Thứ bảy 29/11/2025 16:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử của Tòa án[1]

Bài viết phân tích các quan điểm khác nhau khi giải quyết một số vấn đề pháp lý về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa trên thực tiễn. Từ đó, tác giả đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa.

1. Khái quát quy định pháp luật về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa là loại hợp đồng phổ biến trên thị trường. Vì thế, hiệu lực của loại hợp đồng này là vấn đề được quan tâm cả về góc độ lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào (bao gồm Luật Thương mại - luật chuyên ngành điều chỉnh loại hợp đồng này) quy định về hiệu lực của hợp đồng. Do đó, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định theo Bộ luật Dân sự. Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Một hợp đồng khi giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác”. Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chi tiết các trường hợp hợp đồng vô hiệu tại các điều 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 408. Theo đó, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định cụ thể như sau:

- Chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân - đối tượng có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh. Đăng ký kinh doanh là điểm mấu chốt xác định năng lực chủ thể vì liên quan trực tiếp tới phạm vi hoạt động kinh doanh nói chung và mua bán hàng hóa nói riêng của thương nhân.

- Đại diện của các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải đúng thẩm quyền. Theo đó, người ký kết hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Người giao kết hợp đồng không đúng thẩm quyền thì sẽ là nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu, trừ trường hợp bên giao kết kia biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện.

- Mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

- Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải bảo đảm các nguyên tắc của hợp đồng theo quy định của pháp luật: Tự do giao kết nhưng không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực và ngay thẳng.

- Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Theo Điều 24 Luật Thương mại năm 2005 thì hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được ký kết dưới mọi hình thức, trừ những hợp đồng có quy định chuyên ngành như hợp đồng mua bán quốc tế, hợp đồng mua bán điện… thì bắt buộc phải bằng văn bản.

Việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 mới chỉ quy định chung về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu mà chưa có quy định rõ ràng, cụ thể cho từng trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn, dẫn đến tình trạng xử lý chưa thống nhất giữa các cơ quan nhà nước.

2. Một số bất cập trong thực tiễn xét xử của Tòa án về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

2.1. Hợp đồng có vô hiệu hay không khi chủ thể không có đăng ký kinh doanh?

Việc thương nhân bắt buộc có đăng ký kinh doanh đã đặt ra câu hỏi, hợp đồng mua bán hàng hóa có vô hiệu không khi nội dung hợp đồng không có trong đăng ký kinh doanh của thương nhân? Nhìn lại thực tiễn xét xử của Tòa án thì câu hỏi này đang được “trả lời” khác nhau qua các thời kỳ.

- Trong thời kỳ Luật Thương mại năm 1997 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 có hiệu lực thi hành, hợp đồng vô hiệu do không có đăng ký kinh doanh nếu “một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng” (điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989)[2]. Tuy nhiên, quan điểm xét xử của Tòa án các cấp lại chưa thống nhất. Có thể xem xét qua vụ việc sau: Ngày 07/7/1995, Công ty liên doanh ô tô VN D (Công ty D) đã ký Hợp đồng mua bán số VID-TNC/95702 bán xe ô tô theo phương thức trả chậm cho Công ty TNHH xây dựng, giao thông, thương mại T (Công ty T). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên phát sinh tranh chấp và khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố H. Trong đó, Công ty D yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do Công ty T khi ký hợp đồng chưa có chức năng kinh doanh vận tải hành khách. Đối với việc giải quyết vụ án trên, có hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng, hợp đồng nói trên bị vô hiệu do Công ty T đã ký hợp đồng mua bán hàng hóa vượt quá phạm vi đăng ký kinh doanh. Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10/01/2002, Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên hợp đồng vô hiệu toàn bộ, trong đó có lý do: “Vào thời điểm hai bên ký hợp đồng thì Công ty T chưa có chức năng mua bán xe ô tô, ngày 08/7/1995, mới bổ sung chức năng mua bán xe ô tô; ngày 17/10/1995, mới bổ sung chức năng vận chuyển hành khách bằng xe taxi. Như vậy, đến ngày ký hợp đồng thì Công ty T chưa đăng ký kinh doanh vận chuyển hành khách bằng xe taxi thì việc mua bán xe này là chưa hợp pháp”. Quan điểm thứ hai cho rằng, hợp đồng nói trên không bị vô hiệu vì cho đến thời điểm thực hiện hợp đồng, Công ty T đã bổ sung đăng ký kinh doanh phù hợp với đối tượng hợp đồng mua bán. Tòa án xét xử giám đốc thẩm đồng tình với quan điểm này và cho rằng hợp đồng không bị vô hiệu bằng Quyết định giám đốc thẩm số 03/2003/HĐTP-KT ngày 24/02/2003[3].

Với vụ việc trên, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Tại thời điểm ký hợp đồng, Công ty T không có đăng ký kinh doanh phù hợp nhưng Công ty T đã làm thủ tục bổ sung kịp thời và không làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hợp đồng. Trên thực tế, nếu theo quan điểm thứ nhất thì rất dễ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lợi dụng tuyên bố hợp đồng vô hiệu để thoái thác trách nhiệm thực hiện hợp đồng (có thể do hàng hóa tăng giá so với thời điểm ký kết hợp đồng cũ, doanh nghiệp muốn chấm dứt hợp đồng đã ký để tìm đối tác trả giá cao hơn).

- Giai đoạn từ năm 2005 đến nay (khi Luật Thương mại năm 2005 thay thế Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989), các quy định về hợp đồng vô hiệu do không có đăng ký kinh doanh cũng bị hủy bỏ theo. Hiện nay, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được áp dụng thống nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 hay Bộ luật Dân sự năm 2015 đều không có quy định tương tự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 như đã đề cập ở trên. Vấn đề được đặt ra là, theo Bộ luật Dân sự năm 2015, một hợp đồng được giao kết, trong đó “một trong các bên không có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật” thì hợp đồng có bị coi là vô hiệu hay không? Luật Thương mại năm 2005 cũng chưa có quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 khẳng định, một trong những hành vi bị cấm của thương nhân là hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký hoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Có thể suy luận rằng, nếu doanh nghiệp thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa mà không có đăng ký kinh doanh thì hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu do chủ thể giao kết hợp đồng không có đủ năng lực theo yêu cầu luật định. Trường hợp phức tạp hơn là doanh nghiệp đã có đăng ký doanh nghiệp nhưng đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa không nằm trong nội dung đăng ký kinh doanh ở thời điểm giao kết hợp đồng, vậy hợp đồng đã giao kết có vô hiệu không? Ví dụ, thương nhân giao kết hợp đồng bán xăng dầu nhưng trong đăng ký kinh doanh không có mã ngành nghề kinh doanh 46613 - Bán buôn xăng dầu và các sản phẩm liên quan. Vậy, hợp đồng được giao kết nhưng không nằm trong đăng ký kinh doanh có bị vô hiệu không? Đây là vấn đề không chỉ xuất hiện trong pháp luật Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào quy định về đăng ký kinh doanh đều phải xử lý tình huống này[4].

2.2. Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết do nhầm lẫn sẽ bị coi là vô hiệu. Nhầm lẫn trong khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc các bên thể hiện không chính xác mục đích khi xác lập hợp đồng[5]. Tuy nhiên, trong thực tiễn, một số trường hợp Tòa án kết luận có nhầm lẫn nhưng phân tích kỹ lưỡng thì kết luận về sự có tồn tại hay không “nhầm lẫn” có thể khác[6]. Có thể xem xét thông qua ví dụ cụ thể[7] sau: Ngày 27/12/2014, ba bên là Công ty S, Công ty N và Công ty A ký Hợp đồng mua bán tài sản số 03.12.14/HĐMB-SG (Hợp đồng 03) và Phụ lục hợp đồng mua bán tài sản số 03.12.14/HĐMB-SG/PL-01 (Phụ lục hợp đồng 03). Sau khi mua máy, Công ty S phát hiện hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc nhưng Công ty N lại đưa ra thông tin là hàng hóa có xuất xứ Nhật Bản. Do đó, Công ty S khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng 03, Phụ lục hợp đồng 03 vô hiệu do lừa dối và xác định lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu thuộc về Công ty N.

Đối với vụ việc này, còn có những quan điểm khác nhau về nguyên nhân làm hợp đồng vô hiệu là nhầm lẫn hay lừa dối. Theo đó, thực tiễn xét xử cũng có hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng, Hợp đồng 03 vô hiệu do Công ty S bị nhầm lẫn về xuất xứ hàng hóa. Từ thực tiễn xét xử cho thấy, Tòa án nhân dân Q3, tỉnh H đang đồng tình với quan điểm này. Tại Bản án sơ thẩm số 439/2016/KDTM-ST ngày 19/4/2016, Tòa án nhân dân Q3, tỉnh H quyết định: Tuyên bố Hợp đồng 03 và Phụ lục hợp đồng 03 cùng ngày 27/12/2014 giữa Công ty S, Công ty N, Công ty A bị vô hiệu do nhầm lẫn. Lý do nhầm lẫn hay các tình tiết chứng minh sự nhầm lẫn thì trong bản án không chỉ rõ. Quan điểm thứ hai cho rằng, Hợp đồng 03 vô hiệu do lừa dối. Quan điểm này được Tòa án nhân dân cấp cao tỉnh H đồng tình thông qua Quyết định giám đốc thẩm số 49/2020/KDTM-GĐT ngày 06/11/2020, trong đó, xác định Hợp đồng 038, Hợp đồng 03 và Phụ lục hợp đồng 03 đều vô hiệu do lừa dối[8]. Tuy nhiên, dấu hiệu lừa dối hoặc các tình tiết chứng minh bên bán đã lừa dối thì nội dung Quyết định này cũng chưa thể hiện rõ ràng.

Qua hai quan điểm trên, tác giả nhận thấy rằng, cùng là tình tiết “bên bán đưa ra thông tin không đúng về xuất xứ hàng hóa” nhưng quan điểm xét xử của các Tòa án chưa có sự thống nhất. Có Tòa án nhận định đó là dấu hiệu của lừa dối, có Tòa án lại nhận định đó là sự nhầm lẫn nhưng không giải thích rõ tại sao lại là lừa dối hoặc nhầm lẫn. Như vậy, việc hai Tòa án xét xử có quan điểm khác nhau về “hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn” hay “hợp đồng vô hiệu do lừa dối” đã đặt ra vấn đề cần giải thích rõ ràng về cách hiểu “nhầm lẫn” và “lừa dối”.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hiện nay, quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa được điều chỉnh bởi Luật Thương mại năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Hai đạo luật này được ban hành cách khá xa nhau, do đó, một số quy định của Luật Thương mại năm 2005 đã không còn phù hợp và cần phải thay thế kịp thời. Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng cần tiếp tục quy định rõ ràng hơn về hợp đồng nói chung để bảo đảm sự áp dụng pháp luật được minh bạch, thống nhất giữa các cơ quan xét xử. Chỉ khi cả hai đạo luật đồng thời có sự sửa đổi, bổ sung thì những vấn đề bất cập về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa mới có thể được khắc phục. Theo đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này như sau:

Thứ nhất, Luật Thương mại năm 2005 cần sửa đổi khái niệm về thương nhân, theo đó, bỏ đăng ký kinh doanh là điều kiện để nhận diện thương nhân. Thời gian qua, ở nước ta, có số lượng lớn người kinh doanh hàng “xách tay”, bán hàng online không cần cửa hàng kinh doanh với mức thu nhập rất cao vì không phải nộp thuế, không mất chi phí đầu tư cơ sở kinh doanh[9]. Tuy không đăng ký kinh doanh nhưng họ vẫn đang tiến hành các hoạt động thương mại có lợi nhuận. Do đó, sử dụng tiêu chí “đăng ký kinh doanh” để nhận diện thương nhân không còn thực phù hợp với bối cảnh hiện nay.

Chế định thương nhân được một số nước trên thế giới quy định đều dựa trên những tiêu chí đơn giản, đi sâu vào bản chất khái niệm. Pháp luật các nước thường xác định điều kiện trở thành thương nhân dựa trên yếu tố cơ bản nhất là thực hiện hoạt động thương mại. Theo tác giả, định nghĩa về thương nhân nên quy định như sau: “Thương nhân là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên”. Thương nhân bao gồm thương nhân đăng ký kinh doanh và thương nhân thực tế. Thương nhân thực tế là các tổ chức, cá nhân có hoạt động thương mại nhưng không đăng ký kinh doanh. Đây cũng là quan điểm được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận như Đức, Pháp. Pháp luật Pháp không đưa tiêu chí để trở thành thương nhân phải đăng ký kinh doanh mà chỉ áp dụng tiêu chí thương nhân là người thực hiện hoạt động thương mại thường xuyên hoặc thể hiện dưới các hình thức công ty thương mại[10]. Tương tự, Bộ luật Thương mại Đức năm 1897 cũng nhìn nhận rằng, thương nhân theo nghĩa của Bộ luật này là người tiến hành một hoạt động kinh doanh thương mại; thương nhân được phân loại thành: Thương nhân đương nhiên và thương nhân do đăng ký vào danh bạ thương mại[11]. Thương nhân đương nhiên là những chủ thể tiến hành hoạt động thương mại như một nghề nghiệp, thường xuyên, liên tục và độc lập, tìm kiếm lợi nhuận. Họ không bắt buộc phải có đăng ký kinh doanh nhưng vẫn tiến hành các hoạt động thương mại hợp pháp. Cách quy định như vậy nhằm giảm tải các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh không cần thiết. Đây cũng là một quan điểm tiến bộ, phù hợp với Việt Nam trong bối cảnh hướng tới một nền hành chính đơn giản, gọn nhẹ và thuận lợi.

Thứ hai, quy định rõ ràng về thuật ngữ “nhầm lẫn” trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong ví dụ cụ thể nêu trên, có thể thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có nhầm lẫn nhưng không lý giải tại sao đó là nhầm lẫn. Bởi vì, Bộ luật Dân sự năm 2015 là đạo luật gốc quy định hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn nhưng không có định nghĩa “nhầm lẫn” nên Tòa án cũng chỉ có thể xác định các chủ thể đã “nhầm lẫn” mà không đưa ra được dấu hiệu nhầm lẫn. Theo Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015, tiêu chí có hay không đạt được mục đích của giao dịch dân sự để xác định nhầm lẫn là điều kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Tuy nhiên, thực tế có phải trong mọi trường hợp, khi một hoặc các bên của giao dịch không đạt được mục đích của giao dịch thì đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và không có ngoại lệ cho trường hợp này[12]? Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Khảo cứu pháp luật một số quốc gia trên thế giới, tác giả thấy rằng, không nên xác định chỉ căn cứ vào mục đích của giao dịch có đạt được hay không để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Theo Điều 1130 Bộ luật Dân sự Pháp, thì nhầm lẫn, lừa dối, cưỡng ép chỉ bị coi là căn cứ vô hiệu hợp đồng khi nó mang tính quyết định dẫn đến việc ký hợp đồng[13]. Tức là, nếu không bị tác động bởi những yếu tố đó thì một bên đã không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng nhưng với những nội dung khác. Còn trường hợp một bên bị nhầm lẫn, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép nhưng nếu đó không phải lý do quyết định cho việc ký kết hợp đồng thì không bị coi là căn cứ hủy hợp đồng. Theo Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 2008, hợp đồng ký kết do bị nhầm lẫn nghiêm trọng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi có yêu cầu của bên bị nhầm lẫn[14]. Nhầm lẫn nghiêm trọng là nhầm lẫn liên quan đến bản chất của hợp đồng hoặc liên quan đến những đặc tính của đối tượng làm giảm khả năng sử dụng của chúng theo mục đích. Nhầm lẫn liên quan đến động cơ của giao dịch không được coi là có ý nghĩa pháp lý quan trọng. Do đó, hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn nhưng hậu quả pháp lý sẽ khác nhau phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của sự nhầm lẫn. Đây là những nội dung mà Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể tham khảo để hoàn thiện các quy định về hợp đồng vô hiệu nói chung và hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn nói riêng./.

ThS. Vũ Thị Hòa Như

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán của Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội.

[2]. Phan Huy Hồng (2005), “Bàn về năng lực pháp luật của pháp nhân kinh doanh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2005, tr. 54 - 59.

[3]. https://thegioiluat.vn/an-le/quyet-dinh-03-2003-hdtp-kt-vu-an-tranh-chap-hop-dong-mua-ban-xe-o-to-tra-cham-30/.

[4]. GS. TS. Đỗ Văn Đại, “Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án”, tập 2, Nxb. Hồng Đức, 2023, tr. 44.

[5]. Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. Đỗ Văn Đại, “Nhầm lẫn trong chế định hợp đồng: Những bất cập và hướng sửa đổi Bộ luật Dân sự”, vibonline.com.vn.

[7]. Hà An, “Kỳ án tranh chấp hợp đồng mua máy in kéo dài 8 năm: Tạm ngừng phiên tòa để giám định máy”, https://congan.com.vn/song-theo-phap-luat/hoan-phien-toa-de-giam-dinh-may_154151.html.

[8]. https://congbobanan.toaan.gov.vn/5ta1194236t1cvn/Saigonbook_congbo.pdf.

[9]. TS. Trần Thị Bảo Ánh & TS. Nguyễn Thị Yến, “Đánh giá quy định của Luật Thương mại năm 2005 về thương nhân và hoạt động thương mại”, Hội thảo “Luật Thương mại năm 2005 - Thực tiễn thi hành và yêu cầu sửa đổi trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2021, tr. 6.

[10]. TS. Nguyễn Thị Dung, “Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 684.

[11]. Lê Thị Lợi, “Tổng quan về pháp luật thương mại Cộng hòa Liên bang Đức”, Tạp chí Luật học, số 9/2011.

[12]. Trịnh Tuấn Anh, “Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn - Thực trạng và hướng hoàn thiện”, https://tapchitoaan.vn/hop-dong-vo-hieu-do-nham-lan-thuc-trang-va-huong-hoan-thien.

[13]. ThS. Nguyễn Huy Hoàng Nam, “Pháp luật một số quốc gia về hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý”, Hội thảo “Hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tháng 11/2022, tr. 34.

[14]. Điều 157 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 2008, https://www.wto.org/english/thewto_e/acc_e/rus_e/wtaccrus58_leg_360.pdf.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.
Lịch trình pháp lý cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Lịch trình pháp lý cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là sự kiện chính trị trọng đại, được tiến hành theo trình tự chặt chẽ, bảo đảm dân chủ, bình đẳng và đúng pháp luật. Trong tiến trình ấy, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (Luật Bầu cử) quy định cụ thể các mốc thời gian thực hiện. Đây vừa là cơ sở bảo đảm tính logic, vừa là căn cứ cho sự minh bạch và thống nhất trong toàn bộ quy trình. Lịch trình pháp lý được xác định trên cơ sở ngày bầu cử đã được ấn định cho mỗi kỳ bầu cử.
Dấu mốc quan trọng tạo lập khung pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa

Dấu mốc quan trọng tạo lập khung pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa

Ngày 09/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Nghị quyết được ban hành đánh dấu bước đi quan trọng tạo khung khổ pháp lý để quản lý, kiểm soát chặt chẽ, minh bạch hóa thị trường tài sản mã hóa, hướng tới định hình thị trường tài sản số.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: Cần kịp thời hoàn thiện và tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: Cần kịp thời hoàn thiện và tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 22/01/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế nhất định, đòi hỏi phải kịp thời hoàn thiện chính sách pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
14 trường hợp được miễn học phí từ năm học 2025-2026

14 trường hợp được miễn học phí từ năm học 2025-2026

Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý trong chính sách miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập của Chính phủ.
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở HÀ TĨNH THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI TỪ THỰC TIỄN

HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở HÀ TĨNH THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI TỪ THỰC TIỄN

Trợ giúp pháp lý là chính sách nhân văn sâu sắc, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội, người có công với cách mạng. Đồng thời, đây cũng là công cụ quan trọng nhằm bảo đảm công lý, để mọi người dân đều được tiếp cận pháp luật bình đẳng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Theo dõi chúng tôi trên: