Thứ ba 22/09/2026 09:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về công tác lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay

Đối với những nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương hoặc quy định những biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế ở địa phương thì cơ quan, tổ chức đề nghị bắt buộc phải lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện ở nhiều địa phương cho thấy phạm vi nghị quyết cần phải lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách là quá rộng làm hạn chế khả năng phản ứng nhanh của chính quyền địa phương đối với những vấn đề cấp bách của xã hội. Bài viết về thực trạng và những hạn chế, bất cập trong công tác lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng của công tác này trong thời gian tới khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 bắt đầu có hiệu lực.

1. Thực tiễn công tác lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay

Lập đề nghị xây dựng nghị quyết là giai đoạn đầu tiên trong quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh. Giai đoạn này chỉ áp dụng đối với nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL)[1] của HĐND cấp tỉnh mà không áp dụng đối với cấp huyện và cấp xã. Tuy nhiên, không phải nghị quyết nào do HĐND cấp tỉnh cũng phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015), nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh được chia thành hai nhóm: (i) Nhóm nghị quyết quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên[2]; (ii) Nhóm nghị quyết được ban hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của HĐND cấp tỉnh[3]. Đối với nhóm nghị quyết thứ nhất, cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết không phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết mà có trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trình Thường trực HĐND xem xét, quyết định về việc xây dựng nghị quyết. Những nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được ban hành trong trường hợp này gần như phụ thuộc vào quy định của các VBQPPL có liên quan có giao cho HĐND quy định chi tiết hay không. Đối với nhóm nghị quyết thứ hai, những nghị quyết quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương hoặc quy định những biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương thì cơ quan, tổ chức đề nghị bắt buộc phải lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách. Tuy nhiên, quá trình thực hiện ở nhiều địa phương cho thấy, phạm vi nghị quyết cần phải lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách là quá rộng làm hạn chế khả năng phản ứng nhanh của chính quyền địa phương đối với những vấn đề cấp bách của xã hội. Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 (Luật năm 2020) đã bỏ yêu cầu lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách đối với nghị quyết của HĐND cấp tỉnh tại khoản 2, khoản 3 Điều 27. Tuy không lập đề nghị xây dựng quy trình chính sách nhưng vẫn phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động của chính sách để gửi thẩm định, thẩm tra, trình các cơ quan có thẩm quyền.

1.1. Nhiệm vụ của chủ thể có quyền đề nghị xây dựng nghị quyết

Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, các ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh là các chủ thể có quyền đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh. Các chủ thể này căn cứ vào VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan, tổ chức, đại biểu HĐND có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.

Đối với những nghị quyết có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì khi xây dựng nghị quyết, cơ quan đề nghị phải tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá các VBQPPL hiện hành có liên quan; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo, đồng thời, tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng; xây dựng nội dung chính sách[4]. Có thể thấy, những nội dung mà cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết phải thực hiện theo Luật năm 2020 có nhiều việc cần phải thực hiện và chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, chẳng hạn như:

Thứ nhất, việc tổ chức nghiên cứu điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Theo ước tính, Việt Nam đã tham gia hơn 2.000 điều ước quốc tế[5], tuy nhiên cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, thống nhất nên việc tìm kiếm điều ước quốc tế để rà soát, đánh giá là tương đối khó khăn ở các địa phương. Mặc dù, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc quy định trách nhiệm của cơ quan lập đề nghị đối với nội dung này là vô cùng cần thiết, nhưng để đội ngũ cán bộ có thể nắm và hiểu rõ, từ đó, tham mưu xây dựng chính sách tại địa phương không trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì đòi hỏi phải xây dựng được hệ cơ sở dữ liệu đồng bộ trên toàn quốc và có sự hướng dẫn cụ thể cách thức nghiên cứu các điều ước quốc tế.

Thứ hai, việc xây dựng nội dung, đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết được coi là điểm mới có tính đột phá trong quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo quy định của Luật năm 2015 (vẫn tiếp tục được kế thừa tại Luật năm 2020), tuy nhiên, vẫn còn tình trạng nhiều nghị quyết được ban hành chưa phù hợp với thực tiễn, đi vào cuộc sống một cách hiệu quả. Hầu hết các tờ trình, bản báo cáo thuyết minh cho đề nghị xây dựng nghị quyết khi đề cập đến các vấn đề phát sinh, cũng như giải pháp chính sách, thì hầu như không có các số liệu định tính, định lượng để minh chứng cho việc nhận diện vấn đề, cũng như căn cứ lựa chọn chính sách - giải pháp chính sách.

Thứ ba, mặc dù pháp luật đã “trao” quyền lập đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh cho một số chủ thể nhất định là UBND cấp tỉnh, các ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, nhưng thực tế qua khảo sát ở một số tỉnh, thành, nhiệm vụ này chủ yếu đều do UBND cấp tỉnh thực hiện, còn các chủ thể khác thì rất ít, dường như đã “quên” mất quyền năng của mình mà pháp luật đã trao cho.

1.2. Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết và hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết

Hoạt động lấy ý kiến thực chất là hoạt động thu thập bằng chứng với các thông tin định tính và định lượng. Kết quả của hoạt động lấy ý kiến sẽ là chất liệu thực tiễn cho việc hoạch định chính sách trong quá trình lập pháp. Chính sách được hoạch định dựa vào kết quả lấy ý kiến như vậy sẽ được coi là chính sách dựa trên bằng chứng. Quá trình này được coi là quá trình “đưa cuộc sống vào pháp luật”, làm cho pháp luật bắt nhịp được với sự biến động, phát triển của đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn cho thấy nhiều bất cập trong hoạt động này:

(i) Khoản 1 Điều 113 Luật năm 2015 (Luật năm 2020 không có thay đổi) chỉ đề cập tới trách nhiệm lấy ý kiến của cơ quan mà không bao gồm tổ chức mặc dù chủ thể có quyền đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh có cả tổ chức (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh).

(ii) Thời gian lấy ý kiến được quy định ít nhất là 30 ngày nhưng việc đăng tải toàn văn hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trên cổng thông tin điện tử của tỉnh chưa thu hút được sự chú ý cũng như quan tâm của các tầng lớp nhân dân, có những hồ sơ đăng tải trên cổng thông tin điện tử nhưng khi kiểm tra ý kiến góp ý, nhận xét thì hầu như không có, số lượng truy cập vào xem cũng thấp[6].

(iii) Trách nhiệm giải trình đối với các ý kiến đóng góp cũng là một vấn đề còn nhiều bất cập trên thực tế.

Việc lập hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết thuộc trách nhiệm cơ quan, tổ chức đề nghị xây dựng nghị quyết. Hồ sơ bao gồm: Tờ trình đề nghị xây dựng nghị quyết; báo cáo đánh giá tác động chính sách; báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách… Tuy nhiên, khi trình hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết tới Thường trực HĐND cấp tỉnh ngoài những tài liệu nêu trên thì cần phải có thêm Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của Sở Tư pháp và quyết định thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 116 Luật năm 2015. Với quy định này, đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình cần phải có thêm quyết định thông qua chính sách của chính UBND cấp tỉnh, nhưng tờ trình về đề nghị xây dựng nghị quyết trong hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết đã thể hiện việc UBND cấp tỉnh thông qua chính sách trong đề nghị của mình. Do đó, việc yêu cầu UBND cấp tỉnh phải có thêm quyết định thông qua chính sách trong hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết là trùng lặp, thêm thủ tục và không cần thiết.

1.3. Thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết

Thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết là hoạt động bắt buộc do Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình. Từ khi Luật năm 2015 có hiệu lực, theo thống kê trên phạm vi cả nước, Sở Tư pháp của các tỉnh đã tiến hành thẩm định một số lượng lớn đề nghị xây dựng nghị quyết tăng dần qua các năm.

Về cơ bản, thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình gồm các bước sau: (i) Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết gửi hồ sơ thẩm định tới Sở Tư pháp; (ii) Sở Tư pháp và các cơ quan hữu quan tiến hành thẩm định trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ; (iii) Chậm nhất sau 10 ngày kể từ khi kết thúc thẩm định, Sở Tư pháp phải gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết nêu rõ đề nghị đủ hay chưa đủ điều kiện trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định; (iv) Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý đề nghị xây dựng nghị quyết và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo đề nghị xây dựng nghị quyết đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình UBND cấp tỉnh dự thảo nghị quyết.

Thực tế, hoạt động thẩm định cũng gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định:

Một là, Luật năm 2015 và Luật năm 2020 đều không quy định nội dung thẩm định đối với đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cấp tỉnh trình, cho nên các cơ quan thẩm định đều phải dựa trên những nội dung thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ[7] trình để thực hiện. Rõ ràng, luật, pháp lệnh và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh là những loại văn bản có tính chất khác nhau và do các cơ quan ban hành hoàn toàn khác nhau, do đó, việc viện dẫn, áp dụng tương tự như vậy sẽ dẫn tới không chính xác.

Hai là, việc thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết theo quy định của Luật năm 2015 chỉ thực hiện đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình, nhưng tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) lại quy định các cơ quan, tổ chức đề nghị xây dựng nghị quyết đều phải có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến Sở Tư pháp để thẩm định, bao gồm cả các đề nghị xây dựng nghị quyết do các ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh thực hiện. Như vậy, giữa quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã không có sự thống nhất.

1.4. Trình và thông qua đề nghị xây dựng nghị quyết

Trước khi các cơ quan, tổ chức đề nghị xây dựng nghị quyết chuẩn bị và trình hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết lên Thường trực HĐND cấp tỉnh để quyết định thì phải tiến hành việc thông qua chính sách. Đối với các đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình thì việc thông qua chính sách được tiến hành chặt chẽ, bảo đảm dân chủ khi UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để thông qua các chính sách trong từng đề nghị xây dựng nghị quyết vào phiên họp thường kỳ của UBND cấp tỉnh; còn đối với các đề nghị xây dựng nghị quyết do các ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình thì thực tế hiện nay được thực hiện đơn giản, thiếu chặt chẽ. Điều này một phần cũng bởi Luật năm 2015 không có hướng dẫn rõ ràng về cách thức thực hiện mà chỉ quy định một cách chung chung việc các cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết phải có “trách nhiệm” thông qua chính sách, còn thông qua chính sách như thế nào thì luật không quy định.

2. Một số kiến nghị

2.1. Bổ sung thủ tục thông qua chính sách đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình

Mặc dù số lượng đề nghị xây dựng nghị quyết do các ban của HĐND cấp tỉnh và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình tương đối “lép vế” so với các đề nghị xây dựng nghị quyết của UBND cấp tỉnh, tuy nhiên, điều này càng cần phải quy định cụ thể hơn cách thức thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của các chủ thể này tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể thực hiện thẩm quyền của mình. Thiết nghĩ trong thời gian tới, khi ban hành nghị định thay thế cho Nghị định số 34/2016/NĐ-CP cần phải bổ sung quy định về cách thức thông qua chính sách đối với đề nghị xây dựng nghị quyết của các ban của HĐND cấp tỉnh và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh theo hướng thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số giống như cách làm của UBND cấp tỉnh hiện nay.

2.2. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khi thực hiện việc lấy ý kiến đề nghị xây dựng nghị quyết

Việc lấy ý kiến đối với chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết phải được thể chế hóa là nghĩa vụ của cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết, đồng thời cũng là quyền của công chúng. Bổ sung chủ thể có trách nhiệm lấy ý kiến không chỉ có cơ quan mà cả tổ chức có quyền lập đề nghị xây dựng nghị quyết. Bên cạnh đó, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm lấy ý kiến cần phải lên danh sách cụ thể những đối tượng cần lấy ý kiến đối với chính sách và xây dựng một bản báo cáo tổng hợp các ý kiến thu được sau khi hết hạn lấy ý kiến. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức lấy ý kiến chính sách nhưng “bỏ sót” hoặc thực hiện không đúng thủ tục thì sẽ bị xem xét áp dụng hình thức chế tài nhất định và phải thực hiện lại toàn bộ quy trình.

2.3. Sửa đổi quy định về công tác thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết

Để khắc phục những tồn tại, tác giả kiến nghị khi ban hành nghị định thay thế Nghị định số 34/2016/NĐ-CP cần phải bổ sung quy định “tất cả các đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đều phải gửi đến Sở Tư pháp để tiến hành thẩm định”. Hơn nữa, cần tăng cường kỷ cương trong công tác thẩm định về chính sách/giải pháp chính sách; không chấp nhận “bỏ lọt” những chính sách đề xuất không dựa trên bằng chứng trong hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết; không chấp nhận những đề nghị xây dựng nghị quyết với những chính sách không dựa trên những thông tin định tính, định lượng, mà chỉ dựa trên những lập luận chủ quan. Để thực hiện được điều này, cần phải có cơ chế tham vấn giữa cơ quan thẩm định là Sở Tư pháp với công chúng, giúp tăng cường năng lực thẩm định.

2.4. Quy định cụ thể nội dung thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết

Có thể khẳng định, nội dung thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đang được các địa phương viện dẫn tới nội dung thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để thực hiện như hiện nay là bất hợp lý bởi đây là hai thủ tục do hai chủ thể khác nhau tiến hành. Cho nên, cần có quy định cụ thể về vấn đề này để đảm bảo các địa phương thực hiện thống nhất, hiệu quả.

2.5. Nâng cao chất lượng phân tích chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết

Để các nghị quyết của HĐND cấp tỉnh dễ đi vào đời sống, hay thực tiễn cuộc sống được phản ánh kịp thời thành các quy định nghị quyết, thì cần thiết xây dựng hệ thống chính sách tốt. Mặt khác, chỉ khi thực hiện tốt việc phân tích chính sách để phát hiện đúng vấn đề, đề xuất và chọn lựa đúng phương án, đánh giá toàn diện việc thực thi thì mới góp phần giải quyết được tình trạng chính sách và pháp luật xa rời đời sống xã hội. Nhiều địa phương vẫn chưa phân định rõ giữa khâu phân tích chính sách và khâu soạn thảo (quy phạm hóa chính sách) dẫn đến không ít trường hợp người không có chuyên môn pháp luật thì thực hiện nhiệm vụ soạn thảo văn bản, còn người không có chuyên môn phân tích chính sách vẫn phải thực hiện nhiệm vụ phân tích, hoạch định chính sách. Do đó, để khắc phục tình trạng này, mỗi địa phương nên có một bộ phận chuyên môn về chính sách công trực thuộc UBND cấp tỉnh để đảm bảo chất lượng phân tích chính sách, hỗ trợ hoạt động thẩm tra, hoặc đề nghị xây dựng nghị quyết của các chủ thể có thẩm quyền.

Thêm nữa, hoạt động nghiên cứu chính sách và phân tích chính sách có phạm vi rất rộng và đòi hỏi kiến thức đa ngành mà các chuyên viên không thể đảm trách tất cả. Do đó, một phần việc quan trọng là xây dựng được mạng lưới các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực cùng cộng tác. Các cơ quan phục vụ đóng vai trò kết nối, chuyển tải các nghiên cứu chuyên sâu về chính sách và phân tích chính sách đến với các đại biểu HĐND cấp tỉnh. Đồng thời, tăng cường các hoạt động nghiên cứu, xuất bản ấn phẩm khoa học, hội thảo chuyên đề liên quan đến lĩnh vực chính sách công sẽ góp phần thúc đẩy sự hợp tác, liên kết giữa các cơ quan phục vụ, viện nghiên cứu, trường đại học trực thuộc, các chuyên gia với đại biểu HĐND cấp tỉnh. Làm tốt công việc này thì các hoạt động thẩm định, thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết sẽ đạt chất lượng, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng nghị quyết.

ThS. Hoàng Ngọc Hải
Đại học Văn hóa Hà Nội


[1]. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình ở địa phương, HĐND cấp tỉnh có quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật và nghị quyết cá biệt. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập tới nghị quyết là VBQPPL của HĐND cấp tỉnh.

[2]. Xem khoản 1 Điều 27 Luật năm 2015.

[3]. Xem các khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật năm 2015.

[4]. Điều 112 Luật năm 2015.

[5]. http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Chinh-tri/793072/viet-nam-da-ky-phe-chuan-gia-nhap-gan-2000-dieu-uoc-quoc-te.

[6]. https://stp.binhduong.gov.vn/xaydungkiemtravbqppl/Lists/CongTacXayDungVBQPPL/DispForm.aspx? ID=33&ContentTypeId=0x01006B434E144EA34B09B66CBCE45AAE3E9100F39E7D4F120745419A785CDD336F07C0 (truy cập ngày 25/5/2020); https://haugiang.gov.vn/xin-y-kien-nhan-dan (truy cập ngày 23/12/2020); http://duthaovanban.nghean.gov.vn/ (truy cập ngày 24/12/2020).

[7]. Xem khoản 3 Điều 39 Luật năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: