Thứ năm 28/05/2026 00:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về công tác lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay

Đối với những nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương hoặc quy định những biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế ở địa phương thì cơ quan, tổ chức đề nghị bắt buộc phải lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện ở nhiều địa phương cho thấy phạm vi nghị quyết cần phải lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách là quá rộng làm hạn chế khả năng phản ứng nhanh của chính quyền địa phương đối với những vấn đề cấp bách của xã hội. Bài viết về thực trạng và những hạn chế, bất cập trong công tác lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng của công tác này trong thời gian tới khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 bắt đầu có hiệu lực.

1. Thực tiễn công tác lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay

Lập đề nghị xây dựng nghị quyết là giai đoạn đầu tiên trong quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh. Giai đoạn này chỉ áp dụng đối với nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL)[1] của HĐND cấp tỉnh mà không áp dụng đối với cấp huyện và cấp xã. Tuy nhiên, không phải nghị quyết nào do HĐND cấp tỉnh cũng phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015), nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh được chia thành hai nhóm: (i) Nhóm nghị quyết quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên[2]; (ii) Nhóm nghị quyết được ban hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của HĐND cấp tỉnh[3]. Đối với nhóm nghị quyết thứ nhất, cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết không phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết mà có trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trình Thường trực HĐND xem xét, quyết định về việc xây dựng nghị quyết. Những nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được ban hành trong trường hợp này gần như phụ thuộc vào quy định của các VBQPPL có liên quan có giao cho HĐND quy định chi tiết hay không. Đối với nhóm nghị quyết thứ hai, những nghị quyết quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương hoặc quy định những biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương thì cơ quan, tổ chức đề nghị bắt buộc phải lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách. Tuy nhiên, quá trình thực hiện ở nhiều địa phương cho thấy, phạm vi nghị quyết cần phải lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách là quá rộng làm hạn chế khả năng phản ứng nhanh của chính quyền địa phương đối với những vấn đề cấp bách của xã hội. Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 (Luật năm 2020) đã bỏ yêu cầu lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách đối với nghị quyết của HĐND cấp tỉnh tại khoản 2, khoản 3 Điều 27. Tuy không lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách nhưng vẫn phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động của chính sách để gửi thẩm định, thẩm tra, trình các cơ quan có thẩm quyền.

1.1. Nhiệm vụ của chủ thể có quyền đề nghị xây dựng nghị quyết

Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, các ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh là các chủ thể có quyền đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh. Các chủ thể này căn cứ vào VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan, tổ chức, đại biểu HĐND có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.

Đối với những nghị quyết có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì khi xây dựng nghị quyết, cơ quan đề nghị phải tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá các VBQPPL hiện hành có liên quan; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo, đồng thời, tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng; xây dựng nội dung chính sách[4]. Có thể thấy, những nội dung mà cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết phải thực hiện theo Luật năm 2020 có nhiều việc cần phải thực hiện và chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, chẳng hạn như:

Thứ nhất, việc tổ chức nghiên cứu điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Theo ước tính, Việt Nam đã tham gia hơn 2.000 điều ước quốc tế[5], tuy nhiên cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, thống nhất nên việc tìm kiếm điều ước quốc tế để rà soát, đánh giá là tương đối khó khăn ở các địa phương. Mặc dù, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc quy định trách nhiệm của cơ quan lập đề nghị đối với nội dung này là vô cùng cần thiết, nhưng để đội ngũ cán bộ có thể nắm và hiểu rõ, từ đó, tham mưu xây dựng chính sách tại địa phương không trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì đòi hỏi phải xây dựng được hệ cơ sở dữ liệu đồng bộ trên toàn quốc và có sự hướng dẫn cụ thể cách thức nghiên cứu các điều ước quốc tế.

Thứ hai, việc xây dựng nội dung, đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết được coi là điểm mới có tính đột phá trong quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo quy định của Luật năm 2015 (vẫn tiếp tục được kế thừa tại Luật năm 2020), tuy nhiên, vẫn còn tình trạng nhiều nghị quyết được ban hành chưa phù hợp với thực tiễn, đi vào cuộc sống một cách hiệu quả. Hầu hết các tờ trình, bản báo cáo thuyết minh cho đề nghị xây dựng nghị quyết khi đề cập đến các vấn đề phát sinh, cũng như giải pháp chính sách, thì hầu như không có các số liệu định tính, định lượng để minh chứng cho việc nhận diện vấn đề, cũng như căn cứ lựa chọn chính sách - giải pháp chính sách.

Thứ ba, mặc dù pháp luật đã “trao” quyền lập đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh cho một số chủ thể nhất định là UBND cấp tỉnh, các ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, nhưng thực tế qua khảo sát ở một số tỉnh, thành, nhiệm vụ này chủ yếu đều do UBND cấp tỉnh thực hiện, còn các chủ thể khác thì rất ít, dường như đã “quên” mất quyền năng của mình mà pháp luật đã trao cho.

1.2. Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết và hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết

Hoạt động lấy ý kiến thực chất là hoạt động thu thập bằng chứng với các thông tin định tính và định lượng. Kết quả của hoạt động lấy ý kiến sẽ là chất liệu thực tiễn cho việc hoạch định chính sách trong quá trình lập pháp. Chính sách được hoạch định dựa vào kết quả lấy ý kiến như vậy sẽ được coi là chính sách dựa trên bằng chứng. Quá trình này được coi là quá trình “đưa cuộc sống vào pháp luật”, làm cho pháp luật bắt nhịp được với sự biến động, phát triển của đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn cho thấy nhiều bất cập trong hoạt động này:

(i) Khoản 1 Điều 113 Luật năm 2015 (Luật năm 2020 không có thay đổi) chỉ đề cập tới trách nhiệm lấy ý kiến của cơ quan mà không bao gồm tổ chức mặc dù chủ thể có quyền đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh có cả tổ chức (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh).

(ii) Thời gian lấy ý kiến được quy định ít nhất là 30 ngày nhưng việc đăng tải toàn văn hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trên cổng thông tin điện tử của tỉnh chưa thu hút được sự chú ý cũng như quan tâm của các tầng lớp nhân dân, có những hồ sơ đăng tải trên cổng thông tin điện tử nhưng khi kiểm tra ý kiến góp ý, nhận xét thì hầu như không có, số lượng truy cập vào xem cũng thấp[6].

(iii) Trách nhiệm giải trình đối với các ý kiến đóng góp cũng là một vấn đề còn nhiều bất cập trên thực tế.

Việc lập hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết thuộc trách nhiệm cơ quan, tổ chức đề nghị xây dựng nghị quyết. Hồ sơ bao gồm: Tờ trình đề nghị xây dựng nghị quyết; báo cáo đánh giá tác động chính sách; báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách… Tuy nhiên, khi trình hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết tới Thường trực HĐND cấp tỉnh ngoài những tài liệu nêu trên thì cần phải có thêm Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của Sở Tư pháp và quyết định thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 116 Luật năm 2015. Với quy định này, đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình cần phải có thêm quyết định thông qua chính sách của chính UBND cấp tỉnh, nhưng tờ trình về đề nghị xây dựng nghị quyết trong hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết đã thể hiện việc UBND cấp tỉnh thông qua chính sách trong đề nghị của mình. Do đó, việc yêu cầu UBND cấp tỉnh phải có thêm quyết định thông qua chính sách trong hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết là trùng lặp, thêm thủ tục và không cần thiết.

1.3. Thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết

Thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết là hoạt động bắt buộc do Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình. Từ khi Luật năm 2015 có hiệu lực, theo thống kê trên phạm vi cả nước, Sở Tư pháp của các tỉnh đã tiến hành thẩm định một số lượng lớn đề nghị xây dựng nghị quyết tăng dần qua các năm.

Về cơ bản, thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình gồm các bước sau: (i) Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết gửi hồ sơ thẩm định tới Sở Tư pháp; (ii) Sở Tư pháp và các cơ quan hữu quan tiến hành thẩm định trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ; (iii) Chậm nhất sau 10 ngày kể từ khi kết thúc thẩm định, Sở Tư pháp phải gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết nêu rõ đề nghị đủ hay chưa đủ điều kiện trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định; (iv) Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý đề nghị xây dựng nghị quyết và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo đề nghị xây dựng nghị quyết đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình UBND cấp tỉnh dự thảo nghị quyết.

Thực tế, hoạt động thẩm định cũng gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định:

Một là, Luật năm 2015 và Luật năm 2020 đều không quy định nội dung thẩm định đối với đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cấp tỉnh trình, cho nên các cơ quan thẩm định đều phải dựa trên những nội dung thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ[7] trình để thực hiện. Rõ ràng, luật, pháp lệnh và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh là những loại văn bản có tính chất khác nhau và do các cơ quan ban hành hoàn toàn khác nhau, do đó, việc viện dẫn, áp dụng tương tự như vậy sẽ dẫn tới không chính xác.

Hai là, việc thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết theo quy định của Luật năm 2015 chỉ thực hiện đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình, nhưng tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) lại quy định các cơ quan, tổ chức đề nghị xây dựng nghị quyết đều phải có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến Sở Tư pháp để thẩm định, bao gồm cả các đề nghị xây dựng nghị quyết do các ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh thực hiện. Như vậy, giữa quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã không có sự thống nhất.

1.4. Trình và thông qua đề nghị xây dựng nghị quyết

Trước khi các cơ quan, tổ chức đề nghị xây dựng nghị quyết chuẩn bị và trình hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết lên Thường trực HĐND cấp tỉnh để quyết định thì phải tiến hành việc thông qua chính sách. Đối với các đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình thì việc thông qua chính sách được tiến hành chặt chẽ, bảo đảm dân chủ khi UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để thông qua các chính sách trong từng đề nghị xây dựng nghị quyết vào phiên họp thường kỳ của UBND cấp tỉnh; còn đối với các đề nghị xây dựng nghị quyết do các ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình thì thực tế hiện nay được thực hiện đơn giản, thiếu chặt chẽ. Điều này một phần cũng bởi Luật năm 2015 không có hướng dẫn rõ ràng về cách thức thực hiện mà chỉ quy định một cách chung chung việc các cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết phải có “trách nhiệm” thông qua chính sách, còn thông qua chính sách như thế nào thì luật không quy định.

2. Một số kiến nghị

2.1. Bổ sung thủ tục thông qua chính sách đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình

Mặc dù số lượng đề nghị xây dựng nghị quyết do các ban của HĐND cấp tỉnh và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình tương đối “lép vế” so với các đề nghị xây dựng nghị quyết của UBND cấp tỉnh, tuy nhiên, điều này càng cần phải quy định cụ thể hơn cách thức thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của các chủ thể này tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể thực hiện thẩm quyền của mình. Thiết nghĩ trong thời gian tới, khi ban hành nghị định thay thế cho Nghị định số 34/2016/NĐ-CP cần phải bổ sung quy định về cách thức thông qua chính sách đối với đề nghị xây dựng nghị quyết của các ban của HĐND cấp tỉnh và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh theo hướng thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số giống như cách làm của UBND cấp tỉnh hiện nay.

2.2. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khi thực hiện việc lấy ý kiến đề nghị xây dựng nghị quyết

Việc lấy ý kiến đối với chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết phải được thể chế hóa là nghĩa vụ của cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết, đồng thời cũng là quyền của công chúng. Bổ sung chủ thể có trách nhiệm lấy ý kiến không chỉ có cơ quan mà cả tổ chức có quyền lập đề nghị xây dựng nghị quyết. Bên cạnh đó, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm lấy ý kiến cần phải lên danh sách cụ thể những đối tượng cần lấy ý kiến đối với chính sách và xây dựng một bản báo cáo tổng hợp các ý kiến thu được sau khi hết hạn lấy ý kiến. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức lấy ý kiến chính sách nhưng “bỏ sót” hoặc thực hiện không đúng thủ tục thì sẽ bị xem xét áp dụng hình thức chế tài nhất định và phải thực hiện lại toàn bộ quy trình.

2.3. Sửa đổi quy định về công tác thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết

Để khắc phục những tồn tại, tác giả kiến nghị khi ban hành nghị định thay thế Nghị định số 34/2016/NĐ-CP cần phải bổ sung quy định “tất cả các đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đều phải gửi đến Sở Tư pháp để tiến hành thẩm định”. Hơn nữa, cần tăng cường kỷ cương trong công tác thẩm định về chính sách/giải pháp chính sách; không chấp nhận “bỏ lọt” những chính sách đề xuất không dựa trên bằng chứng trong hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết; không chấp nhận những đề nghị xây dựng nghị quyết với những chính sách không dựa trên những thông tin định tính, định lượng, mà chỉ dựa trên những lập luận chủ quan. Để thực hiện được điều này, cần phải có cơ chế tham vấn giữa cơ quan thẩm định là Sở Tư pháp với công chúng, giúp tăng cường năng lực thẩm định.

2.4. Quy định cụ thể nội dung thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết

Có thể khẳng định, nội dung thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đang được các địa phương viện dẫn tới nội dung thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để thực hiện như hiện nay là bất hợp lý bởi đây là hai thủ tục do hai chủ thể khác nhau tiến hành. Cho nên, cần có quy định cụ thể về vấn đề này để đảm bảo các địa phương thực hiện thống nhất, hiệu quả.

2.5. Nâng cao chất lượng phân tích chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết

Để các nghị quyết của HĐND cấp tỉnh dễ đi vào đời sống, hay thực tiễn cuộc sống được phản ánh kịp thời thành các quy định nghị quyết, thì cần thiết xây dựng hệ thống chính sách tốt. Mặt khác, chỉ khi thực hiện tốt việc phân tích chính sách để phát hiện đúng vấn đề, đề xuất và chọn lựa đúng phương án, đánh giá toàn diện việc thực thi thì mới góp phần giải quyết được tình trạng chính sách và pháp luật xa rời đời sống xã hội. Nhiều địa phương vẫn chưa phân định rõ giữa khâu phân tích chính sách và khâu soạn thảo (quy phạm hóa chính sách) dẫn đến không ít trường hợp người không có chuyên môn pháp luật thì thực hiện nhiệm vụ soạn thảo văn bản, còn người không có chuyên môn phân tích chính sách vẫn phải thực hiện nhiệm vụ phân tích, hoạch định chính sách. Do đó, để khắc phục tình trạng này, mỗi địa phương nên có một bộ phận chuyên môn về chính sách công trực thuộc UBND cấp tỉnh để đảm bảo chất lượng phân tích chính sách, hỗ trợ hoạt động thẩm tra, hoặc đề nghị xây dựng nghị quyết của các chủ thể có thẩm quyền.

Thêm nữa, hoạt động nghiên cứu chính sách và phân tích chính sách có phạm vi rất rộng và đòi hỏi kiến thức đa ngành mà các chuyên viên không thể đảm trách tất cả. Do đó, một phần việc quan trọng là xây dựng được mạng lưới các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực cùng cộng tác. Các cơ quan phục vụ đóng vai trò kết nối, chuyển tải các nghiên cứu chuyên sâu về chính sách và phân tích chính sách đến với các đại biểu HĐND cấp tỉnh. Đồng thời, tăng cường các hoạt động nghiên cứu, xuất bản ấn phẩm khoa học, hội thảo chuyên đề liên quan đến lĩnh vực chính sách công sẽ góp phần thúc đẩy sự hợp tác, liên kết giữa các cơ quan phục vụ, viện nghiên cứu, trường đại học trực thuộc, các chuyên gia với đại biểu HĐND cấp tỉnh. Làm tốt công việc này thì các hoạt động thẩm định, thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết sẽ đạt chất lượng, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng nghị quyết.

ThS. Hoàng Ngọc Hải
Đại học Văn hóa Hà Nội


[1]. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình ở địa phương, HĐND cấp tỉnh có quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật và nghị quyết cá biệt. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập tới nghị quyết là VBQPPL của HĐND cấp tỉnh.

[2]. Xem khoản 1 Điều 27 Luật năm 2015.

[3]. Xem các khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật năm 2015.

[4]. Điều 112 Luật năm 2015.

[5]. http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Chinh-tri/793072/viet-nam-da-ky-phe-chuan-gia-nhap-gan-2000-dieu-uoc-quoc-te.

[6]. https://stp.binhduong.gov.vn/xaydungkiemtravbqppl/Lists/CongTacXayDungVBQPPL/DispForm.aspx? ID=33&ContentTypeId=0x01006B434E144EA34B09B66CBCE45AAE3E9100F39E7D4F120745419A785CDD336F07C0 (truy cập ngày 25/5/2020); https://haugiang.gov.vn/xin-y-kien-nhan-dan (truy cập ngày 23/12/2020); http://duthaovanban.nghean.gov.vn/ (truy cập ngày 24/12/2020).

[7]. Xem khoản 3 Điều 39 Luật năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: