Thứ năm 16/07/2026 12:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

Bài viết khái quát về hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quản lý các lĩnh vực văn hóa của nước ta, nêu lên những kết quả đạt được và những hạn chế của hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực này.


1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

Để quản lý thị trường văn hóa, những văn bản pháp lý chung quan trọng nhất có thể kể đến là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009; Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị định số 21/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về việc quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác… Ngoài ra, mỗi lĩnh vực nghệ thuật cụ thể đều có một hệ thống văn bản pháp lý của mình, một số văn bản chính yếu, quan trọng nhất gồm:

1.1. Lĩnh vực điện ảnh

Trong lĩnh vực điện ảnh, các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng điều chỉnh hoạt động của ngành, qua đó phát triển thị trường điện ảnh, có thể kể đến: Luật Điện ảnh năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật Điện ảnh) và Nghị định số 54/2010/NĐ-CP ngày 21/5/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện ảnh số 62/2006/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh số 31/2009/QH12 (Nghị định số 54/2010/NĐ-CP). Luật Điện ảnh và Nghị định số 54/2010/NĐ-CP đã quy định những nội dung trong lĩnh vực điện ảnh như: Chính sách hiện đại hóa công nghiệp điện ảnh; chính sách khuyến khích tham gia hoạt động điện ảnh; chính sách đầu tư thông qua chương trình mục tiêu phát triển điện ảnh; chính sách sản xuất phim đặt hàng; chính sách tài trợ phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội, đối ngoại, phục vụ thiếu nhi, phục vụ lực lượng vũ trang; chính sách dành quỹ đất để xây dựng rạp chiếu phim trong quy hoạch đô thị; thành lập và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển điện ảnh; quy định những hành vi bị cấm trong hoạt động điện ảnh; tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp điện ảnh; lựa chọn dự án sản xuất phim có sử dụng ngân sách nhà nước; hộ gia đình in sang, nhân bản, bán/cho thuê phim có quy mô nhỏ, sử dụng thường xuyên dưới mười lao động; tỷ lệ và thời gian chiếu phim Việt Nam và phim cho trẻ em dưới 16 tuổi trên hệ thống rạp; thẩm quyền cấp giấy phép phổ biến phim; quy định về tổ chức, tham gia liên hoan phim, chiếu giới thiệu phim nước ngoài tại Việt Nam; cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất phim; xử lý vi phạm pháp luật về điện ảnh.

1.2. Lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

Khác với thị trường điện ảnh, thị trường biểu diễn chưa có văn bản luật về nghệ thuật biểu diễn điều chỉnh. Vì thế, để quản lý thị trường nghệ thuật biểu diễn hiện nay, có 03 văn bản pháp quy cao nhất là 03 nghị định của Chính phủ: Nghị định số 11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 về việc ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 về ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 04/01/2012) và Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2016/NĐ-CP ngày 15/3/2016). Trong đó, chỉ Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 là nghị định duy nhất dành riêng cho ngành nghệ thuật biểu diễn, còn 02 nghị định trước đó là quy chế chung về hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa nơi công cộng, bao gồm rất nhiều lĩnh vực, chứ không chỉ riêng nghệ thuật biểu diễn.

1.3. Lĩnh vực mỹ thuật

Trong lĩnh vực này có Nghị định số 113/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 của Chính phủ quy định về hoạt động mỹ thuật. Nội dung chính của Nghị định gồm có:

(i) Chính sách của Nhà nước về phát triển mỹ thuật.

(ii) Nội dung quản lý nhà nước về mỹ thuật: Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật về hoạt động mỹ thuật; phổ biến, giáo dục pháp luật về mỹ thuật; nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn và quản lý mỹ thuật; cấp, thu hồi giấy phép trong hoạt động mỹ thuật; tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động mỹ thuật; tuyển chọn và trao giải thưởng đối với cá nhân và tác phẩm mỹ thuật; tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế trong hoạt động mỹ thuật; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động mỹ thuật; thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động mỹ thuật.

1.4. Lĩnh vực xuất bản

Luật Xuất bản được ban hành năm 2012 bao gồm những nội dung chính: Bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm, bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan; quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển hoạt động xuất bản; tổ chức đọc, kiểm tra, thẩm định xuất bản phẩm lưu chiểu; cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xuất bản; nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong hoạt động xuất bản; đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động xuất bản; hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động xuất bản; tuyển chọn và trao giải thưởng đối với xuất bản phẩm có giá trị cao; chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản; những nội dung và hành vi bị cấm trong hoạt động xuất bản; xử lý vi phạm trong hoạt động xuất bản.

2. Đánh giá chung về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

2.1. Những kết quả đạt được

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là công cụ hữu hiệu quản lý thị trường văn hóa. Theo kết quả hệ thống hóa văn bản pháp lý trong lĩnh vực văn hóa có thể thấy rằng tất cả các lĩnh vực đều đã có các quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động từ luật, nghị định… hướng dẫn chi tiết và cụ thể, đã đưa hoạt động của thị trường văn hóa phát triển theo đúng mục tiêu, kế hoạch.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa không những tạo ra một môi trường nghệ thuật trong sạch, lành mạnh cho nước nhà, mà còn tạo hành lang pháp lý vững chắc và năng lực quản lý được nâng lên; với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trên, nước ta có một hệ thống văn bản quy phạm điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực hoạt động văn hóa, đánh dấu bước tiến đáng kể trong công tác xây dựng pháp luật ở lĩnh vực này, khắc phục tình trạng dàn trải, chồng chéo các văn bản quy phạm pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị tổ chức biểu diễn, các công ty, nhà sản xuất, nhà xuất bản. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp, người mẫu, lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu, xuất bản phẩm, điện ảnh, mỹ thuật... đã có những chuyển biến tích cực, đi vào nề nếp; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp về việc xin phép cũng như đơn giản hóa thủ tục tiếp nhận các đơn vị nghệ thuật tại địa phương.

Các quy định của pháp luật tương đối rõ ràng, cụ thể. Ngoài các quy định về thúc đẩy chính sách, điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia thị trường còn có các quy định về xử phạt vi phạm thể hiện tính răn đe, bảo đảm sự trong sạch của thị trường. Có thể nói, các sản phẩm văn hóa trên thị trường văn hóa hiện nay đã phát triển nhanh chóng và đa dạng, nhờ vào sự định hướng và điều chỉnh của hệ thống văn bản quản lý nhà nước đối với thị trường này. Nó chứng tỏ sự đúng đắn của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa và hiệu quả của chúng khi áp dụng trên thực tiễn.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận kể trên, việc quản lý thị trường văn hóa ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều biểu hiện tiêu cực vẫn diễn ra hàng ngày, gây nhiều tác động xấu tới đời sống xã hội. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng những hạn chế của hệ thống chính sách cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng.

2.2. Hạn chế của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

Thứ nhất, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều “kẽ hở”, dễ bị “lách” luật, bị lợi dụng để làm sai.

Một “kẽ hở” trong văn bản quản lý là việc thành lập doanh nghiệp tổ chức biểu diễn hiện nay chưa chặt chẽ, dẫn tới tình trạng những doanh nghiệp sai phạm, bị tước giấy phép hoặc bị đình chỉ tổ chức biểu diễn thì đổi tên doanh nghiệp là lại thành một đơn vị mới, tiếp tục hoạt động, các nhà quản lý không đủ cơ sở pháp lý để xử lý.

Một ví dụ khác là quy định vi phạm hành chính trong lĩnh vực băng đĩa lậu: Người mua băng đĩa lậu không dán nhãn hoặc dán nhãn giả với số lượng từ 10 bản trở lên sẽ bị phạt. Đây chính là điểm không phù hợp với thực tế, vì phần lớn khách mua lẻ với số lượng một vài chiếc, như thế, mặc dù có quy định xử phạt nhưng trên thực tế hầu như không ai bị phạt.

Trong lĩnh vực xuất bản, tình trạng sách bị in lậu “tràn lan” trong thời gian qua rất khó kiểm soát cũng là bởi một trong những lý do là chưa đầy đủ cơ sở pháp lý. Điển hình có thể kể đến là vụ bắt giữ 2,5 tấn sách lậu ở cơ sở in Huy Thi (Hà Nội). Bằng chứng rõ ràng nhưng khi Công ty Văn hóa sáng tạo FirstNews - Trí Việt kiện cơ sở in Huy Thi ra Tòa án, thì Trí Việt thua kiện vì không có đủ cơ sở pháp lý để kết tội Huy Thi[1]. Có thể thấy đây thể hiện là một “lỗ hổng” (chứ không phải chỉ là “kẽ hở”) trong các quy định của pháp luật hiện hành.

Những “kẽ hở” trong các văn bản pháp lý của chúng ta có khi còn đẩy cơ quan quản lý nhà nước vào những rắc rối, thậm chí phải ra trước vành móng ngựa. Ví dụ như vụ Cục Nghệ thuật biểu diễn bị Công ty Rồng Việt kiện vì đã thu hồi giấy phép mà Cục đã cấp cho công ty này để tổ chức cuộc thi “Nữ hoàng biển năm 2013”[2]. Phải đến vòng phúc thẩm Cục Nghệ thuật biểu diễn mới được tuyên thắng cuộc[3].

Thứ hai, chưa xây dựng được những bộ tiêu chí khoa học, rõ ràng và hợp lý.

Trên thực tế, vì chưa có bộ tiêu chí khoa học nên việc xét duyệt của các hội đồng đôi khi còn mang tính chủ quan, cảm tính; các tiêu chí thiên về khía cạnh văn hóa - tư tưởng, mà chưa chú ý đúng mức tới chức năng giải trí, chức năng kinh tế nhằm phát triển xã hội. Những tiêu chí định tính thường trừu tượng, ít nhiều bị phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người đánh giá. Ví dụ, những tiêu chí định tính như “bạo lực”, “khiêu dâm”, “không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”… thì không thể xác định được thế nào là “nhiều”, “ít” nên sự đánh giá chủ yếu dựa trên quan điểm cá nhân mỗi người.

Thứ ba, thiếu đồng bộ giữa các văn bản luật.

Thực hiện Công ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả mà Việt Nam đã ký cam kết thực hiện, tháng 10/2004, Cục Nghệ thuật biểu diễn đã ban hành văn bản yêu cầu các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, các đơn vị sản xuất, phát hành băng, đĩa ca múa nhạc, sân khấu trên toàn quốc khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc, sân khấu của tác giả nước ngoài dưới mọi hình thức (trừ những tác phẩm âm nhạc cổ điển đã hết thời gian bảo hộ quyền tác giả và các tác phẩm dân ca, dân gian các nước) phải được phép bằng văn bản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hoặc tổ chức đại diện hợp pháp quyền tác giả. Văn bản đó được bổ sung vào hồ sơ xin cấp phép biểu diễn, sản xuất, phát hành băng, đĩa. Tuy nhiên, đối với tác giả là người Việt Nam thì chưa có quy định tương tự để bảo vệ quyền lợi của họ. Thậm chí giấy tờ chứng minh sự cho phép sử dụng tác phẩm chỉ được yêu cầu trong hồ sơ xin phép sản xuất, lưu hành băng đĩa ca nhạc, sân khấu, còn hồ sơ xin phép công diễn lại không yêu cầu. Đây chính là một “kẽ hở” để các đơn vị tổ chức biểu diễn nghệ thuật trốn tránh nghĩa vụ đối với các tác giả. Điều này đã tạo điều kiện cho các đơn vị tổ chức biểu diễn cố tình không thực hiện nghĩa vụ về bản quyền theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, nhiều nhạc sĩ đã lên tiếng “chỉ trích” các đơn vị tổ chức biểu diễn và nhà sản xuất chương trình băng đĩa nhạc cố tình không thanh toán tác quyền khi sử dụng các ca khúc để kinh doanh.

Thứ tư, chưa xây dựng được hệ thống chế tài hợp lý để xử lý các vi phạm, chế tài xử lý vẫn còn thiếu và chưa đủ sức răn đe.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn hiện nay chưa có điều khoản nào quy định và cũng chưa có thế tài xử phạt hành vi cho mượn, cho thuê giấy phép biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, trong khi đây lại là một thực tế đang diễn ra. Tình trạng không thực hiện nghĩa vụ tác quyền như đã nêu ở các phần trên cũng là một biểu hiện cho thấy sự thiếu hụt các chế tài trong quản lý nghệ thuật biểu diễn. Không những thiếu chế tài, mà ngay cả khi đã xây dựng được chế tài rồi, thì rất nhiều chế tài chưa đủ sức răn đe. Điển hình là hiện tượng xuất bản sách lậu tràn ngập thị trường, bắt rồi phạt, thu rồi phạt… nhưng “đâu vẫn hoàn đó”, vì người vi phạm sẵn sàng nộp phạt rồi lại tái phạm với mức lãi gấp hàng chục, hàng trăm lần mức phạt. Ví dụ, trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, theo Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo thì các vi phạm về cho mượn, cho thuê giấy phép biểu nghệ thuật, trình diễn thời trang, chỉ bị phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, chưa đủ sức răn đe những đối tượng vi phạm hoặc Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại đã nêu rõ về hành vi và mức xử phạt đối với hành vi kinh doanh tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả, trong đó, mức phạt cao nhất là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nếu tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả có chất lượng trên 10.000 đơn vị. Mức phạt này so với lợi nhuận thu được về từ việc làm sách lậu thì “không thấm vào đâu” nên người vi phạm cứ nộp phạt rồi lại tiếp tục vi phạm, vì không những vẫn bù lại được khoản nộp phạt mà vẫn còn lãi lớn.

Với những hạn chế như vậy của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, dẫn đến những hạn chế trong công tác quản lý thị trường văn hóa. Công tác hoạch định đường lối, chính sách tuy đã được đầu tư nhiều công sức, nhưng vẫn bộc lộ nhiều kiếm khuyết, gây nên những bất cập cho công tác quản lý. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị tường văn hóa, chúng ta cần phải rà soát, kiểm tra và ban hành các văn bản quy phạm để điều chỉnh hoạt động văn hóa một cách hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế.

ThS. Lương Thị Hòa

Bộ Giáo dục và Đào tạo







[1]. Bảo Hà, Công ty giữ bản quyền thua kiện cơ sở đóng sách lậu. Báo điện tử VNExpress, ngày 27/8/2014, http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/cong-ty-giu-ban-quyen-thu-kien-co-so-dong-sach-lau-3037125.html.

[2]. Xem: https://plo.vn/thoi-su/cuc-nghe-thuat-bieu-dien-thua-kien-cong-ty-rong-viet-454843.html.

[3]. Xem: https://tuoitre.vn/toa-toi-cao-xu-cong-ty-to-chuc-nu-hoang-bien-thua-kien-644260.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.

Theo dõi chúng tôi trên: