Chủ nhật 05/04/2026 04:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong pháp luật thương mại Việt Nam

Trong bài viết này, tác giả Đỗ Phương Thảo đã đi sâu phân tích một số nội dung chính như: (i) Sự cần thiết phải nghiên cứu những vấn đề pháp lý về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại; (ii) Thực trạng pháp luật thương mại Việt Nam về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại; (iii) Một số kiến nghị mang tính nguyên tắc để xây dựng khái niệm đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Nhượng quyền thương mại bắt nguồn từ nhu cầu mong muốn mở rộng mạng lưới kinh doanh của các thương nhân trên thị trường. Nhằm khắc phục những nhược điểm của việc lựa chọn cách thức tự mình đầu tư vốn để hình thành kênh phân phối bán lẻ hoặc thông qua hệ thống đại lý thương mại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, các thương nhân đã sáng tạo ra một phương thức kinh doanh hoàn toàn khác biệt mang tên nhượng quyền thương mại. Đúng như tên gọi của mình, khi lựa chọn nhượng quyền thương mại là các thương nhân nhượng quyền đồng ý chuyển giao cho các thương nhân khác toàn bộ phương thức kinh doanh đã tạo nên chỗ đứng và danh tiếng của mình trên thị trường. Mô hình kinh doanh thành công mà thương nhân nhận quyền phải bỏ ra một số tiền không nhỏ trả cho bên nhượng quyền để được sử dụng hợp pháp đó chính là quyền thương mại. Đây là kết quả của sự nỗ lực sáng tạo không ngừng của bên nhượng quyền nhằm mục đích tạo ra một dấu ấn trong tâm trí người tiêu dùng về một sự trải nghiệm sản phẩm độc đáo, hoàn toàn khác biệt với các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự của các thương nhân khác trên thị trường.

1. Sự cần thiết phải nghiên cứu những vấn đề pháp lý về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các hoạt động thương mại được ghi nhận và tạo điều kiện phát triển. Trong vòng xoáy của sự phát triển đó, với tư cách là một hoạt động thương mại độc lập, nhượng quyền thương mại cũng đã chứng tỏ những bước tiến vượt bậc của mình. Thực tiễn cho thấy, hoạt động nhượng quyền thương mại có rất nhiều ưu điểm, như: Hạn chế rủi ro cho các chủ thể mới gia nhập thị trường; hạn chế các chi phí đầu tư; khả năng thành công cao do kinh doanh dưới tên một thương hiệu, một phương thức kinh doanh đã có sự kiểm nghiệm trên thực tế...

Nhượng quyền thương mại bắt nguồn từ nhu cầu mong muốn mở rộng mạng lưới kinh doanh của các thương nhân trên thị trường. Nhằm khắc phục những nhược điểm của việc lựa chọn cách thức tự mình đầu tư vốn để hình thành kênh phân phối bán lẻ hoặc thông qua hệ thống đại lý thương mại, các thương nhân đã sáng tạo ra một phương thức kinh doanh hoàn toàn khác biệt mang tên nhượng quyền thương mại. Đúng như tên gọi, khi lựa chọn nhượng quyền thương mại tức là các thương nhân nhượng quyền đồng ý chuyển giao cho các thương nhân khác toàn bộ phương thức kinh doanh đã tạo nên chỗ đứng và danh tiếng của mình trên thị trường. Mô hình kinh doanh thành công mà thương nhân nhận quyền phải bỏ ra một số tiền không nhỏ trả cho bên nhượng quyền để được sử dụng hợp pháp đó chính là quyền thương mại. Đây là kết quả của sự nỗ lực sáng tạo không ngừng của bên nhượng quyền nhằm mục đích tạo ra một dấu ấn trong tâm trí người tiêu dùng về một sự trải nghiệm sản phẩm độc đáo, hoàn toàn khác biệt với các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự của các thương nhân khác trên thị trường.

Do đó, các yếu tố chủ yếu cấu thành của quyền thương mại mà các bên trong quan hệ nhượng quyền trao cho nhau là các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ - những đối tượng tài sản vô hình, dễ dàng bị xâm phạm nhưng lại khó để có thể kiểm soát. Ngoài ra, tính chất độc lập về vốn cũng như hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền đã làm cho bên nhận quyền luôn có xu hướng muốn được thực hiện các hoạt động thương mại một cách độc lập, thoát ly khỏi sự kiểm soát của bên nhượng quyền. Trong khi đó, để duy trì sự vận hành ổn định của hệ thống nhượng quyền và bảo vệ tối đa các quyền sở hữu trí tuệ của mình, bên nhượng quyền luôn phải thực hiện việc giám sát chặt chẽ đối với toàn bộ hệ thống nhượng quyền mà cụ thể là các bên nhận quyền. Chính vì vậy, mối quan hệ được kết nối bởi sự hợp tác giữa các bên nhượng quyền và nhận quyền lại là mối quan hệ chứa đựng nhiều khả năng phát sinh những mâu thuẫn, tranh chấp trên thực tế. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền thương mại nói riêng cũng như hoạt động nhượng quyền nói chung chưa thực sự hoàn thiện, vừa thiếu và vừa yếu đặc biệt trong vấn đề ghi nhận và bảo hộ đối tượng của hoạt động thương mại đặc thù này.

Thực tế này đòi hỏi Việt Nam phải thiết lập một hành lang pháp lý an toàn và hiệu quả trong việc xác định, ghi nhận về quyền thương mại, cũng như xây dựng một cơ chế bảo vệ đối tượng đặc biệt này trước nguy cơ bị xâm phạm bởi chính bên nhận quyền hoặc các chủ thể bất kỳ trong xã hội. Từ đó, góp phần bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại trong quá trình vận hành của nền kinh tế.

2. Thực trạng pháp luật thương mại Việt Nam về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Về bản chất, quyền thương mại là yếu tố cốt lõi mà các bên hướng tới trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Trong quan hệ này, bên nhượng quyền phải chuyển giao cho bên nhận quyền “quyền tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền” (Điều 284 Luật Thương mại năm 2005).

Có thể thấy, với cách quy định như trên, Luật Thương mại năm 2005 đã không đề cập một cách trực tiếp về đối tượng được chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền chính là “quyền thương mại” mà lồng ghép một cách gián tiếp đối tượng này với các hoạt động cung ứng sản phẩm của bên nhượng quyền. Việc liệt kê các yếu tố được chuyển giao cho bên nhận quyền khi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh theo phương thức của bên nhượng quyền trong khái niệm hoạt động “nhượng quyền thương mại” dẫn đến hệ quả là không khái quát được đầy đủ các yếu tố mà bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền trong các trường hợp cụ thể trên thực tế. Bởi lẽ, để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các thương nhân sẽ không ngừng sáng tạo ra các phương thức kinh doanh hay mô hình cung ứng sản phẩm mang tính độc đáo, khác biệt. Sau khi áp dụng thành công phương thức kinh doanh này sẽ tiến hành chuyển giao lại nó cho các thương nhân khác để thu về một khoản lợi nhuận đồng thời mở rộng quy mô kinh doanh. Chính vì vậy, quyền thương mại mà các bên chuyển giao cho nhau trong hoạt động nhượng quyền hoàn toàn phụ thuộc vào sự sáng tạo của thương nhân nhượng quyền, chừng nào các thương nhân nhượng quyền còn tiếp tục sáng tạo thì các yếu tố cấu thành nên quyền thương mại còn tiếp tục có sự biến đổi và phát triển. Hay nói cách khác, quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền là một yếu tố động với nội hàm khái niệm có tính chất mở và do bên nhượng quyền xác định. Do đó, việc lựa chọn phương pháp liệt kê các yếu tố cấu thành nên quyền thương mại để mô tả hoạt động nhượng quyền là một phương pháp chưa thực sự phù hợp với bản chất của hoạt động thương mại đặc thù này.

Trong bối cảnh đó, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Thương mại (Nghị định số 35/2006/NĐ-CP) đã đề cập một cách trực tiếp hay nói cách khác đã định danh quyền thương mại trong hoạt động nhượng quyền tại khoản 6 Điều 3. Tuy nhiên, Nghị định này cũng như Luật Thương mại năm 2005 vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc nhất định, cụ thể như sau:

Một là, Luật Thương mại năm 2005 không gọi đối tượng chuyển giao của các bên trong quan hệ nhượng quyền bằng một tên gọi chính thức là quyền thương mại. Trong khi đó, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP mặc dù đã lý giải quyền thương mại như là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền mà các bên chuyển nhượng cho nhau nhưng thực tế nội dung của khái niệm này lại được triển khai một cách chưa hợp lý, chưa mang tính khoa học, chưa thể hiện được đặc điểm mang tính bản chất của hợp đồng nhượng quyền. Theo tác giả, “quyền thương mại” được đề cập trong Nghị định số 35/2006/NĐ-CP chính là đối tượng mà các bên chuyển giao cho nhau khi kinh doanh bằng phương thức nhượng quyền và như vậy, để đảm bảo được bản chất của hoạt động này thì đối tượng đó phải được mô tả theo phương pháp khái quát. Với cách định nghĩa của Nghị định số 35/2006/NĐ-CP dường như các nhà làm luật đang nhầm lẫn và chưa phân tách được đối tượng chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền thương mại (quyền thương mại) với việc phân loại các phương thức nhượng quyền. Do đó, bên cạnh việc định nghĩa đối tượng của hoạt động nhượng quyền chính là “quyền thương mại” bao gồm các yếu tố liên quan đến sở hữu trí tuệ mà bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền khi tiến hành hoạt động cung ứng dịch vụ và mua bán hàng hóa (khoản 6 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP) thì định nghĩa còn chỉ ra các cấp độ nhượng quyền (nhượng quyền sơ cấp, nhượng quyền thứ cấp). Vì vậy, cách xây dựng khái niệm quyền thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 hay cách chi tiết hóa đối tượng quyền thương mại trong Nghị định số 35/2006/NĐ-CP đều không phản ánh được bản chất của phương thức kinh doanh nhượng quyền.

Hai là, về phương pháp xây dựng khái niệm “quyền thương mại” trong Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP chưa thực sự hợp lý và mang tính khoa học. Cụ thể, trong Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 và khoản 6 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP đã sử dụng phương pháp liệt kê các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để mô tả về khái niệm quyền thương mại. Do đó, không tránh khỏi việc không đầy đủ, không bao quát hết được các tình huống phát sinh trên thực tế.

Bên cạnh đó, Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP cùng thống nhất trong việc liệt kê các bộ phận của quyền thương mại chỉ bao gồm: Quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh và quảng cáo của bên nhượng quyền. Trên thực tế, quyền thương mại mà các bên nhượng quyền và bên nhận quyền chuyển giao cho nhau có đối tượng đa dạng và phong phú hơn rất nhiều. Đối tượng đó có thể là bản quyền đối với các tài liệu hướng dẫn cách thức vận hành hệ thống dưới dạng văn bản, băng đĩa hoặc có thể là quyền đối với kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm được cung cấp bởi hệ thống nhượng quyền hay là bí mật kinh doanh, cách thức bài trí, cung cách phục vụ của nhân viên trong toàn hệ thống... Những đối tượng này không được đề cập trong khái niệm quyền thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP. Vô hình chung, thiếu sót này đã tạo ra một hệ quả là giữa pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền và thực tiễn của hoạt động này có sự khập khiễng, không tương xứng với nhau. Và sự không tương xứng này làm cho đối tượng của hợp đồng nhượng quyền chính là quyền thương mại không có cơ chế để pháp luật bảo vệ một cách đầy đủ và hoàn chỉnh hay nói cách khác, quyền đối với quyền thương mại của bên nhượng quyền đặt trước nguy cơ bị xâm phạm bởi một bên thứ ba bất kỳ hoặc bởi chính bên nhận quyền. Do đó, không tạo ra sự an toàn cho các thương nhân khi kinh doanh bằng phương thức nhượng quyền và như vậy sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động thương mại đặc biệt này.

Ba là, trong bối cảnh hoạt động nhượng quyền là một hoạt động mang tính động và nội dung của quyền thương mại sẽ luôn thay đổi theo sự sáng tạo của bên nhượng quyền, do đó, việc xây dựng một khái niệm về quyền thương mại theo phương thức liệt kê mang tính tĩnh mà pháp luật Việt Nam sử dụng sẽ có thể không bảo hộ được sự sáng tạo trong việc xác định các yếu tố được chuyển giao (quyền thương mại) của bên nhượng quyền. Bên cạnh đó, quy định về khái niệm quyền thương mại bằng phương pháp liệt kê các yếu tố bao hàm trong đó chỉ thể hiện được “quyền thương mại” là một phép cộng đơn giản của quyền sở hữu trí tuệ với các đối tượng nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh... mà không thể hiện được mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời của các yếu tố này - một đặc trưng mang tính bản chất của quan hệ nhượng quyền.

3. Một số kiến nghị mang tính nguyên tắc để xây dựng khái niệm đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Để khắc phục những thiếu sót của pháp luật hiện hành trong việc điều chỉnh đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại, có thể xem xét một số kiến nghị có tính chất nguyên tắc như sau:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam hiện hành cần phải bổ sung quy định về quyền thương mại với tư cách là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền mà các bên trong hoạt động này đã chuyển giao cho nhau. Để làm được điều này, chúng ta phải trả lời được một số câu hỏi, đó là: Quyền thương mại được hình thành như thế nào đối với bên nhượng quyền? Vì sao bên nhượng quyền lại có được quyền này? Quyền thương mại được đặc trưng bởi những yếu tố nào? Hiện nay, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP đã khẳng định: Quyền thương mại là quyền gắn với một loạt các yếu tố như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền. Như vậy, có thể hiểu, trước khi thực hiện việc trao cho bên nhận quyền khai thác sử dụng quyền thương mại, bên nhượng quyền bằng sự đầu tư và sáng tạo của mình đã thiết lập được quyền sử dụng hợp pháp các yếu tố cấu thành như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo - các dấu hiệu này có thể gọi là dấu hiệu nhận biết thương nhân hoặc dấu hiệu tập hợp khách hàng. Vậy, quyền thương mại chính là quyền được khai thác, sử dụng hợp pháp các dấu hiệu nói trên.

Thứ hai, khái niệm quyền thương mại cần phải đề cập đến mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên nó như một dấu hiệu nhận biết đặc trưng. Bởi lẽ, nếu các yếu tố sở hữu trí tuệ hiện diện trong quyền thương mại một cách hoàn toàn độc lập với nhau thì quan hệ nhượng quyền thương mại sẽ không khác biệt so với quan hệ chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc quan hệ chuyển giao công nghệ. Có thể nói, đặc điểm chính của quyền thương mại - đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại - chính là sự kết hợp trong một thể thống nhất của các dấu hiệu tập hợp khách hàng. Mỗi một dấu hiệu, khi tách riêng đều có ý nghĩa và đều có thể chuyển nhượng được thông qua các hợp đồng li-xăng và chuyển giao công nghệ, tuy nhiên, khi đứng một cách độc lập, chúng lại không hề có ý nghĩa đối với nhượng quyền thương mại. Xét về bản chất, tính đồng bộ và tính hệ thống của mạng lưới phân phối hàng hóa, dịch vụ là đặc trưng quan trọng nhất của hoạt động nhượng quyền thương mại. Vì vậy, mỗi một yếu tố bất kỳ trong các các yếu tố tập hợp khách hàng đều góp phần hoàn thiện tính đồng bộ và hệ thống của quan hệ nhượng quyền.

Ví dụ: Dùng một ly cà phê Gloria Jean’s ở Việt Nam, khách hàng không chỉ nhận thấy mình được thưởng thức cùng một loại cà phê với một cùng một công thức pha chế như ở Australia mà họ còn cảm thấy mình được sống trong không khí đặc trưng của Gloria Jean’s. Không khí ấy được tạo bởi màu sắc trang trí của những chiếc ô, những bức tường của quán, đồng phục của nhân viên, cách bố trí, sắp xếp bàn ghế, độ mát của máy điều hòa nhiệt độ, mùi vị của quán, cung cách chào hỏi của nhân viên và đặc biệt nhất là việc tự phục vụ của chính khách hàng. Để có được không khí đặc trưng này, việc chuyển giao đơn thuần và độc lập tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ và công nghệ không bao giờ được coi là đủ mà cao hơn những sự chuyển giao độc lập ấy, cần phải có một sự kết hợp ở mức nhuần nhuyễn và tinh tế giữa tất cả các yếu tố nhận biết thương nhân, tập hợp khách hàng đã đề cập ở trên.

Vì vậy, khi đưa ra định nghĩa về quyền thương mại, pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại nhất thiết phải đề cập tới sự kết hợp được coi là rất quan trọng giữa các dấu hiệu nhận biết thương nhân.

Thứ ba, nếu chỉ dừng lại ở việc giải quyết bất cập của pháp luật điều chỉnh quyền thương mại là bổ sung trong khái niệm quyền thương mại mối quan hệ của các yếu tố cấu thành nên nó thì vẫn chưa đủ mà quan trọng hơn là phải xác định yếu tố mang tính hạt nhân trong khái niệm quyền thương mại. Việc xác định hạt nhân của khái niệm quyền thương mại, hay nói cách khác, việc xác định yếu tố chủ yếu nhất trong một loạt các yếu tố tập hợp khách hàng cũng là một trong những yêu cầu cần thiết đối với pháp luật. Bởi vì, không phải quan hệ nhượng quyền nào cũng cho ra đời những sản phẩm giống hệt nhau. Tính đồng bộ và hệ thống của hoạt động nhượng quyền thương mại là không thể phủ nhận, tuy nhiên, đồng bộ đến mức độ nào còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Xem xét đến vấn đề này nhằm vạch ra một ranh giới để có thể phân biệt giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và các hoạt động thương mại cùng loại khác như li-xăng và chuyển giao công nghệ là một đòi hỏi cấp thiết. Pháp luật thương mại của Việt Nam dùng thuật ngữ “tên thương mại” của bên nhượng quyền như một yếu tố hạt nhân của quyền thương mại và yếu tố này sẽ được chuyển giao cho bên nhận quyền. Tuy nhiên, trên thực tế, các thương nhân nhượng quyền không chuyển giao một cách đầy đủ toàn bộ tên thương mại của mình cho bên nhận quyền, đến lượt mình, bên nhận quyền cũng không có nhu cầu sử dụng hết các yếu tố cấu thành tên thương mại của bên nhượng quyền. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, yếu tố hình thức doanh nghiệp (chỉ ra loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần) là một yếu tố bắt buộc phải có trong tên thương mại và trên thực tế, yếu tố này không đóng vai trò gì quan trọng đối với cả hệ thống nhượng quyền thương mại. Vậy, hạt nhân của quyền thương mại có phải là tên thương mại hay không, còn là một câu hỏi mà chưa có phương án trả lời chính thức.

Thực tế, nội dung của quyền thương mại trong quan hệ mà các thương nhân nhượng quyền và nhận quyền chuyển giao cho nhau bao gồm rất nhiều yếu tố. Không chỉ dừng lại ở tên thương mại, nhãn hiệu, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bí quyết kinh doanh như trong Luật Thương mại năm 2005 đã liệt kê mà có thể là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền tác giả đối các tài liệu hướng dẫn hay thậm chí là cả cung cách phục vụ, đồng phục của nhân viên, cách thức bài trí cửa hàng, thiết kế không gian trong cửa hàng... Để khắc phục tình trạng này, có thể thực hiện theo cách thức mở rộng nội hàm khái niệm quyền thương mại bằng việc bổ sung vào quy định trong Luật Thương mại năm 2005 các đối tượng đã nêu ở trên. Tuy nhiên, cách giải quyết này chỉ mang tính chất tạm thời, không thấu đáo. Vì thực tế hoạt động nhượng quyền của các thương nhân ngày càng phát triển, các đối tượng cấu thành nên quyền thương mại ngày một phong phú theo sự sáng tạo của bên nhượng quyền nên nếu giải quyết bằng cách bổ sung các đối tượng vào quy định của Luật thì sẽ dẫn đến tình trạng pháp luật thương mại luôn phải “chạy đua” theo thực tế. Do đó, nên giải quyết bất cập về pháp luật điều chỉnh quyền thương mại bằng cách xây dựng khái niệm quyền thương mại dưới dạng một “gói quyền” với nội dung mở. Việc xác định nội hàm của “gói quyền thương mại” trong hoạt động nhượng quyền thuộc về bên nhượng quyền trên cơ sở sự sáng tạo cũng như đặc điểm về lĩnh vực kinh doanh của mình xác định một cách phù hợp. Kiến nghị như vậy là vì thương nhân nhượng quyền là chủ thể sáng tạo và đặt nền móng cho hệ thống nhượng quyền tồn tại và phát triển. Vì vậy, họ sẽ có quyền và có khả năng xác định những yếu tố nào là cần thiết để hình thành nên mô hình kinh doanh thành công của mình để có thể nhượng lại cho các thương nhân khác cùng tiến hành hoạt động kinh doanh. Tất nhiên, cần phải có các nguyên tắc trong việc xác định các yếu tố cấu thành nên “gói quyền thương mại” để tránh sự lạm quyền của bên nhượng quyền có thể xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của toàn bộ hệ thống.

ThS. Đỗ Phương Thảo

Đại học Thương mại Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: