng lao động đóng góp cho người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; cá nhân đủ 15 tuổi trở lên, không làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

Tính đến năm 2023, Bộ Tài chính đã cấp phép cho 04 công ty quản lý quỹ để cung cấp dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung. Các công ty được cấp phép bao gồm: Dragon Capital Việt Nam (DCVFM), MB (MBVF), SSI (SSIAM) và Vietcombank (VCBF) với tổng số người tham gia là 890 người[3].

1.2. Điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung

Để hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung, người tham gia quỹ cần đáp ứng các điều kiện như: Tham gia quỹ trong thời gian quy định; đến độ tuổi nghỉ hưu; thỏa mãn điều kiện về cách thức nhận chi trả. Các điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung có thể khác nhau tùy theo quy định của từng quỹ hoặc chương trình.

Thứ nhất, về điều kiện hưởng hàng tháng.

Do đây là chính sách hưu trí nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, việc chi trả sẽ được thực hiện hàng tháng cùng với hưởng lương hưu của bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, mức hưởng phụ thuộc vào số tiền tích lũy trong tài khoản tiết kiệm cá nhân của từng người lao động. Người lao động được hưởng hưu trí bổ sung hàng tháng khi hưởng lương hưu hàng tháng từ chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc (hoặc khi đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc mà không đủ điều kiện về thời gian đóng để được hưởng lương hưu hàng tháng) và số tiền tích lũy trong tài khoản tiết kiệm cá nhân của người lao động đạt một giá trị tối thiểu theo quy định. Giá trị tối thiểu của số tiền tích lũy trong tài khoản cá nhân của người lao động sẽ phụ thuộc vào thời gian hưởng.

Thứ hai, về điều kiện hưởng một lần.

Trong trường hợp người lao động không đủ điều kiện để hưởng lương hưu bổ sung hàng tháng theo quy định nêu trên hoặc thuộc một trong các trường hợp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội về hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì được hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung một lần trong các trường hợp sau: Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, nhưng giá trị tài khoản tiết kiệm cá nhân tại thời điểm nghỉ hưu thấp hơn 120 lần mức lương cơ sở; bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như: Ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế; ra nước ngoài để định cư.

1.3. Chế độ hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới bao gồm hai hình thức chính là hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân. Chế độ hưu trí nghề nghiệp hình thành dựa trên quá trình đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động, nhằm thể hiện trách nhiệm hỗ trợ của người sử dụng lao động đối với người lao động. Mức đóng góp từ người sử dụng lao động có thể là 1/2 hoặc 2/3 của tổng số đóng góp vào quỹ hưu trí nghề nghiệp, tùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia. Tuy nhiên, mức đóng góp từ người sử dụng lao động không được thấp hơn mức đóng góp từ người lao động.

Chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân khác biệt với chế độ hưu trí bắt buộc và hưu trí nghề nghiệp vì không áp đặt sự tham gia đóng góp từ cả người lao động và người sử dụng lao động theo quy định bắt buộc của Nhà nước. Chế độ này hoạt động dựa trên sự tham gia tự nguyện của người lao động. Người lao động có toàn quyền quyết định mức đóng, thời gian đóng, mức lãi suất và các lợi ích ưu đãi khác mà họ muốn nhận sau quá trình đóng góp. Tính tự nguyện này giúp chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân mở rộng phạm vi hưởng và tầm bao phủ cho đa số lực lượng lao động trong xã hội, khi họ mong muốn đạt được một kế hoạch nghỉ hưu đầy đủ với nguồn tài chính dồi dào.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 chưa có quy định cụ thể về mức hưởng hưu trí bổ sung. Theo quy định tại Nghị định số 88/2016/NĐ-CP thì số tiền thanh toán từ tài khoản hưu trí cá nhân phụ thuộc vào giá trị tài khoản hưu trí cá nhân và kế hoạch chi trả quy định tại hợp đồng tham gia quỹ hưu trí và văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia quỹ hưu trí. Mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung hàng tháng được tính như sau: Mức chi trả hàng tháng khi đến tuổi về hưu do đối tượng nhận chi trả lựa chọn, nhưng tối đa không vượt qua tổng giá trị tài khoản hưu trí cá nhân ở thời điểm nghỉ hưu chia cho 120 tháng. Sau 10 năm, người tham gia quỹ có thể nhận chi trả một lần. Trong trường hợp mức chi trả hàng tháng thấp hơn mức lương cơ sở theo quy định hiện hành, thì mức chi trả hàng tháng tối đa không vượt quá mức lương cơ sở cho đến khi tất toán tài khoản hưu trí cá nhân.

1.4. Nguồn quỹ thực hiện bảo hiểm hưu trí bổ sung

Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được hình thành thông qua việc đóng góp từ người lao động và người sử dụng lao động theo hình thức “tài khoản tiết kiệm cá nhân”. Người lao động tham gia chế độ này hoàn toàn tự nguyện thông qua việc mở tài khoản tiết kiệm cá nhân[4]. Tài khoản tiết kiệm cá nhân là tài khoản riêng của người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc, được quản lý bởi các tổ chức chuyên nghiệp như công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư hoặc ngân hàng... Mức hưởng được xác định dựa trên số tiền đóng góp cùng với khoản sinh lời từ phần đóng góp đó. Tài khoản này được quản lý và đầu tư bởi các tổ chức quản lý quỹ và các chương trình trợ cấp từ chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ được chi trả toàn bộ từ hệ thống tài khoản tiết kiệm cá nhân khi người lao động đủ các điều kiện hưởng theo quy định pháp luật.

Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 19/2018/TT-BLĐTBXH ngày 30/10/2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn xây dựng văn bản thỏa thuận tham gia chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện tại doanh nghiệp quy định: Mức đóng góp có thể là số tiền tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm trên mức tiền lương của người lao động; tần suất đóng góp có thể là hằng tháng, hai tháng một lần, ba tháng một lần hoặc tần suất khác do người lao động lựa chọn phù hợp với khả năng và nhu cầu của họ; thời gian đóng góp do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, phù hợp với chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện mà người sử dụng lao động đã xây dựng và người lao động lựa chọn tham gia, thời gian đóng góp được ghi cụ thể trong văn bản thỏa thuận; về hình thức đóng góp, người lao động đóng góp vào quỹ hưu trí thông qua người sử dụng lao động ủy thác hoặc trích từ tiền lương hàng tháng của mình để đóng vào quỹ hưu trí.

Điểm mới của bảo hiểm hưu trí bổ sung là quỹ hưu trí từ sự đóng góp tự nguyện của người tham gia quỹ và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản hưu trí cá nhân. Mỗi cá nhân có thể có một hoặc nhiều tài khoản hưu trí cá nhân được quản lý bởi doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí khác nhau. Doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, tài khoản hưu trí này được sử dụng rất linh hoạt để tiếp nhận các khoản đóng góp của người tham gia quỹ và của người sử dụng lao động, tiếp nhận đầu tư quy định tại điều lệ quỹ, thanh toán các khoản phí nộp cho ngân sách nhà nước, chi trả cho người tham gia quỹ và người sử dụng lao động. Người thừa kế hợp pháp của người tham gia quỹ được thừa hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ trong trường hợp người tham gia quỹ bị chết hoặc mất tích theo quy định về thừa kế của Bộ luật Dân sự.

Hiện tại, trong số 04 công ty quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, công ty DCVFM đã triển khai thành công 3 quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, quản lý với tổng giá trị tài sản ròng lên đến hơn 73 tỷ đồng. Đồng thời, công ty MBVF cũng đã triển khai 2 quỹ hưu trí bổ sung với tổng giá trị tài sản ròng là hơn 11 tỷ đồng. Hai công ty quản lý quỹ còn lại đang trong quá trình thành lập và triển khai các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện[5]. Nhờ vào sự đóng góp từ các cá nhân và doanh nghiệp, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện ngày càng phát triển, đồng hành cùng các chế độ bảo hiểm xã hội cơ bản, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội.

2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam

Thứ nhất, để hoàn thiện hệ thống bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam, cần xây dựng một hệ thống bảo hiểm hưu trí đa tầng theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Theo đó, cần triển khai chính sách mở rộng đối tượng bao phủ bảo hiểm xã hội dựa vào hệ thống hưu trí đa tầng. Tầng thứ nhất là lương hưu do Chính phủ hỗ trợ từ các nguồn thu công để đảm bảo an sinh tuổi già cho mọi người. Tầng thứ hai là hưu trí bắt buộc dựa trên đóng góp của người lao động, người dân tham gia. Tầng thứ ba là hưu trí bổ sung với mức đóng được xác định, theo đó người dân được hưởng mức hưu trí cao hơn tùy theo mức đóng tiền hàng tháng. Đồng thời bổ sung quy định về liên kết giữa tầng trợ cấp hưu trí xã hội với tầng bảo hiểm xã hội cơ bản nhằm mở rộng đối tượng thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

Để thực hiện giải pháp này, cần có các giải pháp cụ thể như sau: Đối với tầng thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung pháp luật về bảo hiểm xã hội để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng. Tăng cường nguồn lực tài chính cho tầng thứ nhất, bao gồm cả nguồn thu từ ngân sách nhà nước và nguồn thu từ các hoạt động đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội. Đối với tầng thứ hai, mở rộng đối tượng tham gia tầng thứ hai, bao gồm cả người lao động tự do và người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức. Tăng mức đóng góp tầng thứ hai để bảo đảm quyền lợi cho người lao động khi về hưu. Đối với tầng thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tầng thứ ba, bao gồm cả về thủ tục tham gia và mức đóng góp. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến về tầng thứ ba để nâng cao nhận thức của người dân về chính sách này.

Thứ hai, cần sửa đổi các quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng đưa bảo hiểm hưu trí bổ sung về quỹ bảo hiểm xã hội. Quy định hiện hành về bảo hiểm hưu trí bổ sung cho phép người lao động có thu nhập cao hơn 20 lần mức lương cơ sở tham gia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hoạt động thương mại bảo hiểm hưu trí bổ sung cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả. Để cải thiện tình hình này, cần sửa đổi quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng đưa loại bảo hiểm này vào cùng một hệ thống với bảo hiểm xã hội do Nhà nước quản lý. Việc này có thể mở rộng đối tượng tham gia, bao gồm cả người lao động tự do và người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức. Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ được đầu tư theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, nên sẽ có thể bảo đảm mức hưởng cao hơn cho người lao động. Đồng thời, việc quản lý và giám sát cũng sẽ chặt chẽ hơn, ngăn chặn tình trạng trục lợi, lạm dụng quỹ. Tuy nhiên, khi đưa bảo hiểm hưu trí bổ sung vào cùng hệ thống bảo hiểm xã hội, cần bảo đảm rõ ràng về số tiền đóng góp được đầu tư như thế nào, kiểm tra rủi ro và cam kết lợi nhuận. Điều này giúp người lao động có sự tin tưởng và yên tâm tham gia.

Thứ ba, cần nghiên cứu nâng cao mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung. Để nâng cao mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung cần tăng mức đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung, cải cách cách tính mức hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung để bảo đảm mức hưởng phù hợp với mức sống của người dân, tăng cường đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung theo hướng an toàn, hiệu quả để tăng nguồn thu cho quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Thứ tư, quản lý và giám sát chặt chẽ quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Cụ thể: Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm hưu trí bổ sung; sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý và giám sát quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; các bên liên quan bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm hưu trí bổ sung… cần nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Hoàng Văn Nhất

Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội


[1] Torben M. Andersen (2022), Hệ thống hưu trí Đan Mạch trong một so sánh quốc tế, Nxb. Đại học Oxford.

[2] Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[3] Lê Hữu Việt, 21/05/2023, Lý do chỉ gần 900 người tham gia quỹ hưu trí trong 7 năm, Báo Tiền Phong, https://tienphong.vn/ly-do-chi-gan-900-nguoi-tham-gia-quy-huu-tri-trong-7-nam-post1536157.tpo.

[4] Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[5] Đỗ Thoa - Kim Thanh, 22/12/2021, Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện: Cần một “cú hích” mạnh, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/multimedia/mega-story/chinh-sach-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-can-mot-cu-hich-manh-601053.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: